đánh giá sáng kiến của cộng đồng trong quản lý rừng đầu nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện bá thước, tỉnh thanh hóa - Pdf 23


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

Thái Nguyên - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
**********


Đề tài “Đánh giá sáng kiến của cộng đồng trong quản lý rừng đầu
nguồn nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Bá Thước, tỉnh
Thanh Hóa" được hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Thị Thu
Hà, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Trong quá trình hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được sự
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS. Trần Thị Thu Hà. Tác giả xin bày tỏ
lòng biết ơn và kính trọng đến TS. Trần Thị Thu Hà đã giúp đỡ tác giả
nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn đến tập thể các thầy cô trong
Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã chỉ dạy, tạo
điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập và hoàn thành đề tài.
Tác giả cũng xin cảm ơn UBND tỉnh Thanh Hóa, UBND huyện Bá
Thước và UBND các xã nghiên cứu trong huyện Bá Thước đã tạo điều
kiện và giúp đỡ tác giả trong thời gian thực địa và hoàn thành luận văn.
Tác giả xin cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã tận tình giúp đỡ, động
viên trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Học Viên

Trương Quốc Long

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH v

2.2.2. Lao động 30
2.2.3. Mối liên hệ giữa dân số và quản lý rừng đầu nguồn 32
Chƣơng 3. MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 34
3.1. Mục tiêu nghiên cứu 34
3.2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 34
3.3. Nội dung nghiên cứu 34
3.4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu 35
3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp 35
3.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp 35
3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu 37
Chƣơng 4. KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 38
4.1. Hiện trạng rừng đầu nguồn Sông Mã 38
4.1.1. Hiện trạng các loại rừng tại khu vực đầu nguồn Sông Mã 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii

4.1.2. Hiện trạng khai thác rừng tại khu vực đầu nguồn Sông Mã 40
4.1.3. Hiện trạng quản lý rừng đầu nguồn tại khu vực đầu nguồn Sông
Mã 45
4.2. Tình hình rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu ở Bá Thƣớc 48
4.2.1. Các vấn đề về rủi ro thiên tai do ảnh hưởng biến đổi khí hậu tại
địa phương 48
4.2.2. Xu hướng thay đổi, tần suất của các sự kiện rủi ro thiên tai, biến
đổi khí hậu tại địa phương 52
4.2.3. Kênh tiếp cận thông tin về rủi ro thiên tai, biến đổi khí hậu tại địa
phương 53
4.2.4. Những cách thức thích ứng của người dân địa phương để giảm
nhẹ tác động của rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu 54

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Thông tin cơ bản cụm xã trung tâm huyện Bá Thƣớc năm 2010 29
Bảng 4.1: Hiện trạng các loại rừng ở cụm xã trung tâm huyện Bá Thƣớc 39
Bảng 4.2: Hiện trạng khai thác rừng của cụm xã trung tâm Huyện Bá Thƣớc
42
Bảng 4.3: Sản lƣợng khai thác lâm sản khu vực cụm xã trung tâm 46
Bảng 4.4: Lâm sản tịch thu từ các vụ vi phạm năm 2010 47
Bảng 4.5: Các vấn đề rủi ro về thiên tai tại Bá Thƣớc, Thanh Hóa 48

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1. Mô hình kinh điển về mối quan hệ giữa Kinh tế - Môi trƣờng - Xã
hội 10
Hình 2.1: Biểu đồ thành phần dân tộc cụm xã trung tâm huyện Bá Thƣớc 29
Hình 2.2. Cơ cấu lao động theo ngành của cụm xã trung tâm huyện Bá Thƣớc
31
Hình 4.1: Kết cấu mô hình trồng rừng đầu nguồn 67

Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu
KN-KL:
Khuyến nông – khuyến lâm
KT-XH:
Kinh tế - Xã hội
PCCCR:
Phòng cháy chữa cháy rừng
PRA:
Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBV:
Quản lý bảo vệ
QLBVR:
Quản lý bảo vệ rừng
REDD:
Giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính gây ra do
mất rừng và suy thoái rừng
RTN:
Rừng tự nhiên
SRES:
Khí nhà kính
TNTN:
Tài nguyên thiên nhiên
TTCN:
Tiểu thủ công nghiệp
UBND:
Ủy ban nhân dân
UNDP:
Chƣơng trình Phát triển Liên Hợp Quốc
UNFCC:
Công ƣớc Khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu

