Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời nói đầu
Cùng với việc tăng trởng và phát triển mọi mặt trong nông nghiệp nhằm
đáp ứng nhu cầu về lơng thực thực phẩm thì ở nhiều nớc trên thế giới sự phát
triển thuỷ lợi đã trở thành quy mô quốc gia.
Đối với các nớc phát triển cơ sở vật chất thuỷ lợi đợc đầu t rất cao, khoảng
10.000 USD/ ha. Vì đầu t cao nh vậy nên các công trình thuỷ lợi đầu mối không
những là những công trình vững chắc về mặt kỹ thuật mà là những công trình
mỹ thuật có kiến trúc hiện đại...Do đó ở những nớc này sản xuất nông nghiệp
phát triển rõ rệt, năng suất cây trồng và vật nuôi tăng.
Tất cả các nớc Đông Nam á đều rất quan tâm đến sự nghiệp phát triển
thuỷ lợi nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết về lơng thực thực phẩm do sức ép của
sự gia tăng dân số. Những nớc này đa ra chiến lợc phát triển thuỷ lợi là đầu t
chiều sâu để phát huy hết hiệu quả của các công trình hiện có.
ở Việt Nam, trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, nông nghiệp nớc ta vẫn
phát triển với 80% dân số làm nghề nông, năm nào mất mùa thì năm ấy sự phát
triển của xã hội lại chao đảo Nông suy, bách nghệ bại. Nhng trọng tâm của
nông nghiệp là sản xuất lơng thực không thể thiếu vai trò của nớc. Nông nghiệp
Việt Nam đã tổng kết các yếu tố ảnh hởng đến năng suất lúa là Nhất nớc, nhì
phân, tam cần, tứ giống. Do vậy trong chiến tranh cũng nh trong hoà bình, khi
đất nớc gặp nhiều khó khăn công tác thuỷ lợi vẫn đợc Đảng và Nhà nớc tập
trung đầu t cùng với sự đóng góp to lớn của nhân dân nên đã đạt đợc thành tích
quan trọng, góp phần vào những chuyển biến và thành công của sản xuất nông
nghiệp, biến đổi nông thôn, phòng ngừa thiên tai, bảo đảm an toàn cho nhiều
khu vực. Cũng vì thế mà thuỷ lợi luôn đợc nhấn mạnh là biện pháp hàng đầu
trong nông nghiệp
Thấy đợc ý nghĩa quan trọng hàng đầu của thuỷ lợi đối với nông nghiệp,
Đảng và Nhà nớc ta đã đặc biệt quan tâm và đầu t nhiều vào thuỷ lợi nên đã thu đ-
ợc một số kết quả cao trong sản xuất nông nghiệp, phòng ngừa thiên tai, bảo vệ
môi trờng. Tuy nhiên trong quá trình đầu t vào thuỷ lợi ở nớc ta còn một số hạn
chế do thiếu vốn đầu t, khoa học công nghệ còn thấp. Để làm rõ hơn tình hình đầu
* Kết cấu luận văn tốt nghiệp:
Ngoài lời nói đầu, kết luận luận văn tốt nghiệp gồm 3 chơng:
- Chơng I: Những vấn đề lý luận chung về đầu t phát triển Thuỷ lợi.
- Chơng II: Thực trạng đầu t phát triển Thuỷ lợi ở nớc ta những năm
gần đây.
- Chơng III: Phơng hớng và giải pháp đầu t phát triển Thuỷ lợi
trong thời gian tới.
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Chơng I
Lý luận chung về đầu t phát triển thuỷ lợi.
I-/ Những vấn đề cơ bản về đầu t phát triển.
1-/ Khái niệm hoạt động đầu t phát triển.
1.1 Khái niệm đầu t.
Đầu t theo nghĩâ chung nhất đợc hiểu là sự bỏ ra, sự hy sinh các
nguồn lực ở hiện tại (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ) nhằm đạt đợc
những kết quả có lợi cho ngời đầu t trong tơng lai.
1.2 Khái niệm đầu t phát triển.
Đầu t phát triển là loại đầu t trong đó ngời có tiền bỏ tiền ra để tiến hành
các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế làm tăng tiềm lực sản
xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác. Là điều kiện chủ yếu để tạo việc
làm và nâng cao đời sống của mọi ngời dân trong xã hội.
