ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
**********
Trương Quốc Long
ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN
LÝ RỪNG ĐẦU NGUỒN NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN BÁ THƯỚC,
TỈNH THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Thái Nguyên - 2011
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
**********
Trương Quốc Long
ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN CỦA CỘNG ĐỒNG TRONG QUẢN
LÝ RỪNG ĐẦU NGUỒN NHẰM THÍCH ỨNG VỚI BIẾN
ĐỔI KHÍ HẬU TẠI HUYỆN BÁ THƯỚC,
TỈNH THANH HÓA
CHUYÊN NGÀNH LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
2.1. Điều kiện tự nhiên................................................................................. 24
2.1.1. Vị trí địa lý.................................................................................... 24
2.1.2. Khí hậu ......................................................................................... 25
2.1.3. Địa hình ........................................................................................ 26
2.1.4. Điều kiện đất đai .......................................................................... 27
2.1.5. Thủy văn ....................................................................................... 28
2.2. Điều kiện kinh tế xã hội ........................................................................ 28
2.2.1. Dân số........................................................................................... 28
2.2.2. Lao động ....................................................................................... 30
2.2.3. Mối liên hệ giữa dân số và quản lý rừng đầu nguồn ................... 32
Chương 3. MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ................................................................................................ 34
3.1.
Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................... 34
3.2.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ..................................................... 34
3.3.
Nội dung nghiên cứu ......................................................................... 34
3.4.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................ 35
3.4.1. Thu thập số liệu thứ cấp ............................................................... 35
3.4.2. Thu thập số liệu sơ cấp ................................................................ 35
Các chương trình, chính sách trong quản lý rừng đầu nguồn của
huyện Bá Thước ........................................................................................... 56
4.3.1. Chính sách quản lý rừng đầu nguồn ............................................ 56
4.3.2. Chương trình giảm nhẹ rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu ........ 57
4.4.
Các mô hình do sáng kiến của cộng đồng ......................................... 58
4.4.1. Lập kế hoạch thông qua việc xây dựng bức tranh tương lai ....... 58
4.4.2. Sáng kiến quản lý, bảo vệ và chia sẻ lợi ích công bằng nguồn tài
nguyên thiên nhiên trong vùng ................................................................ 64
iii
4.4.3. Mô hình trồng rừng đa loài các loài cây bản địa trên đất trống,
đất rừng tái sinh nghèo kiệt kết hợp với canh tác bền vững trên đất dốc ..
...................................................................................................... 66
4.5.
Cơ sở lý luận cho các mô hình quản lý rừng đầu nguồn có sự tham
gia
........................................................................................................... 68
4.6.
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1. Mô hình kinh điển về mối quan hệ giữa Kinh tế - Môi trường - Xã
hội .................................................................................................................... 10
Hình 2.1: Biểu đồ thành phần dân tộc cụm xã trung tâm huyện Bá Thước.... 29
Hình 2.2. Cơ cấu lao động theo ngành của cụm xã trung tâm huyện Bá Thước
......................................................................................................................... 31
Hình 4.1: Kết cấu mô hình trồng rừng đầu nguồn ......................................... 67
