BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAM
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI MIỀN NAM
Hội thảo
:
Tham vấn định hướng chiến lược phát
triển bền vững Đồng Bằng Sông Cửu
Long trong bối cảnh BĐKH
Ngày 30/4/2012
Tham gia thực hiện
:
PGS.TS. Tăng Đ
ứ
c Th
ắ
ng
NCS.Ths Tô Quang Toản
KS. Dương Xuân Minh
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 4 NĂM 2012
MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN THỦY LỢI
ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG NHẰM THÍCH
ỨNG VỚI BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
BÁO CÁO THAM LUẬN
VIỆN KHOA HỌC THUỶ LỢI MIỀN NAM
658 VÕ VĂN KIỆT - QUẬN 5 – T.P HỒ CHÍ MINH
ĐT: 08.3923 8320 FAX: 08.3923 5028
WEBSITE:
WWW.SIWRR.ORG.VN
2
I. TỔNG QUAN
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cuả Việt Nam, nằm ở cuối nguồn Lưu Vực Sông Mê Công
(LVSMC), v
ới tổng diện tích tự nhiên vào khoảng 4 triệu ha, phía Bắc giáp Cam-pu-chia, phía
Đông và phía Tây bao bọc bởi biển với hơn 700 km đường bờ. Địa hình khá bằng phẳng và thấp,
cao độ bình quân là +1m+MSL. Bị ảnh hưởng của thuỷ triều và xâm nhập mặn hàng năm với
diện tích nhiễm mặn lên tới 1,7 triệu ha, ĐBSCL còn bị lũ lụt hàng năm, diện tích bị ngập lũ lên
t
ới ½ diện tích toàn đồng bằng, mức ngập lũ từ 1 ÷ 4 m và thời gian ngập từ 1 đến 6 tháng.
Lũ và xâm nhập mặn theo mùa hàng năm là những vấn đề khó tránh khỏi, do địa hình thấp trũng
chỉ trên dưới +1m, trong khi dao động thuỷ triều lớn, ở biển Đông từ -2,1 đến +1,7 m và biển
Tây là -0,4 đến 1,1 m, lưu lượng nước về mùa kiệt nhỏ, khoảng 2.000 m
3
/s vào tháng 4 làm ảnh
hưởng của thuỷ triều
mặn vào sâu trong nội đồng. Lưu lượng mùa lũ lại rất lớn, lưu lượng lũ
max lên tới 67.000 m
3
/s (năm 1939) tại Kratie, gây ra ngập lụt ở hạ lưu, diện tích ngập chiếm
hơn
50% của ĐBSCL.
ĐBSCL với dân số hơn 17,3 triệu dân, chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp, đóng một vai trò
quan tr
ọng đối với nền kinh tế của cả nước, đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực, cây trái
và thủy sản, góp phần quan trọng vào chương trình an ninh lương thực quốc gia, tuy nhiên đang
đứng trước những nguy cơ
thách thức lớn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững do biến
đổi khí hậu
– nước biển dâng bên cạnh mối lo ngại tiềm tàng là suy giảm dòng chảy đến do
2020 2030 2040 2050 2060 2070 2080 2090 2100
Thấp (B1)
8-9 11-13 17-19 22-26 28-34 34-42 40-50 46-59 51-66
Trung bình (B2)
8-9 12-14 17-20 23-27 30-35 37-44 44-54 51-64 59-75
Cao (A1FI)
8-9 13-14 19-21 26-30 35-41 45-53 56-68 68-83 79-99
Ghi chú : so với thời kì 1980-1999
ĐBSCL đã và đang bị tác động do BĐKH, liên tục những năm gần đây từ sau 2005, triều cường
được coi l
à lớn nhất trong lịch sử 47-50 năm qua, thường xuất hiện vào cuối tháng 10 đầu tháng
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
3
11 đến tháng 1 năm sau, gây ngập lụt ở các đô thị như Tp HCM, Cần Thơ, Tân An, Bạc Liêu,
B
ến Tre và Sóc Trăng, gây thiệt hại về hoa màu, cây ăn trái Mật độ các cơn bão ảnh hưởng vào
khu v
ực ĐBSCL cũng gia tăng cả về số lượng và cường độ, đặc biệt bão LINDA 1997, Durian
2006, bão 2008 và g
ần đây nhất là bão Pakhar 1/4/2012. Diễn biến lũ thất thường, xa dần với
những quy luật thịnh hành trước đây, như liên tục các năm lũ lớn từ 2000 đến 2002, các năm hạn
điển h
ình 1998 và 2005 làm XNM vào rất sâu nội đồng. Nắng nóng bất thường xuất hiện sớm
như đợt 24/3/09 (35
-37
0
c) với tần suất trở lại khoảng 20 năm; lạnh bất thường như cuối năm
1999 đầu 2000, nhiệt độ xuống đến 16-17
0
c; mưa bất thường xuất hiện sớm như đợt 7/3/09 với
.