Thứ hai, tầm quan trọng của rừng đầu nguồn đối với an ninh sinh kế là
rất rõ ràng vì hai phần ba dân số Việt Nam vẫn dựa vào nguồn nƣớc mƣa để
canh tác nông nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng lúa nƣớc. Phần lớn nguồn
cung cấp nƣớc cho sản xuất nông nghiệp là từ vùng rừng núi hoặc từ hai lƣu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2

vực sông lớn là sông Hồng và sông Mê Kông. Nguồn nƣớc từ đồi núi do
khoảng 2400 sông suối cung cấp và dung lƣợng nƣớc bề mặt là 255 tỉ m
3
(Đinh Đức Thuận, 2005) [36]. Cho đến tận cuối những năm 80 thì vấn đề các
nguồn nƣớc vẫn ít đƣợc con ngƣời quan tâm. Các vấn đề về số lƣợng, chất
lƣợng và quản lý nƣớc ít khi đƣợc đề cập đến trong các diễn đàn thảo luận về
chính sách. Ngày nay chính phủ đang rất quan tâm đến việc thiếu nƣớc và suy
thoái môi trƣờng. Với cách nhìn nhận về vai trò của rừng đầu nguồn nhƣ
nguồn cung cấp nƣớc chính, hiện nay vấn đề suy thoái đất và rừng do vai trò
to lớn của cây trong việc giữ nƣớc và chống xói mòn rửa trôi đang là một
trong những vấn đề đƣợc chính phủ quan tâm. Những vấn đề này là hậu quả
của những tác động tiêu cực của con ngƣời đặc biệt là việc phá rừng làm giảm
khả năng giữ nƣớc ở thƣợng nguồn, làm tăng dòng chảy bề mặt và do đó gây
ra lũ lụt, phù sa lấp làm hƣ hỏng các công trình thủy lợi và đập nƣớc, đất đai
bị suy thoái do xói mòn rửa trôi…vv.
Thứ ba, mặc dù chính phủ Việt Nam khẳng định về tầm quan trọng của
việc quản lý lƣu vực đầu nguồn, tuy nhiên các chƣơng trình và chính sách
hiện tại mới chỉ tập trung vào bảo vệ rừng tại những vùng đầu nguồn, trong
khi vẫn chƣa có một cách tiếp cận toàn diện hơn trong đó mối quan tâm, nhu
cầu và lợi ích của ngƣời dân địa phƣơng phải cần đƣợc ƣu tiên hàng đầu. Hiện
tại, các giải pháp đƣợc lựa chọn chỉ đơn thuần là tăng độ che phủ rừng ở đầu
nguồn, trong khi có rất ít sự tham gia của những ngƣời dân mà cuộc sống của

doanh khu vực tập trung nƣớc. Vậy quản lý là để phát huy tối đa hiệu ích sinh
thái, kinh tế và xã hội của tài nguyên nƣớc trong đất mà lấy lƣu vực làm đối
tƣợng, trên cơ sở quy hoạch toàn diện, sắp xếp hợp lý phù hợp với các ngành
sử dụng đất vào mục đích nông lâm, áp dụng biện pháp thích hợp thiết lập và
bố trí các đối sách quản lý tổng hợp, từ đó tiến hành bảo vệ lợi dụng hợp lí
đối với tài nguyên nƣớc. Quản lý tài nguyên nƣớc vùng núi trên thực tế là giữ
gìn nguồn nƣớc và đất ở vùng đồi núi.
Ở Châu Âu quản lý lƣu vực bắt nguồn từ sửa chữa đất vùng núi. Do
dân số tập trung lớn nhất tại vùng núi, tình trạng thoái hóa đất, sụt lở đất ngày
càng diễn ra nghiêm trọng, con ngƣời đã coi việc sửa chữa đất vùng núi với
đối tƣợng là lƣu vực. Đồng thời, không ngƣng tăng thêm nhu cầu tài nguyên
nƣớc, lợi dụng đa mục tiêu về tài nguyên thiên nhiên vùng núi cùng với việc
phát triển nông nghiệp vùng núi điều này cũng yêu cầu ngƣời dân coi trọng
bảo vệ môi trƣờng tự nhiên vùng núi, đặc biệt là bảo vệ cải tiến và lợi dụng
hợp lý tài nguyên nƣớc.
Sau thời kỳ phục hƣng văn hóa Châu Âu, xung quanh việc tàn phá rừng
bừa bãi tại các khu vực miền núi dẫn đến việc hoang phí đất, các nƣớc đã
quản lý lƣu vực suôi vùng núi với việc khôi phục rừng làm trung tâm.
Ở Châu Mỹ công tác quản lý lƣu vực sớm nhất đầu tiên phải kể đến
nƣớc Mỹ. Năm 1930 Mỹ xây dựng cơ quan quản lý lƣu vực đầu tiên là cục