Hình 4.2: Phương thức trồng rừng hỗn giao ở khu vực đầu nguồn ................ 68
DANH MỤC ẢNH
Ảnh 4.1: Thảo luận về hiện trạng của lưu vực .............................................. 59
Ảnh 4.2: Trình bày về bức tranh tương lai của lưu vực ................................. 61
Ảnh 4.3: Lập kế hoạch quản lý lưu vực ......................................................... 61
Ảnh 4.4: Trình bày kế hoạch quản lý lưu vực ............................................... 63
v
CHỮ VIẾT TẮT
Bộ NN&PTNT:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
BĐKH:
Biến đổi khí hậu
BQL:
Ban quản lý
Phòng cháy chữa cháy rừng
PRA:
Đánh giá nông thôn có sự tham gia
QLBV:
Quản lý bảo vệ
QLBVR:
Quản lý bảo vệ rừng
REDD:
Giảm thiểu phát thải khí gây hiệu ứng nhà kính gây ra do
mất rừng và suy thoái rừng
RTN:
Rừng tự nhiên
SRES:
Khí nhà kính
TNTN:
Trong bối cảnh quốc gia hiện nay có thể thấy được ba xu hướng. Thứ
nhất, mặc dù Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong xóa đói giảm nghèo
trong thập kỷ qua, tuy nhiên các nhóm dân tộc thiểu số vẫn còn gặp nhiều khó
khăn và được hưởng ít từ việc giảm nghèo đó. Kể từ khi thực hiện chính sách
đổi mới theo định hướng thị trường (1986), GDP hàng năm tăng hơn 7%. Nếu
căn cứ vào tiêu chuẩn đói nghèo của Tổng cục Thống kê sử dụng trong điều
tra mức sống ở Việt nam, cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, 11% dân
số vẫn thuộc diện nghèo. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, rất
nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm không phản ánh thực chất vì số
người nghèo trong xã hội không giảm, thậm chí còn tăng do tác động của lạm
phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay) và do là suy giảm
kinh tế. Hơn nữa tỉ lệ đói nghèo ở vùng sâu vùng xa nơi mà chủ yếu là đồng
bào thiếu số sinh sống cao hơn rất nhiều. Hơn thế nữa, sự khác biệt, chênh
lệch giữa miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị, đặc biệt là
trong các nhóm dân tộc thiểu số ngày càng tăng lên trong những năm gần
đây. Trong khi ở thành thị không còn hộ đói thì ở nông thôn vẫn còn 40%
đồng bào dân tộc thiểu số thuộc diện hộ đói. Báo cáo Phát triển Việt Nam
năm 2004 dự báo rằng nếu xu hướng hiện tại còn tiếp diễn thì đến năm 2015
trên hai phần ba số người sống trong nghèo đói sẽ là đồng bào dân tộc thiểu
số, chiếm 14% dân số cả nước.
Thứ hai, tầm quan trọng của rừng đầu nguồn đối với an ninh sinh kế là
rất rõ ràng vì hai phần ba dân số Việt Nam vẫn dựa vào nguồn nước mưa để
canh tác nông nghiệp, trong đó chủ yếu là trồng lúa nước. Phần lớn nguồn
cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp là từ vùng rừng núi hoặc từ hai lưu
1
vực sông lớn là sông Hồng và sông Mê Kông. Nguồn nước từ đồi núi do
khoảng 2400 sông suối cung cấp và dung lượng nước bề mặt là 255 tỉ m3
biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của ngưòi dân vùng cao.
Để tự cứu lấy chính họ, các cộng đồng này đã có những sáng kiến trong việc
quản lý rừng đầu nguồn nhằm thích ứng với sự biến đổi bất lợi của thiên
nhiên để duy trì cuộc sống của chính họ. Tuy nhiên chưa có hoặc rất ít nghiên
cứu quan tâm đến vấn đề này. Xuất phát từ yêu cầu đó, tôi tiến hành thực hiện
đề tài "Đánh giá sáng kiến của cộng đồng trong quản lý rừng đầu nguồn
nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu tại huyện Bá Thước, tỉnh Thanh
Hóa” .
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Quản lý rừng đầu nguồn
1.1.1. Trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rừng đầu nguồn được hiểu ở phạm vi rộng hơn
đó là quản lý lưu vực. Quản lý lưu vực còn gọi là kinh doanh lưu vực, kinh
doanh khu vực tập trung nước. Vậy quản lý là để phát huy tối đa hiệu ích sinh
thái, kinh tế và xã hội của tài nguyên nước trong đất mà lấy lưu vực làm đối
tượng, trên cơ sở quy hoạch toàn diện, sắp xếp hợp lý phù hợp với các ngành
sử dụng đất vào mục đích nông lâm, áp dụng biện pháp thích hợp thiết lập và
bố trí các đối sách quản lý tổng hợp, từ đó tiến hành bảo vệ lợi dụng hợp lí
đối với tài nguyên nước. Quản lý tài nguyên nước vùng núi trên thực tế là giữ
gìn nguồn nước và đất ở vùng đồi núi.