Nhu C
ầu Nước (NCN) bình quân ứng với điều kiện phát triển năm 2000 ở thượng lưu theo [2] là
kho
ảng, 670 m
3
/s, NCN ứng với kịch bản phát triển nông nghiệp ở mức thấp khoảng 952 m
3
/s và
nhu c
ầu nước ứng với kịch bản phát triển nông nghiệp ở mức độ cao là 1.411 m
3
/s. Như vậy
NCN có thể tăng gấp 3 lần về mùa khô trong kịch bản phát triển nông nghiệp cao, đây là mối
đáng lo ngại cho sự ổn định phát triển nông nghiệp ở ĐBSCL. Nghi
ên cứu cũng chỉ ra rằng, với
mức gia tăng khai thác như vậy sẽ có tác động đáng kể đến môi trường sinh thái trên lưu vực
cũng như chất lượng nước về hạ lưu.
T
hay đổi lưu lượng tại Kratie theo các kịch bản phát triển ở thượng lưu [3] cho thấy, trong hầu
hết các trường hợp, trong điều kiện vận hành bình thường các công trình thủy điện, lưu lượng
trung bình các tháng mùa kiệt ứng có xu hướng gia tăng 400 - 800 m
3
/s và lưu lượng trung bình
mùa l
ũ có xu hướng giảm 1000 - 2000 m
3
/s. Đáng chú ý hơn cả là gia tăng phát triển nông
nghi
ệp cao không có thủy điện có thể làm giảm lưu lượng về mùa kiệt khoảng 600 m
Ghi chú
1
HT00
Điều kiện phát triển năm 2000:
(Nông nghiệp và thủy điện)
2000
Làm cơ sở so sánh –
hi
ện trạng ngập lũ
2
HT00+NBD50
Điều kiện phát triển 2000 và nước
bi
ển dâng 50 cm – NBD50
2000
Tác động NBD 50 cm
đến lũ
3
HT00+NBD1m
Điều kiện phát triển 2000 và nước
bi
ển dâng 100 cm – NBD100
2000
Tác động NBD 100 cm
đến lũ
4
HT05
Điều kiện phát triển năm 2005 2005
So sánh – hi
ện trạng
Thứ
tự
So sánh thay đổi diện tích ngập theo
các kịch bản
Diện tích ngập
HT2000
(ha)
Diện tích
ngập theo
kịch bản (ha)
Di
ện tích
thay đổi tăng
so với Hiện
trạng (ha)
1
Di
ện tích ngập nông 50 cm, NBD
50cm
2.300.000 3.390.000
+1.090.900
2
Di
ện tích ngập nông 50 cm, NBD
100cm
2.300.000 3.774.300
+1.474.300
3
Di
ện tích ngập hơn sâu 1m kéo dài
.2
Gia tăng
di
ệ
n tích ng
ậ
p
Hng
ậ
p
>50cm
NBD100cm so với lũ 2000
H1.3 Gia tăng diện tích ngập, H ngập>100cm + thời đoạn
hơn 1 tháng - NBD50cm so với lũ 2000
H1.4
Gia tăng diện tích ngập, Hngập>100cm + thời đoạn hơn
1 tháng – NBD100cm so với lũ 2000
Kết quả mô phỏng cho thấy tác động có thể do Biến đổi khí hậu – nước biển dâng đến ĐBSCL là
r
ất lớn, chẳng hạn trong điều kiện thủy văn như năm 2000 có xét đến ảnh hưởng nước biển dâng
theo các kịch bản NBD50 cm và NBD100 cm là:
-
84% diện tích đồng bằng có thể bị ngập với mức ngập hơn 50cm trong kịch bản NBD50 cm
và 96% ở NBD100 cm so với hiện trạng là 50% diện tích ĐBSCL - Diện tích ngập nông có
thể tăng đáng kể do tác động nước biển dâng 50 cm và 100 cm, tăng 1,1-1,5 triệu ha (xem
hình 1.1 và 1.2);
-
36% diện tích có thể ngập sâu hơn 1m và kéo dài hơn 1 tháng trong kịch bản NBD50cm và
68% ở NBD100cm so với hiện trạng là 28% diện tích ĐBSCL - Diện tích ngập sâu > 1 m
kéo dài > 1 tháng tăng 0,34 – 1,6 triệu ha so với hiện trạng (xem hình 1.3 và 1.4).