1.3 Khái niệm hoạt động đầu t phát triển.
Hoạt động đầu t phát triển là quá trình sử dụng vốn đầu t nhằm tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói
chung của địa phơng ngành và của các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nói
riêng.
2-/ Vai trò của hoạt động đầu t phát triển đối với nền kinh tế.
Theo các lý thuyết kinh tế và thực tiễn đã chứng minh rằng đầu t phát triển
là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trởng của
một thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác tăng
đầu t làm cho cầu các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát
triển thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống của
ngời lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả những tác động này tạo điều kiện rất
lớn cho sự phát triển kinh tế.
Hay khi giảm đầu t thì nó cũng có tác động hai mặt đến nền kinh tế mỗi
quốc gia. Một mặt, khi giảm đầu t sản xuất của các ngành chậm phát triển do
thiếu vốn, giảm lực lợng lao động dẫn đến tình trạng thất nghiệp, đời sống của
ngời lao động cũng giảm...Mặt khác khi giảm đầu t thì giá các hàng hoá có liên
quan không tăng, thậm chí còn giảm khi đó nó giảm đợc lạm phát.
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nh trên cho thấy đầu t luôn có tác động hai mặt đến nền kinh tế, vì vậy
trên giác độ quản lý phải giảm tác động xấu, tăng tác động tích cực nhằm duy
trì đợc sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
2.1.3 Đầu t tác động đến tốc độ tăng tr ởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng tr-
ởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt 15 - 25% so với GDP tuỳ thuộc vào
ICOR mỗi nớc.
ICOR =
Mức tăng GDP =
Nếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
t.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách của mỗi nớc.
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiệu quả đầu t trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng nh phụ
thuộc vào hiệu quả của các chính sách nói chung. Thông thờng, ICOR trong
nông nghiệp thấp hơn ICOR trong công nghiệp. Do đó ở các nớc phát triển tỷ lệ
đầu t thấp thờng dẫn đến tốc độ tăng trởng thấp. Ví dụ đầu t / GDP ở Mỹ năm
trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở
giai đoạn 1 và 2. Việt Nam đang là 1 trong 90 nớc kém nhất về công nghệ. Với
trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát
triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Muốn có công nghệ thì có hai con đờng cơ bản đó là: tự nghiên cứu phát
minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài . Dù là tự nghiên cứu hay
nhập từ nớc ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu t. Mọi phơng án đổi
mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án không khả
thi.
2.2 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
2.2. 1 Đầu t quyết định sự ra đời của các cơ sở.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ nào thì phải có vốn đầu t để xây dựng nhà xởng, cấu trúc hạ
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc, tiến hành các công tác xây dựng cơ
bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ
của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa tạo ra.
Vậy một cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ muốn ra đời thì phải có vốn
đầu t vào các yếu tố cần thiết thì nó mới đi vào hoạt động.
2.2.2 Đầu t quyết định sự tồn tại của cơ sở.
Khi doanh nghiệp ra đời và đi vào hoạt động, sau một thời gian các cơ sở
vật chất kỹ thuật sẽ bị hao mòn, h hỏng,lạc hậu. Để duy trì đợc sự hoạt động
bình thờng cần phải định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật
chất kỹ thuật đã h hỏng hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện
hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của
nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang
thiết bị cũ đã lỗi thời. Để những công việc trên trở thành hiện thực thì ta phải
bỏ tiền ra để đầu t. Khi đó đồng nghĩa với sự tồn tại của các cơ sở sản xuất kinh
gia. Cụ thể Chính Phủ của các nớc đã phát động các chơng trình tới nớc với mục
tiêu chính là đảm bảo tự túc lơng thực và chơng trình đó đã đạt đợc nhiều kết
quả tốt do hệ thống thuỷ lợi phục vụ tốt. Nh vậy, trong nông nghiệp, thuỷ lợi có
thể đợc định nghĩa nh là việc sử dụng kỹ thuật của con ngời để tăng và kiểm
soát việc cung cấp nớc cho trồng trọt.