Ở Châu Âu quản lý lưu vực bắt nguồn từ sửa chữa đất vùng núi. Do
dân số tập trung lớn nhất tại vùng núi, tình trạng thoái hóa đất, sụt lở đất ngày
càng diễn ra nghiêm trọng, con người đã coi việc sửa chữa đất vùng núi với
đối tượng là lưu vực. Đồng thời, không ngưng tăng thêm nhu cầu tài nguyên
nước, lợi dụng đa mục tiêu về tài nguyên thiên nhiên vùng núi cùng với việc
Trong những nước đang phát triển thì lợi ích từ vùng đồi núi với người
dân còn nhiều. Nông nghiệp du mục đang trên đà phát triển, còn thiếu khuyết
nhận thức cơ bản về bảo vệ nguồn nước, lợi dụng rừng không hợp lý và vấn
đề thoái hóa lưu vực vùng núi ở các nhà nước diễn ra nghiêm trọng. Chính
phủ các nước đã chú ý và tăng cường quản lý lưu vực ở vùng núi với nội dung
như sau: Một số nhà nước trước đây chỉ chú ý đến hạ du mà không chú ý tới
thượng du: cũng có nhiều nhà nước tuy rằng đã đưa ra luật bảo vệ rừng
nguyên sinh trong lưu vực. cấm chặt phá và lửa rừng, nhưng cũng không mấy
hiệu quả: môt số nhà nước như Thái Lan, Zamaika, Indonexia dùng phương
5
pháp hõ trợ người dân qua nông lâm kết hợp để bảo vệ và quản lý vực. Chính
phủ của không ít nhà nước đã thiết lập các cơ quan quản lý lưu vực trong các
ban ngành lâm nghiệp, xúc tiến công tác quản lý lưu vực, như Thái Lan, Ấn
Độ, Thổ Nhĩ Kỳ …. Tổ chức Nông Lương liên hiệp quốc (FAO) ngoài việc tổ
chức bồi dưỡng kỹ thuật về quản lý lưu vực cho các nhà nước đang phát triển,
còn hỗ trợ tiền cho công tác quản lý lưu vực, trong đó một số nước đã được
hỗ trợ như: Thái Lan, Pakitan, Ấn Độ, Trung Quốc, … Việt Nam cũng đã
từng nhận được hỗ trợ từ quỹ FAO về quản lý lưu vực.
Việt Nam, Trung Quốc là những nước có diện tích vùng đồi núi chiếm
2/3 diện tích toàn quốc. Toàn quốc diện tích rửa trôi bề mặt ở vùng đồi núi lên
đến hàng triệu ha. Đất ở lưu vực vùng núi do canh tác không hợp lý cùng với
nạn tàn phá rừng, xói mòn diễn ra nghiêm trọng, tầng đất canh tác mỏng, đất
thoái hóa, môi trường sinh thái thoái hóa, sản lượng cây trồng thấp và không
ổn định. Từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, đặc biệt là sau khi đất nước hoàn
toàn thống nhất Đảng và chính phủ đã coi trọng việc quản lý lưu vực vùng
núi, coi việc quản lý lưu vực là cương lĩnh lãnh đạo dân khu vực xóa đói giảm
nghèo, là chính sách và đói sách quan trọng nhằm nâng cao đời sống của
được xác định dựa trên một loạt các tiêu chí như độ cao, lượng mưa, độ dốc,
độ dày tầng đất, chiều cao và có tiềm năng phát triển thành rừng.
Luật về Tài nguyên Nước (1999), cung cấp khung pháp lý cụ thể đối
với quản lý nước. Luật này đề cập đến một phương thức “quản lý lưu vực
sông” trong đó hướng đến việc điều phối tất cả các bên liên quan trong phạm
vi lưu vực, giữa các tỉnh và xuyên quốc gia. Mặc dù không đề cập cụ thế đến
lưu vực và việc quản lý lưu vực, tuy nhiên Chiến lược Quốc gia về Tài
nguyên Nước đến năm 2020 đã đặt ra mục tiêu là "bảo vệ, khai thác và phát
7
triển tài nguyên nước quốc gia hiệu quả", bao gồm tất cả các hệ sinh thái dưới
nước.
Việt Nam, trong những năm qua các hoạt động quản lý lưu vực trước
đây là trồng rừng phòng hộ đầu nguồn. Tuy nhiên, trong đó rất ít hoặc là
không chú ý đến những người dân sống trong khu vực và sinh kế của họ. Điều
này đã tạo ra tác động tiêu cực gấp đôi bởi không những làm giảm tính bền
vững của những can thiệp mà còn không giải quyết được những nguyên nhân
sâu xa của việc suy giảm rừng và nguồn nước.