<50% thời
gian
>50% thời
gian
<50% thời
gian
>50% thời
gian
5 NBD1m
28 41 26 22 19 62
4
NBD75
34 21 19 10 29 38
3
NBD50
25 9 14 3 27 17
2
NBD30
17 1 8 1 22 7
1 HT05
8
2
12
69% diện tích đồng bằng có thể bị ngập do triều trong kịch bản nước biển dâng 1m, trong đó
diện tích ngập sâu (>1m) chiếm đến 41% diện tích, hơn thế nữa thời gian bị ngập sâu và thường
xuyên (>50% thời gian) có đến 22% diện tích; Diện tích ngập thường xuyên hơn 0.5m chiếm
62% diện tích. Như vậy có thể thấy 22% diện tích bị ngập thường xuyên có thể bị ảnh hưởng rất
nghiêm trọng và 40% diện tích khác bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu không có giải pháp bảo vệ.
Trong nước biển dâng 50 cm, 34% diện tích có thể bị ảnh hưởng, trong đó ngập sâu chiếm 9%,
3% diện tích bị ngập sâu thường xuyên; 17% diện tích có thể bị ngập thường xuyên hơn 0.5 m.
1.643.473 132.516 50.404
3
Di
ện tích ảnh hưởng xâm nhập
mặn 1g/l trong NBD 100cm
2.463.792 463.924 16.368
4
Di
ện tích ảnh hưởng xâm nhập
mặn 4g/l trong NBD 100cm
1.835.756 331.168 56.972
Ghi chú: diện tích tăng giảm so với diện tích tự nhiên (bao gồm cả lúa và cây trồng khác)
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
8
H
3
.1:
Gia tăng di
ệ
n tích m
ặ
n 1g/l
trong KB
NBD50cm so với HT2005
H
3
.2:
Gia tăng di
ệ
n tích
- M
ặn ảnh hưởng ngay từ những tháng đầu năm với NBD100cm đã có thể gây nhiễm mặn như
điều kiện
lớn nhất hiện nay và kết thúc chậm hơn đến 2 tháng so với hiện trạng.
- Xâm nhập mặn có thể ảnh hưởng lớn hơn nhiều nếu gặp điều kiện thủy văn hạn trên lưu vực
và mưa đến trễ trên đồng bằng
.
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
9
IV. TÁC ĐỘNG BĐKH ĐẾN CÁC LĨNH VỰC Ở ĐBSCL
IV.1. Tác động đến môi trường và đa dạng sinh học
Trong điều kiện BĐKH và NBD, sự gia tăng về nền nhiệt độ, mưa và bão bất thường, tình hình
l
ũ, hạn và mặn sẽ có diễn biến phức tạp, sự gia tăng diện tích, mức độ và thời đoạn ngập và xâm
nh
ập mặn làm ảnh hưởng lớn đến thay đổi các điều kiện tự nhiên và các nguồn tài nguyên trên
đồng bằng vùng ven biển và các vùng ngập lũ. Các thay đổi về đất: đất ngập nước, đất phèn, xói
l
ở bờ sông, bờ biển; về nước: thay đổi về số lượng và chất lượng nước cũng như các diễn biến
theo thời gian và không gian. Ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và đa dạng sinh học, sự gia
tăng dịch bệnh và sâu bệnh, làm ảnh hưởng đến các lĩnh vực và đời sống.
IV.2. Tác động sản suất nông nghiệp, an ninh lương thực và thủy sản
Diện tích ngập lũ (bảng 3), mức ngập và thời gian ngập gia tăng, chẳng hạn như với mức ngập
sâu hơn 50cm, diện tích ngập có khả năng tăng 1,1 triệu ha ở kịch bản NBD 50 cm v
à 1,5 triệu
ha ở Kịch bản nước biển dâng 100cm, điều đó có nghĩa là sẽ làm ảnh hưởng đến sản xuất nông
nghiệp ở các vùng gia tăng này cũng như vùng ngập lũ hiện tại do ngập lụt đến sớm hơn và lũ rút
chậm hơn từ 0.5 đến 1 tháng.