ở nớc ta cũng nh ở nhiều nớc trên thế giới, trong cơ cấu nền kinh tế quốc
dân, thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật có vị trí quan trọng. Công tác thuỷ
lợi đợc tiến hành với nhiều nội dung song có thể khái quát ở hai nội dung chính
cơ bản sau:
- Thuỷ lợi tiến hành trị thuỷ nh đắp đê, đắp đập, đào sông để chỉnh trị dòng
chảy, phòng chống lũ lụt, bão nhằm khắc phục và giảm nhẹ thiên tai.
- Thuỷ lợi tiến hành công tác thuỷ nông nh đào kênh, khơi nguồn, xây
dựng cầu, cống, mơng máng...để phục vụ sản xuất nông nghiệp phục vụ dân
sinh và các ngành kinh tế khác, cải tạo và bảo vệ môi trờng.
Với hai nội dung cơ bản trên của công tác thuỷ lợi thì thuỷ lợi đã thể hiện
vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế nếu không tiến hành trị thuỷ thì
hậu quả khôn lờng sẽ diễn ra làm thiệt hại nặng nề về kinh tế cơ sở hạ tầng vật
chất cây lơng thực sẽ bị nớc lũ cuốn trôi, mặt khác nó còn tác động rất xấu đến
công tác môi trờng...
8
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Nội dung thứ hai của thuỷ lợi là tiến hành công tác thuỷ nông, thuỷ nông
là một ngành kinh tế kỹ thuật thực hiện chức năng quản lý, khai thác tài nguyên
nớc để phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, thuỷ nông đã và sẽ đóng một vai trò làm
tăng trởng sản lợng lơng thực để thoả mãn nhu cầu của loài ngời cả trong hiện
tại và tơng lai.
Toàn thế giới có 14% diện tích canh tác đơc tới và 8,2% diện tích đợc tiêu
(tiêu cho cả diện tích phi canh tác), những giá trị sản phẩm nông nghiệp thu đợc
trên diện tích này chiếm 38% tổng giá trị nông nghiệp toàn thế giới, hiện tại
tăng cao.
Nh vậy sự đóng góp của thuỷ nông đối với sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp đã đợc các nhà chuyên gia trên thế giới chỉ ra cụ thể nh sau:
Trong các yếu tố nớc, phân, giống và các yếu tố khác làm tăng sản lợng
lúa là 100% thì nớc chiếm tỷ lệ cao nhất 25,5%; 22,2%; 22,1% và 30,2%. Và
cũng chỉ ra mối tơng quan giữa mức độ thuỷ lợi hoá với việc tăng năng suất lúa
diễn ra theo quan hệ mang tính chất tỷ lệ thuận. Các nớc có mức độ hoá 60%
cho năng suất 6 tấn/ 1ha/ 1 năm và 40% cho 4 tấn/ 1ha/ 1năm, còn 25% cho 2
tấn/ 1ha/ 1năm.
Nh vậy, nếu không có thuỷ lợi thì không thể tiến hành sản xuất nông
nghiệp đợc và nó đợc coi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp. Cho nên
thuỷ lợi phải đi trớc một bớc thì mới tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển
vững chắc.
Thực tiễn sản xuất trong nhiều năm qua ở nớc ta cũng nh các nớc trên thế
giới đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ thống công trình thuỷ lợi mang
lại là hết sức to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Nh vậy,
công trình thuỷ lợi là các công trình hay hệ thống công trình nhằm khai thác
mặt lợi của nớc, phòng chống các mặt có hại do nớc gây ra hoặc kết hợp cả hai
mặt đó.
Công trình thuỷ lợi còn đợc xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ
tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nớc và bảo vệ môi trờng sinh thái, có vị trí
quan trọng trong việc phát triển kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, nâng
cao đời sống nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hệ thống là một yêu cầu khách quan
của công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Một hệ thống công trình
thuỷ lợi bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Công trình đầu mối (đập dâng, hồ chứa, trạm bơm hoặc cống lấy nớc).
10
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Hệ thống kênh (kênh chính, kênh nhánh các cấp).
môi trờng sinh thái góp phần phát triển nông thôn toàn diện, thực hiện xoá đói
giảm nghèo. Cho nên ngày nay ở đâu có thuỷ lợi đảm bảo thì đời sống nhân
11
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dân ổn định, ở đâu cha có thuỷ lợi thì việc xoá đói giảm nghèo còn đặt ra gay
gắt.