1.2. Cơ sở lý luận về rừng đầu nguồn
1.2.1. Cơ sở lý luận về Phát triển bền vững
1.2.1.1. Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là khái niệm mới xuất hiện trong một vài thập niên
gần đây. Năm 1987, trong báo cáo của Hội đồng Thế giới về Môi trường và
Phát triển, khái niệm phát triển bền vững mới được sử dụng một cách chính
thức trên quy mô quốc tế và được định nghĩa như sau: "Phát triển bền vững là
sự phát triển nhằm đáp ứng những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở
ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau". Hay nói cách khác
- Tạo ra các nguồn vật liệu và năng lượng mới;
- ứng dụng công nghệ sạch, công nghệ phù hợp với hoàn cảnh địa
phương;
- Tăng sản lượng lương thực, thực phẩm;
- Cấu trúc và tổ chức lại các vùng sinh thái nhân văn để phong cách và
chất lượng cuộc sống của ngươì dân đều thay đổi theo hướng tích cực.
Có khá nhiều mô hình phát triển bền vững, đã được đề xuất. Tuy nhiên,
sơ đồ kinh điển mô hình phát triển bền vững thường được đề cập như là sự
dung hoà giữa ba lĩnh vực : Kinh tế - Môi trường - Xã hội (Hình 1.1)
9
Kinh tế
Xã hội
Môi trường
Hình 1.1: Mô hình kinh điển về mối quan hệ giữa Kinh tế - Môi trường Xã hội
(Nguồn: Lưu Đức Hải, 2002) [11].
Nội dung cơ bản của phát triển bền vững có thể được đánh giá bằng
những tiêu chí nhất định về kinh tế, tình trạng xã hội, sử dụng tài nguyên
thiên nhiên và chất lượng môi trường.
Bền vững về kinh tế đòi hỏi phải đảm bảo kết hợp hài hòa giữa mục tiêu
tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá - xã hội, cân đối tốc độ tăng trưởng
kinh tế với việc sử dụng các điều kiện nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, khoa
học, công nghệ, đặc biệt chú trọng phát triển công nghệ sạch.
Bền vững về xã hội đó là phải xây dựng một xã hội trong có nền kinh tế
tăng trưởng nhanh và ổn định phải đi đôi với dân chủ công bằng và tiến bộ xã
hội có nền kinh tế và môi trường bền vững (Nguyễn Hữu Tăng & nnk,
2003)[19].
Để xây dựng một xă hội phát triển bền vững, các nhà môi trường đa đề
ra 9 nguyên tắc:
(1) Tôn trọng và quan tâm đến đời sống cộng đồng
(2) Cải thiện chất lượng cuộc sống con người
(3) Bảo vệ sức sống và tính đa dạng trên Trái Đất
11
(4) Giảm đến mức thấp nhất sự khánh kiệt nguồn tài nguyên không tái
tạo
(5) Tôn trọng khả năng chịu đựng của trái đất
(6) Thay đổi thái độ và hành vi cá nhân
(7) Giúp cho các cộng đồng có khả năng tự giữ gìn môi trường của
mình
(8) Đưa ra một khuôn mẫu quốc gia cho sự phát triển tổng hợp và bảo
vệ
(9) Xây dựng khối liên minh toàn cầu.
1.2.2. Cơ sở lý luận về biến đổi khí hậu
1.2.2.1. Khái quát về biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu (viết tắt là BĐKH), mà biểu hiện chính là sự nóng lên
toàn cầu và mực nước biển dâng, là một trong những thách thức lớn nhất đối
với nhân loại trong thế kỷ 21. Thiên tai và các hiện tượng khí hậu cực đoan
khác đang gia tăng ở hầu hết các nơi trên thế giới, nhiệt độ và mực nước biển
trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại
của các quốc gia trên thế giới.
BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống và môi trường
trên phạm vi toàn thế giới: đến 2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4%,
các vùng đồng bằng và dải ven biển.
Nhận thức rõ ảnh hưởng của BĐKH, Chính phủ Việt Nam đã sớm tham
gia và phê chuẩn Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH và Nghị
định thư Kyoto. Nhiều Bộ, ngành, địa phương đã triển khai các chương trình,
dự án nghiên cứu tình hình diễn biến và tác động của BĐKH đến tài nguyên,
môi trường, sự phát triển KT-XH, đề xuất và bước đầu thực hiện các giải
13
pháp ứng phó.Tuy vậy, những cố gắng nói trên là chưa đủ để đảm bảo ứng
phó có hiệu quả với những tác động trước mắt và tiềm tàng của BĐKH.