Hình 4.1 th
ể hiện ảnh hưởng có thể của lũ trong các kịch bản nước biển dâng đến các loại hình
nếu không có giải pháp bảo vệ
và cấp nước tưới cho các vùng
này.
Hình 4.2 :
Ảnh hưởng đến loại hình sử dụng đất vùng ven biển
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
10
Kéo theo các ảnh hưởng đến diện tích, thời vụ và cơ cấu cây trồng do ảnh hưởng biến đổi khí
hậu là ảnh hưởng đến giảm năng suất và gia tăng tính rủi ro do điều kiện cấp nước và tiêu nước
bị hạn chế hơn. Tổng hợp các yếu tố trên có thể nhận định sơ bộ, diện tích lúa canh tác cả năm
có thể giảm 0,5-1,0 triệu ha trong kịch bản NBD100cm và giả thiết giảm năng xuất là 8% thì sản
lượng lương thực của ĐBSCL có thể giảm 20
-30% so với hiện tại, tương đương với sản lượng
lương thực giảm 3,6
-5,7 triệu tấn, như vậy có thể làm ảnh hưởng đến an ninh lương thực của
quốc gia nếu không có giải pháp phù hợp.
ĐBSCL có diện tích nuôi trồng thủy sản đứng đầu cả nước cả về thủy sản nước mặn, lợ và ngọt,
v
ới tổng diện tích hơn 753 nghìn ha. Trong điều kiện biến đổi khí hậu và nước biển dâng, sự thay
đổi về diện tích ngập cũng như xâm nhập mặn có thể
ít làm ảnh hưởng trực tiếp đến diện tích
nuôi trồng hiện hữu. Tuy nhiên, các thay đổi về nhiệt độ, gia tăng dịch bệnh và ô nhiễm môi
trường
có thể làm ảnh hưởng trực tiếp đến lĩnh vực nuôi trồng thủy sản.
IV.3. Tác động đến ngập lụt các đô thị
Biến đổi khí hậu – nước biển dâng làm mực nước trung bình trong hệ thống dâng cao, mực nước
đỉnh
và mực nước chân triều đều cao, gây ngập lụt ở các đô thị. Thực tế cho thấy, ngập triều đã
và đang là những vấn đề nổi cộm ở hầu hết các khu đô thị ở ĐBSCL như Cần Thơ, Vĩnh Long,
Long Xuyên, Cà Mau, Tân An và Mỹ Tho. Mực nước triều cao làm khó khăn cho tiêu thoát khi
thể gây ngập mà còn làm ảnh hưởng đến nền địa chất công trình của các công trình, do bị mực
nước ngầm nằm cao thường xuy
ên trong khi kết cấu hạ tầng các công trình cũ chưa đáp ứng, đặc
biệt là các tuyến giao thông cấp tỉnh, huyện, xã. Tương tự, các công trình công cộng, các khu dân
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
11
cư vượt lũ, cấp nước… đều chưa tính đến các yếu tố biến đổi khí hậu đều có thể bị ảnh hưởng do
gia tăng xói lở và ngập lụt.
Không ch
ỉ trong Đồng bằng, dải ven biển cũng đang xảy ra xói lở mạnh mẽ và diễn biến phức
tạp, đặc biệt là ven biển Cà Mau (cả biển Đông và biển Tây). Nhiều đoạn đê biển đã bị phá vỡ,
ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Tác động thượng lưu, đặc biệt l
à suy giảm
phù sa về đồng bằng và ven biển, cùng với những thay đổi hải văn, thời tiết đã làm cho dải ven
biển biến động theo chiền hướng ngày càng xấu hơn.
Vấn đề cấp nước cho các vùng ven biển là đáng quan tâm khi mà mặn sẽ xuất hiện sớm hơn và
kéo dài hơn trong điều kiện BĐKH
-NBD, Thời gian ảnh hưởng xâm nhập mặn đến các cửa lấy
nước
sẽ kéo dài hơn làm cho khả năng chủ động cấp nước cho các vùng ven biển như Gò Công,
B
ến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau trở lên khó khăn hơn, không chỉ cấp nước
nông nghiệp mà ngay cả nước sinh hoạt và nước phục vụ các nghành kinh tế khác, làm ảnh
hưởng đến ổn định phát triển kinh tế ở các v
ùng ven biển và chất lượng cuộc sống vùng ven
bi
ển.