Mặt khác, thuỷ lợi là ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò
hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nớc và nâng cao đời sống
nhân dân, lợi ích mà ngành thuỷ lợi đem lại là cải tạo thiên nhiên, chiến thắng
thiên tai, hạn hán lũ lụt, khai thác mặt lợi ngăn trừ mặt hại, phục vụ quốc tế dân
sinh và bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ngoài diện tích lúa ra, các hệ thống công trình thuỷ lợi còn đảm bảo tới
cho hàng chục vạn hecta hoa màu, cây công nghiệp. Đồng thời hàng năm các
công trình thuỷ lợi đã đợc khai thác tổng hợp phục vụ giao thông, thuỷ sản, thuỷ
điện, du lịch, góp phần tạo việc làm tại chỗ. Cụ thể công tác thuỷ lợi nói chung
và các công trình thuỷ lợi nói riêng đã cung cấp một lợng nớc đầy đủ và đảm
bảo yêu cầu ngoài nông nghiệp ra còn cho mọi ngành khác có liên quan, nhằm
phát triển một nền kinh tế xã hội chung ở nớc ta, việc khai thác và sử dụng
nguồn tài nguyên nớc để phục vụ cho nhiều ngành kinh tế giữ vai trò hết sức
quan trọng.
- Thứ năm: Thuỷ lợi góp phần cải tạo môi trờng, nâng cao điều kiện dân
sinh kinh tế.
Đối với cung cấp n ớc phục vụ nông nghiệp và dân sinh:
Trong giai đoạn xây dựng công nghiệp hoá nguồn nớc giữ vai trò quan
trọng thứ hai trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tính đến năm 1999 nguồn nớc
do các hệ thống cung cấp nớc sạch cho các khu công nghiệp, thành phố, thị xã
và một số thị trấn mới phục vụ đợc cho trên 20 triệu dân và hàng năm mới sử
dụng khoảng 0,6 tỷ m3 nớc ngầm dới đất. .Hầu hết các hộ nông dân các thị trấn
còn lại đều dùng nớc giếng tự nhiên hoặc nớc sông suối cha đợc xử lý thành nớc
sạch.
2.1. Trị thuỷ dòng sông lớn.
Trị thuỷ dòng sông lớn là nội dung quan trọng và có tính chất then chốt
của công tác thuỷ lợi nói chung và thuỷ lợi hoá nông nghiệp nói riêng. Để làm
tốt công tác trị thuỷ cần thực hiện các biện pháp sau đây.
- Điều tra khảo sát: mỗi công trình để đi vào khởi công xây dựng thì việc
làm trớc tiên là phải quy hoạch khảo sát, thiết kế công trình. Đây là nhiệm vụ
quan trọng không thể thiếu đợc đối với mỗi công trình, nó quyết định sự thành
công hay thất bại của mỗi công trình khi đi vào hoạt động.
13
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Đối với công tác thuỷ lợi, muốn công trình xây dựng đem lại hiệu quả thì
công tác quy hoạch khảo sát thiết kế phải căn cứ vào các điều kiện sau:
Điều kiện khí hậu thời tiết.
Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhỡng...
Điều kiện xã hội và dân sinh kinh tế.
Nguồn nguyên liệu là nớc trong thiên nhiên, chịu ảnh hởng của quy luật
thay đổi của nớc trong thiên nhiên.
Sở dĩ cần phải căn cứ vào các nhân tố trên là do những nhân tố đó hoạt
động biến đổi theo những quy luật nhất định của từng vùng khác nhau. Việc
phát hiện và đánh giá đúng bản chất của sự vật qua đó nghiên cứu các biện pháp
khai thác chế ngự nó thật không đơn giản nhng qua đây cũng đa ra đợc những
giải pháp hữu hiệu nh xác định địa điểm xây dựng công trình, có nghiên cứu
nguồn nguyên liệu nớc trong thiên nhiên thì việc chọn lựa địa điểm xây dựng
khi công trình đi vào hoạt động mới đem lại hiệu quả nhờ cung cấp đủ nguồn
nguyên liệu cho công trình...hay trong việc xác định thời gian tiến hành xây
dựng công trình thì cần căn cứ vào điều kiện khí hậu thời tiết của địa điểm định
khởi công xây dựng ,nhằm hoàn thiên công trình trớc mùa ma lũ, tránh tình
trạng công trình đang xây dựng dở dang vào những tháng ma lũ tới không
những công trình không kịp phát huy tác dụng mà có thể gây thất thoát về
nguyên vật liệu, lãng phí vốn.