Khái quát về BĐKH toàn cầu
Nhiệt độ trung bình của Trái đất hiện nay đã tăng 0,740C so với năm
1850 và dự kiến có thể tăng đến 1,4 – 6,40C vào năm 2100, cao nhất trong
khoảng 10.000 năm qua. Lượng mưa tăng khoảng 5-10%. Hậu quả là các
băng ở hai cực, ở các dãy núi cao, sẽ tan ra và làm mực nước biển dâng lên.
Các hiện tương cực đoan của khí hậu/ thiên tai như sóng thần, bão, lũ,
hạn hán sẽ xẩy ra vời cường độ, tần xuất và độ bất thường cao hơn.
Ứng dụng các kịch bản phải thải khí nhà kính (SRES) vào các mô hình
khí hậu toàn cầu cho thấy, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất có thể đạt
16,20C ở mức thấp nhất đến 17,4 - 17,80C ở mức cao nhất vào năm 2100
(IPCC, 2001).
Theo IPCC (2007), nhiệt độ trung bình bề mặt toàn cầu sẽ tăng 2,0 4,50C vào năm 2100 so với thời kỳ tiền công nghiệp (1750), tương ứng với
mức tăng nhiệt độ nói trên, mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tăng 0,18 0,59m vào thời kỳ 2090 - 2099 so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999 (IPCC,
2007) [14].
Khái quát về BĐKH ở Việt Nam
Việt Nam với diện tích khoảng 32.931, 4 km2 năm trên bán đảo Đông
dương trong vùng nhiệt đới gió mùa. Với lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ độ từ
phía Bắc xuống phía Nam với hơn 3.260 km bờ biển, Việt Nam có sự đa dạng
hai thập kỷ gần đây (cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21). Năm 1994 và năm 2007
chỉ có 15-16 đợt không khí lạnh bằng 56% trung bình nhiều năm. 6/7 trường
hợp có số đợt không khí lạnh trong mỗi tháng mùa đông (XI - III) thấp dị
thường (0-1 đợt) cũng rơi vào 2 thập kỷ gần đây (3/1990, 1/1993, 2/1994,
15
12/1994, 2/1997, 11/1997). Một biểu hiện dị thường gần đây nhất về khí hậu
trong bối cảnh BĐKH toàn cầu là đợt không khí lạnh gây rét đậm, rét hại kéo
dài 38 ngày trong tháng 1 và tháng 2 năm 2008 gây thiệt hại lớn cho sản xuất
nông nghiệp.
- Bão. Vào những năm gần đây, số cơn bão có cường độ mạnh nhiều
hơn, quỹ đạo bão dịch chuyển dần về các vĩ độ phía nam và mùa bão kết thúc
muộn hơn, nhiều cơn bão có quỹ đạo di chuyển dị thường hơn.
- Số ngày mưa phùn trung bình năm ở Hà Nội giảm dần trong thập kỷ
1981-1990 và chỉ còn gần một nửa (15 ngày/năm) trong 10 năm gần đây [7].
1.2.2.2. Tác động và hậu quả của biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Đối với lâm nghiệp:
Sự biến động của thời tiết Việt Nam có liên quan và ảnh hưởng trực
tiếp đến rừng và nghề rừng. Có thể nêu ra hai khía cạnh quan trọng nói lên
mối tương tác giữa biến đổi khí hậu và lâm nghiệp.
Thứ nhất, sự phát triển chưa bền vững của rừng và nghề rừng lại đã và
đang góp phần làm tăng thêm tính cực đoan của khí hậu thời tiết Việt Nam.
Mất rừng làm tăng 15% phát thải khí nhà kính trên toàn cầu. Mất rừng, suy
thoái rừng và chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp ước tính làm phát
thải 19,38 triệu tấn CO2, chiếm 18,7 % tổng lượng khí phát thải ở Việt Nam
(Vietnam Initial NatCom, 2003) (Bộ Tài Nguyên và Môi tường, 2008) [7].
Nhiều kết quả nghiên cứu đã cho thấy trong mùa khô độ ẩm của đất ở các
vùng không có cây che phủ chỉ bằng 1/3 so với độ ẩm của đất ở những nơi có