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5

quản lý lƣu vực … Là một môn khoa học, quan điểm về quản lý lƣu vực ở
nƣớc Mỹ là do một nhà thủy văn rừng đƣa ra vào niên đại 40 của thế kỷ 20.
Họ cho rằng, chỉ có thể dùng phƣơng pháp tổng hợp mới có thể cải thiện đực
tính chất của nƣớc và tình trạng thủy văn của khu vực này. Họp kiến nghị
rằng cần kết hợp giữa việc cải thiện tình trạng thủy văn và phòng trừ sụt lở đất
đá với việc lợi dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên nhƣ nƣớc đất và cây

còn hỗ trợ tiền cho công tác quản lý lƣu vực, trong đó một số nƣớc đã đƣợc
hỗ trợ nhƣ: Thái Lan, Pakitan, Ấn Độ, Trung Quốc, … Việt Nam cũng đã
từng nhận đƣợc hỗ trợ từ quỹ FAO về quản lý lƣu vực.
Việt Nam, Trung Quốc là những nƣớc có diện tích vùng đồi núi chiếm
2/3 diện tích toàn quốc. Toàn quốc diện tích rửa trôi bề mặt ở vùng đồi núi lên
đến hàng triệu ha. Đất ở lƣu vực vùng núi do canh tác không hợp lý cùng với
nạn tàn phá rừng, xói mòn diễn ra nghiêm trọng, tầng đất canh tác mỏng, đất
thoái hóa, môi trƣờng sinh thái thoái hóa, sản lƣợng cây trồng thấp và không
ổn định. Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đặc biệt là sau khi đất nƣớc hoàn
toàn thống nhất Đảng và chính phủ đã coi trọng việc quản lý lƣu vực vùng
núi, coi việc quản lý lƣu vực là cƣơng lĩnh lãnh đạo dân khu vực xóa đói giảm
nghèo, là chính sách và đói sách quan trọng nhằm nâng cao đời sống của
ngƣời dân địa phƣơng. Những lƣu vực vùng núi đã qua quản lý, điều kiện môi
trƣờng đƣợc cải thiện, lợi nhuận kinh tế của nhân dân đƣợc tăng cao, giảm xói
mòn, rửa trôi đất, sản lƣợng lƣơng thực đƣợc tăng cao rõ rệt, hệ kinh tế sinh
thái lƣu vực phát triển và tuần hoàn theo hƣớng ngày càng tốt đẹp. Một số mô
hình cũng đƣợc giải thƣởng cấp nhà nƣớc, đồng thời cũng đƣợc tổ chức FAO
và các chuyên gia nức ngoài đánh giá cao. Những năm gần đây nhà nƣớc
cũng đã đề ra chƣơng trình “quản lý lƣu vực tổng hợp” và cũng đạt đƣợc một
số lý luận cơ bản về quản lý lƣu vực tổng hợp (Trần Thị Thu Hà, 2010)[10].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7