Tác dụng của đê sông là ngăn lũ lụt, bảo vệ mùa màng và đời sống của con ngời.
Đê biển có nhiệm vụ ngăn nớc mặn, giữ nớc ngọt phục vụ cho nông nghiệp chống
gió bão, triều dâng, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Có kế hoạch phân lũ, tạo điều kiện sản xuất kinh doanh thích hợp với
những vùng phân lũ.
2.2 Tổ chức thi công xây dựng công trình.
Khi tiến hành xây dựng công trình phải tiến hành theo trình tự dựa trên bản
thiết kế kỹ thuật. Trong quá trình thi công cũng phải ứng phó kịp thời với điều
kiện tự nhiên (nếu không thuận lợi cho công tác xây dựng). Ví dụ khi thi công
kè bảo vệ bờ biển cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau: thi công cuốn chiếu,
thấp trớc cao sau, từ ngoài vào trong. Hớng thi công nên chặn ngợc chiều di
chuyển của bùn cát theo dòng ven bờ để phát huy tác dụng gây bồi lắng ngay
trong thời gian thi công. Dựa vào thuỷ triều lên xuống để xác định khối lợng
công trình có thể hoàn thành mà phân đoạn cho hợp lý tránh dở dang. Trờng
hợp thi công phần đất thân kè mà cha đặt kịp lớp bọc ngợc và xếp đá khan, cần
phải che chắn phần nối tiếp để khi nớc dâng cao lên không gây sụt lở và khi nớc
15
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
rút đợc dễ dàng. Phần nối tiếp các lớp rải lọc và chèn chặt các lớp đá xếp khan,
nếu có chỗ bị lún sụt phải xử lý ngay, không để thủng lớp vải.
Qua ví dụ về tiến trình thi công xây dựng kè bảo vệ bờ biển ta có thể rút ra
rằng ngoài việc căn cứ dựa vào thiết kế kỹ thuật thì ngời làm công tác xây dựng
còn phải kịp thời xử lý các tình huống bất trắc mà trong thiết kế cha đa ra nhằm
mục đích chung là hoàn thành công trình đúng tiến độ, công trình đi vào hoạt
động đem lại hiệu quả phục vụ tốt sản xuất và đời sống.
Từng bớc xây dựng hệ thống công trình tới tiêu hoàn chỉnh đồng bộ, hợp
lý và sử dụng tối đa công suất thiết kế có kế hoạch tiết kiệm nớc.
- Về thiết kế phải đảm bảo hệ thống công trình hoàn chỉnh đồng bộ và hợp
lý.
Công tác thuỷ lợi chỉ có thể đạt đợc hiệu quả kinh tế cao khi có một hệ
dụng công trình, ngời làm công tác quản lý phải:
+ Lập thao tác, quy trình vận hành công trình, hệ thống công trình trong
các điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, nhất là trong điều kiện ma bão.
+ Thờng xuyên kiểm tra mức độ an toàn của hệ thống công trình, nhất là
trớc mỗi vụ, mỗi đợt hoạt động. Cần kiểm tra toàn bộ hệ thống công trình, nhng
phải đặc biệt chú trọng các công trình thiết yếu nh công trình đầu mối, đê điều,
đập, công trình tiêu năng, hệ thống điện, các trạm bơm...
+ Nắm bắt, hạn chế đợc những tác động bất lợi đối với công trình. Lập
công trình, nội quy, quy chế bảo vệ công trình. Cần làm tốt công tác tuyên
truyền, động viên, giác ngộ nhân dân để tăng cờng sự hiểu biết và tham gia vào
công tác bảo vệ công trình.
+ Thờng xuyên đánh giá chất lợng, tình trạng kỹ thuật để từ đó xây dựng
các phơng án quản lý công trình.