H5.1: Hàng cây chắn sóng và bê tông mái (TL843, 23/9/2011)
H5.2: Xói lở mặc dù có bê-tông lát mái và cây chắn sóng
(TL843, 23/9/2011)
n M
Ỏ
NRE
)
IV.5. Tác động đến đời sống người dân nông thôn
Biến đổi khí hậu – nước biển dâng sẽ làm biến đổi lớn điều kiện sinh hoạt cũng như tập quán sản
xuất của người dân vùng ĐBSCL. Canh tác lúa sẽ khó khăn hơn, lúa sẽ giảm cả về diện tích lẫn
mùa vụ, chi phí cao và rủi ro lớn nếu không có các giải pháp thích ứng, thu nhập người dân bị
giảm. Các yêu cầu sản xuất đòi hỏi tính cộng đồng cao hơn, chẳng hạn việc bơm tiêu để xuống
giống sớm sẽ không hiệu quả ở qui mô nhỏ, việc xả thải ô nhiễm trong điều kiện tiêu thoát khó
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
12
khăn sẽ làm lây lan dịch bệnh khó kiểm soát. Chuyển đổi cơ cấu canh tác sang mô hình khác đòi
h
ỏi đầu tư lớn và rủi ro cao…
Bên cạnh đó, xu hướng di chuyển về các cụm tuyến dân cư, đô thị, các vùng được bảo vệ lũ và
nước biển dâng, gây gia tăng áp lực phát triển dân số cũng như cơ sở hạ tầng của những vùng
này. V
ấn đề cấp nước sinh hoạt ở các vùng ven biển hiện đã khó khăn lại càng khó khăn hơn.
V. GIẢI PHÁP THỦY LỢI THÍCH ỨNG VỚI BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG
Trên cơ sở phân tích các tác động có thể của biến đổi khí hậu đến thay đổi diễn biến lũ, ngập
triều và xâm nhập mặn ở ĐBSCL có thể nhận thấy phát triển thủy lợi ở ĐBSCL phải đáp ứng
được mục ti
êu chung của ngành: Phát triển thủy lợi theo định hướng hiện đại hoá, đảm bảo phục
vụ cấp nước cho sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ , đảm bảo an ninh lương
thực và phục vụ sản xuất nông nghiệp hàng hoá nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, góp phần
phát triển kinh tế xã hội bền vững, xóa đói giảm nghèo. Chủ động từng bước thích ứng với Biến
đổi khí hậu
– nước biển dâng, giữ ổn định và phát triển bền vững kinh tế - xã hội cho vùng đất
rộng lớn, giàu tiềm năng, đang và sẽ là vùng đất giữ vị trí, vai trò quan trọng nhất cho chiến lược
này khác nhau. Chính vì v
ậy,
giải pháp thủy lợi và hướng đi
cho mỗi vùng có khác nhau.
Úng phó v
ới BĐKH và đặc biệt
là nước biển dâng cần đi từ cửa
sông ven biển vào nội đồng.
H6: Phân vùng thủy lợi ĐBSCL [12]
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
13
Các giải pháp thủy lợi:
1) Tiếp tục nâng cấp các tuyến đê sông, đê biển, các hệ thống thủy lợi hiện hữu nhằm đảm bảo
chủ động nguồn nước và chất lượng nước phục vụ cho các ngành kinh tế, giảm thiểu các thiệt
hại do lũ, hạn, mặn và ngập triều gây ra.
2) T
ừng bước liên kết các dự án thủy lợi riêng rẽ như hiện nay thành những dự án lớn hơn, đáp
ứng được khả năng thích nghi với biến đổi dần của khí hậu, đặc biệ
t các dự án thủy lợi ven
biển với các dự án thủy lợi phía nội đồng, ví dụ Gò Công – Bảo Định; Dự án Ba Lai với các
dự án vùng Mỏ Cày; Dự án Nam Măng Thít với các dự án phía Bắc sông Măng Thít; Các dự
án vùng Tây sông Hậu: dự án Tiếp Nhật- Quản lộ Phụng Hiệp, đồng thời triển khai thực hiện
các giải pháp tiếp nước (chuyển nước ngọt) cho những vùng khó khăn như vùng Nam Quốc
lộ 1A Bạc Liêu, Bắc Cà Mau….
3) Phát tri
ển hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, đảm bảo an toàn cho các công trình và cơ sở hạ
tầng, đảm bảo chủ động chống ngập úng do triều cường và nước biển dâng, đảm bảo cấp
nước
sinh hoạt và nước phục vụ cho các ngành sản xuất vùng ven biển.
4) Các công trình, d
ình.