1.1.2. Ở Việt Nam
Liên quan đến quản lý lƣu vực đầu nguồn ở Việt Nam các văn bản của
nhà nƣớc đã quy định "lƣu vực rừng đầu nguồn" đƣợc định nghĩa nhƣ một
loại rừng phòng hộ và "quản lý lƣu vực" đƣợc hiểu nhƣ là "bảo vệ rừng trong
vùng lƣu vực" (Bộ NN&PTNT, 2005) [2].
Do tầm quan trọng của độ che phủ rừng trong lƣu vực, Luật Bảo vệ và

vững của những can thiệp mà còn không giải quyết đƣợc những nguyên nhân
sâu xa của việc suy giảm rừng và nguồn nƣớc.
1.2. Cơ sở lý luận về rừng đầu nguồn
1.2.1. Cơ sở lý luậ n về Phát triển bền vững
1.2.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện trong một vài thập niên
gần đây. Năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng Thế giới về Môi trƣờng và
Phát triển, khái niệm phát triển bền vững mới đƣợc sử dụng một cách chính
thức trên quy mô quốc tế và đƣợc định nghĩa nhƣ sau: "Phát triển bền vững là
sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở
ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau". Hay nói cách khác
phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi
trƣờng ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng sống của con
ngƣời (Nguyễn Hữu Tăng & nnk, 2003)[19].
Phát triển bền vững là cách thức phát triển hợp lý mà đa số các quốc
gia hiện nay đang quan tâm. Theo Uỷ ban Thế giới về môi trƣờng và phát
triển (WCED) năm 1987: Phát triển bền vững là sự phát triển sử dụng tài
nguyên thiên nhiên, điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của
các thế hệ con người đang sống, nhưng lại phải đảm bảo cho cá thế hệ tương
lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể sống tốt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9

hơn ngày hôm nay (Nguyễn Đình Hòe, 2006) [13]. Tóm lại phát triển bền
vững là cải thiện chất lƣợng sống của con ngƣời trong khả năng chịu đựng
của các hệ sinh thái.
Trên cơ sở của các định nghĩa trên, cả hai vấn đề công bằng giữa các
thế hệ và sự công bằng trong cùng một thế hệ phải đƣợc thoả mãn trƣớc khi
bất cứ một xã hội nào có thể đạt đƣợc mục tiêu phát triển bền vững. Phát triển

Xã hội
(Nguồn: Lưu Đức Hải, 2002) [11].
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể đƣợc đánh giá bằng
những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và chất lƣợng môi trƣờng.
Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu
tăng trƣởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trƣởng
kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa
học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.
Bền vững về xã hội đó là phải xây dựng một xã hội trong có nền kinh tế
tăng trƣởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã
hội, trong đó giáo dục, đào tạo, y tế và phúc lợi xã hội phải đƣợc chăm lo đầy
đủ và toàn diện cho mọi đối tƣợng trong xã hội. Tính bền vững về mặt xã hội
là một câu hỏi đặc biệt liên quan đến các nhóm dân tộc thiểu số. Trong số các
nhóm này, hiện đang có các dạng khác nhau của kiến thức bản địa liên quan
đến việc sử dụng và bảo vệ rừng, một số có thể đƣợc coi là “truyền thống”,
trong khi một số dạng khác có thể đƣợc coi là mới. Việc thực hiện hệ thống
quản lý rừng cộng đồng sẽ phải quan tâm đến các dạng kiến thức này nhằm
đảm bảo tính bền vững về mặt xã hội của các mô hình quản lý mới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11

Bền vững về môi trường là các dạng tài nguyên thiên nhiên tái tạo đƣợc
phải đƣợc sử dụng trong phạm vi chịu tải của chúng nhằm khôi phục đƣợc cả
về số lƣợng và chất lƣợng, các dạng tài nguyên không tái tạo phải đƣợc sử
dụng tiết kiệm và hợp lý nhất. Môi trƣờng tự nhiên (không khí, đất, nƣớc,
cảnh quan thiên nhiên ) và môi trƣờng xã hội (dân số, chất lƣợng dân số, sức
khỏe, môi trƣờng sống, lao động và học tập của con ngƣời ) nhìn chung
không bị các hoạt động của con ngƣời làm ô nhiễm, suy thoái và tổn hại. Các