- Bảo dỡng, tu sửa, chống xuống cấp công trình.
Trong quá trình hoạt động vận hành, do tác động của các yếu tố cơ học,
hoá học của điều kiện tự nhiên môi trờng, của con ngời...tính năng kỹ thuật, độ
bền của công trình bị giảm sút. Nếu sau một thời gian nhất định (sau một chu
kỳ sản xuất) mà các yếu tố này không đợc khôi phục, thì công trình bị xuống
cấp, khi đó khả năng phục vụ của hệ thống công trình ngày một giảm đi, hiệu
ích thu về ngày càng nhỏ, vì vậy kinh phí chi sửa chữa càng cần nhiều hơn hay
nói cách khác, việc quản lý hệ thống ngày một đi vào bế tắc.
Một hệ thống thuỷ lợi đợc coi nh là bị xuống cấp khi nó có những biểu
hiện sau:
17
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
+ Hiệu quả phục vụ sản xuất giảm dần trong khi yêu cầu phục vụ của sản
xuất nông nghiệp không hề thay đổi: diện tích phục vụ giảm, chất lợng công tác
tới bị hạ thấp, diện tích tới thẳng trở thành diện tích tạo nguồn, diện tích đảm
bảo tiêu bị thu hẹp, dù rằng lợng ma yêu cầu tiêu không đổi.
+ Công trình bị suy giảm về chất lợng, vận hành kém an toàn sự cố bất th-
những phơng hớng thúc đẩy phát triển thuỷ lợi là cần vốn để đầu t mới cho thuỷ
lợi vì thuỷ lợi gồm 3 giai đoạn: quy hoạch khảo sát thiết kế, tổ chức thi công
xây dựng công trình, tổ chức quản lý khai thác và sử dụng công trình. Mỗi giai
đoạn muốn thực hiện đợc đều cần phải có vốn thì mới tiến hành đợc nh cần vốn
để mua nguyên vật liệu, khoa học công nghệ, trả lơng cho ngời lao động ...Khi
công trình thuỷ lợi đi vào hoạt động đến một giai đoạn nào đó thì nó cần phải tu
sửa nâng cấp lúc đó tiếp tục phải có vốn để phục vụ sự hoạt động của công
trình.
ở những nớc kinh tế phát triển cơ sở vật chất thuỷ lợi đợc đầu t rất cao,
khoảng 10.000 USD/ ha. Vì đầu t cao nh vậy kết quả sản xuất nông nghiệp ở
những nớc này cho năng suất cao, đời sống của nông dân đợc nâng cao, diện
tích đất đợc tới tiêu đợc mở rộng, nói chung nông nghiệp ở những nớc này rất
phát triển. Với sự đầu t cao nên hệ thống kênh mơng đợc bê tông hoá làm việc
rất ổn định và chống thấm tốt. Các hệ thống tới phun ma hoặc nhỏ giọt ngời ta
dùng ống thép hoặc ống nhựa chôn ngầm dới đất, vừa kín vừa an toàn thuận lợi
cho canh tác, tiết kiệm đất canh tác...
Các nớc Đông Nam á do sự đầu t cao vào thuỷ lợi, với mức độ đầu t bình
quân từ 3.000 - 4000USD/ ha tới, vì thế công trình đợc trang bị khá đồng bộ từ
đầu mối trở xuống nên những nớc này đã đáp ứng đợc nhu cầu bức thiết về lơng
thực thực phẩm do sức ép của sự gia tăng dân số. Những nớc có tốc độ phát
triển thuỷ lợi nhanh nh Thái Lan, Lào, Bănglađet...