4) Xây d
ựng khung pháp lý để thiết lập các mô hình quản lý nước với qui mô lớn, không bị giới
hạn bởi ranh giới tỉnh, để chủ động hơn trong điều tiết nước, ví dụ hình thành các Ban Quản
lý
nước Nam Sông Hậu; Vĩnh Long-Trà Vinh; Tiền Giang-Long An…
Về Khoa học công nghệ thủy lợi:
1) Xây dựng chương trình nghiên cứu nhằm cung cấp đầy đủ luận cứ khoa học phục vụ cho
quản lý nước và quy hoạch tổng thể và chi tiết về thủy lợi, tăng cường năng lực công tác dự
báo thủy văn, dòng chảy và chất lượng nước;
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
14
2) Đẩy mạnh công tác ứng dụng chuyển giao công nghệ mới tiên tiến vào xây dựng công trình,
k
ết cấu công trình, vật liệu mới, công cụ quản lý và điều khiển;
3) Khoa h
ọc công nghệ thủy lợi gắn với KHCN nông nghiệp, lâm nghiệp nhằm giải quyết bài
toán t
ổng thể về kinh tế - xã hội - môi trường vùng ĐBSCL.
VI. KIẾN NGHỊ
Việt Nam với tổng dân số hơn 85 triệu người, 80% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp, vì vậy
mục tiêu đảm bảo ‘An Ninh Lương Thực’ là tối quan trọng đối với sự phát triển ổn định của đất
nước.
Trong bối cảnh áp lực gia tăng dân số, đô thị hóa công nghiệp hóa và biến đổi khí hậu, để
đảm bảo an ninh lương thực
quốc gia cần có giải pháp tổng thể, phối hợp đồng bộ giữa các cấp,
các ngành trong việc duy trì và bảo vệ diện tích canh tác hiện có, nâng cao năng suất, sản lượng,
giảm thiểu thiệt hại hay thất thoát sau thu hoạch, ổn định đời sống cho người làm nông nghiệp.
Trong đó, phát triển thủy lợi được coi l
à tiên phong trong việc duy trì và bảo vệ sản xuất nông
vật liệu mới theo hướng thân thiện với môi trường phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu
cho các công trình thủy lợi: đê, kè, bảo vệ mái, bảo vệ đê biển, cống, kênh, trạm bơm.
6) Nghiên cứu và triển khai các giải pháp cấp nước cho nông nghiệp, sinh hoạt và nước phục vụ
cho đa ngành
cho các vùng ven biển, có nguy cơ bị nhiễm mặn lâu hơn và khả năng cấp nước
khó khăn hơn
, hạn chế nguy cơ mặn hóa tầng nước ngầm và đất lún.
7) Nghiên c
ứu các giải pháp nâng cấp, bảo vệ các cơ sở hạ tầng hiện hữu, các khu đô thị, đường
giao thông, khu dân cư tập trung, nhằm thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt l
à sự gia tăng
ngập lụt và ổn định (xói lở, sụt lún) của các công trình này.
SIWRR –Một số vấn đề về phát triển thủy lợi ở ĐBSCL thích ứng với BĐKH và NBD
15
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Tăng Đức Thắng, Tô Quang Toản, 2007, Quản lý tài nguyên nước: mô hình mô phỏng
lũ, hạn và xâm nhập mặn ở ĐBSCL, Tuyển tập báo cáo NCKH của Viện Khoa học Thủy
lợi Miền Nam, đồng thời báo cáo tại hội thảo quốc tế tại Tsukuba – Nhật Bản năm 2006;
[2] Tăng Đức Thắng , Tô Quang Toản và cộng sự, 2009, Đánh giá thay đổi nhu cầu nước
điều kiện phát triển 2000 v
à theo các kịch bản phát triển ở thượng lưu;
[3] Nguyễn Quang Kim, Tô Quang Toản và cộng sự, 2009, Đánh giá thay đổi dòng chảy đến
Kratie theo các kịch bản phát triển ở thượng lưu;
[4] World Bank/MRC, 2004, Mekong Regional Water Resources Assistance Strategy,
Modelled Observations on Development Scenarios in the Lower Mekong Basin –
Đánh
giá mô hình về các phương án phát triển trên hạ lưu sông Mê Công;
[5] MRC/BDP, 2003, Agriculture and Irrigation Reviews – điểm lại thực trạng và nghiên cứu
về nông nghiệp và tưới nông nghiệp ở lưu vực sông Mê Công;