(9) Xây dựng khối liên minh toàn cầu.
1.2.2. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu
1.2.2.1. Khái quát về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (viết tắt là BĐKH), mà biểu hiện chính là sự nóng lên
toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối
với nhân loại trong thế kỷ 21. Thiên tai và các hiện tƣợng khí hậu cực đoan
khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nƣớc biển
trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chƣa từng có và đang là mối lo ngại
của các quốc gia trên thế giới.
BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trƣờng
trên phạm vi toàn thế giới: đến 2080 sản lƣợng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%,
giá sẽ tăng 13-45%, tỷ lệ dân số bị ảnh hƣởng của nạn đói chiếm 36-50%;
mực nƣớc biển dâng cao gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nƣớc, ảnh
hƣởng đến nông nghiệp, và gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và các hệ thống
Kinh tế - Xã hội ( KT-XH) trong tƣơng lai. Các công trình hạ tầng đƣợc thiết
kế theo các tiêu chuẩn hiện tại sẽ khó an toàn và cung cấp đầy đủ các dịch vụ
trong tƣơng lai.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13

Ớ Việt Nam, trong khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng
khoảng 0.5 đến 0,7
o
C, mực nƣớc biển đã dâng khoảng 20cm. Hiện tƣợng El-
Nino, La-Nina ngày càng tác động mạnh mẽ đến Việt Nam. BĐKH thực sự đã
làm cho các thiên tai, đặc biệt là bão, lũ, hạn hán ngày càng ác liệt. Theo tính
toán nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể tăng lên 3
o
C và mực nƣớc biển có

Khái quát về BĐKH toàn cầu
Nhiệt độ trung bình của Trái đất hiện nay đã tăng 0,74
0
C so với năm
1850 và dự kiến có thể tăng đến 1,4 – 6,4
0
C vào năm 2100, cao nhất trong
khoảng 10.000 năm qua. Lƣợng mƣa tăng khoảng 5-10%. Hậu quả là các
băng ở hai cực, ở các dãy núi cao, sẽ tan ra và làm mực nƣớc biển dâng lên.
Các hiện tƣơng cực đoan của khí hậu/ thiên tai nhƣ sóng thần, bão, lũ,
hạn hán sẽ xẩy ra vời cƣờng độ, tần xuất và độ bất thƣờng cao hơn.
Ứng dụng các kịch bản phải thải khí nhà kính (SRES) vào các mô hình
khí hậu toàn cầu cho thấy, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất có thể đạt
16,2
0
C ở mức thấp nhất đến 17,4 - 17,8
0
C ở mức cao nhất vào năm 2100
(IPCC, 2001).
Theo IPCC (2007), nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu sẽ tăng 2,0 -
4,5
0
C vào năm 2100 so với thời kỳ tiền công nghiệp (1750), tƣơng ứng với
mức tăng nhiệt độ nói trên, mực nƣớc biển trung bình toàn cầu sẽ tăng 0,18 -
0,59m vào thời kỳ 2090 - 2099 so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 (IPCC,
2007) [14].
Khái quát về BĐKH ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích khoảng 32.931, 4 km
2
năm trên bán đảo Đông

C và cao hơn thập
kỷ 1991-2000: 0,4-0,5
0
C.
- Lượng mưa. Trên từng địa điểm, xu thế biến đổi của lƣợng mƣa trung
bình năm trong 9 thập kỷ vừa qua (1991-2000) không rõ rệt theo các thời kỳ
và trên các vùng khác nhau: có giai đoạn tăng lên và có giai đoạn giảm xuống.
- Mực nước biển. Theo số liệu quan trắc trong khoảng 50 năm qua ở
các trạm Cửa Ông và Hòn Dấu, mực nƣớc biển trung bình đã tăng lên khoảng
20cm, phù hợp với xu thế chung của toàn cầu.
- Số đợt không khí lạnh ảnh hƣởng tới Việt Nam giảm đi rõ rệt trong
hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21). Năm 1994 và năm 2007
chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trƣờng
hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị
thƣờng (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994,

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16

12/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện dị thƣờng gần đây nhất về khí hậu
trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo
dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất
nông nghiệp.
- Bão. Vào những năm gần đây, số cơn bão có cƣờng độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc
muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thƣờng hơn.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
1981-1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây [7].
1.2.2.2. Tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Đối với lâm nghiệp:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status