Nớc ta là nớc nông nghiệp, khoảng 80% dân số sống và làm việc ở nông
thôn nên sản xuất nông nghiệp là mặt trận hàng đầu trong nền kinh tế. Chính vì
vậy hệ thống công trình thuỷ lợi tơng đối phát triển do đợc Đảng và Nhà nớc
quan tâm đặc biệt và đầu t tơng đối cao so với các ngành khác. Chính vì vậy nó
đã góp phần làm cho sản xuất nông nghiệp ở nớc ta phát triển mạnh mẽ và Việt
Nam là một trong những nớc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Cụ thể trong năm 1995 Việt Nam đầu t 1531,85 tỷ đồng vào thuỷ lợi với
sự đầu t này nhiều công trình thuỷ lợi đợc xây dựng mới và phục hồi nâng cấp
một số công trình kết quả sản lợng lơng thực là 27,5 triệu tấn. Đến năm 1999
lãnh thổ, bảo vệ an toàn hệ thống đê điều, khắc phục và hạn chế thiên tai phục
vụ sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu kế hoạch sản
xuất lơng thực và đã đạt 31 triệu tấn lơng thực năm 1999, vợt hơn 1 triệu tấn so
với kế hoạch năm 1999, tăng 1,9 triệu tấn so với năm 1998
Nhờ những thắng lợi trong sản xuất nông nghiệp, bộ mặt nông thôn đợc
cải thiện, môi trờng sinh thái và cơ sở hạ tầng cũng phát triển theo, vấn đề lơng
thực đảm bảo tiêu dùng của ngời dân đợc đảm bảo trong thời gian giáp hạt, đời
sống nhân dân đợc nâng lên rõ rệt.
Những chơng trình lớn về phát triển thuỷ lợi phục vụ phát triển kinh tế xã
hội nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng nh chơng trình khai thác Đồng
Tháp Mời, Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, Bán đảo Cà Mau, Miền trung
và Tây Nguyên, nâng cấp các hệ thống thuỷ nông, chống lũ và chống úng ở
đồng bằng sông Hồng, cấp nớc ăn vùng cao đã đạt đợc những kết quả khả quan.
Một số công trình thuỷ lợi lớn ở miền Trung, Tây Nguyên và miền núi phía Bắc
vừa thi công vừa phát huy hiệu quả sớm tích nớc để phục vụ sản xuất nh công
trình Truồi, An Mã, Tràng Vinh, Ayun Hạ... nhiều công trình đang xây dựng đã
phát huy hiệu quả điển hình nh các công trình đồng bằng sông Cửu long: kênh
Vĩnh Tế giai đoạn 2, công trình kiểm soát lũ Châu Đốc_ Tịnh Biên, Ba Hòn,
21
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Vàm Rầy... đã đảm bảo mục tiêu ngăn lũ, thông nớc trớc mùa lũ. Với những kết
quả đó nó sẽ tiếp tục tạo thế để phát triển thuỷ lợi trong năm 2000 và sau năm
2000
Dới đây là tóm tắt thực trạng thuỷ lợi thông qua hệ thống công trình thuỷ
lợi và công tác quản lý sử dụng.
1.1 Thực trạng hệ thống công trình thuỷ lợi
Việt Nam là một trong một số nớc trong khu vực có hệ thống công trình
thuỷ lợi phát triển, đặc biệt là thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp. Đến năm
1999 Việt Nam đã có hệ thống công trình tới tiêu 3.9 triệu ha, trên 1triệu ha rau
màu, ngăn mặn cho 0.9 triệu ha và chống lũ cho gần 3triệu ha.
mới phát huy hết khả năng tới hoặc tiêu thiết kế. Nhiều công trình diện tích tới
hoặc tiêu chỉ đạt 50 - 60% (đối với hồ chứa) hoặc 70 - 90% (đối với cống, trạm
bơm) diện tích thiết kế.
Thực hiện nghị quyết 22 của Bộ chính trị, nghị quyết 72 HĐBT, quyết
định 69 HĐBT và chỉ thị 525 TTg của Thủ tớng Chính phủ, ngành thuỷ lợi đã
xây dựng chơng trình cấp nớc sinh hoạt và sản xuất cho đồng bào vùng cao đến
năm 2000. Bớc đầu đã xây dựng đợc một số công trình thuỷ lợi giải quyết nớc
ăn cho trên 30 vạn đồng bào các dân tộc miền núi phía bắc và nh dự kiến thì
đến cuối năm nay chơng trình này sẽ kết thúc.
Trong điều kiện rất khó khăn về ngân sách Nhà nớc đã dành cho phát triển
thuỷ lợi trong kế hoạch 1995 - 1999 là 9872,957 tỷ đồng. Trong đó 55% do Bộ
quản lý, 45% do các tỉnh quản lý. Riêng các công trình lớn mà Bộ đầu t trong
năm năm mở ra 241 công trình đã hoàn thành 85 với năng lực tới thêm 451.000
ha và trên 180.000 ha.
Các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ đợc phát triển đều khắp các vùng, góp
phần quan trọng nâng độ đồng đều phát triển kinh tế giữa các vùng đồng thời
cũng thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Các công trình trọng điểm đa lại
hiệu quả kinh tế cao.
Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển kinh tế với mức tăng trởng 2,5 - 3 lần
sau mỗi thập kỷ, với mức bảo đảm lơng thực 500 kg/ ngời/ năm, thực hiện đổi
mới cơ cấu kinh tế trong nông thôn thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nớc, đảm bảo mức tăng trởng GDP trong nông nghiệp 4 - 5% thì nhiệm vụ
ngành thuỷ lợi còn khá nặng nề.
Sau đây là thực trạng thuỷ lợi từng vùng cụ thể nh sau:
23
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.1.1 Tại vùng đồng bằng và trung du sông Hồng.
Là trọng điểm lơng thực miền Bắc, đợc thuỷ lợi hoá sớm và cao hơn cả.
Riêng vùng này có 33 hệ thống thuỷ nông, trong đó 16 hệ thống tới tiêu lớn.
Năng lực thiết kế của các hệ thống thuỷ nông đảm bảo tới cho 860.000 ha, tiêu
phát huy nếu các công trình thuỷ lợi đợc tiếp tục đầu t ngày càng cao. Với 3 ch-
ơng trình trọng điểm Đồng Tháp Mời, Tứ Giác Long Xuyên và Tây sông Hậu
đã biến vùng này từ một vụ lúa mùa nổi năng suất thấp nhất thành hai vụ Đông
xuân và Hè thu năng suất cao.
Thành công của công tác thuỷ lợi ở đồng bằng sông Cửu Long là đã định
hình đợc hệ thống kênh trục tạo nguồn nớc ngọt, tiêu chua, xả phèn với 6700
km kênh chính, 3000 km kênh nội đồng, 3000 km đê ngăn mặn và hàng chục
vạn máy bơm dầu của dân. Đó chính là cơ sở hạ tầng quan trọng để phát triển
sản xuất nông nghiệp theo hớng đa dạng hoá cây trồng....đóng góp một cách có
hiệu quả vào chơng trình nớc sạch và vệ sinh nông thôn.
Giải pháp chống lũ đồng bằng sông Cửu long mới đợc phê duyệt đầu năm
nay, cha đi vào thực hiện cho nên đây là một hạn chế lớn đối với kế hoạch phát
triển đồng bằng sông Cửu Long. Khả năng tăng vụ ở vùng lũ ngập sâu là khó
thực hiện.
Lũ không những hạn chế khả năng phát triển sản xuất mà còn gây khó
khăn cho tổ chức đời sống văn hoá xã hội ở các vùng ngập sâu.
Ngoài lũ vấn đề sạt lở các vùng dân c dọc sông cũng đợc coi nh thiên tai
có thể gây tổn thất lớn về ngời và của gây tâm lý bất ổn định cho các vùng dân
c dọc sông.
Những thành tích của thuỷ lợi ở đồng bằng sông Cửu Long mới chỉ là bớc
đầu, bớc thử nghiệm giữa con ngời và thiên nhiên có thể có những diễn biến
phức tạp cần đợc theo dõi và tiếp tục giải quyết. Đặc biệt là những tác động từ
thợng lu đổ xuống cha đợc xem xét đầy đủ.
1.1.3 Các tỉnh miền Trung.
Miền Trung là vùng xảy ra thiên tai thờng xuyên (hạn hán, gió nóng, bão
lũ...) Đảng và Nhà nớc tập trung đầu t với tỷ lệ cao, có những công trình có quy
mô lớn. Đến nay năng lực thiết kế của các tỉnh là 665049 ha đã huy động đợc
445.100 ha. Sông suối miền Trung ngắn dốc trực tiếp đổ ra biển nên mùa lũ, lũ
ác liệt lên nhanh, mùa kiệt thì khô hạn và kéo dài 8 tháng, nguồn nớc mùa kiệt
không đủ cấp để làm hai vụ Đông xuân và Hè thu. Vì vậy nhiều hồ chứa và đập