Nghiên cứu về thành phần, phân bố của một số loài Bộ nhện (Araneae) ở rừng tự nhiên tại vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN NGUYỄN THỊ THU BÍCH

NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN, PHÂN BỐ
CỦA MỘT SỐ LOÀI THUỘC BỘ NHỆN (ARANEAE)
Ở RỪNG TỰ NHIÊN TẠI VƢỜN QUỐC GIA
TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Động vật học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. PHẠM ĐÌNH SẮC
TS. ĐÀO DUY TRINH
NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 K36A Sinh - KTNN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự
hướng dẫn tận tình của TS. Phạm Đình Sắc và TS. Đào Duy Trinh.
Kết quả trong khóa luận là hoàn toàn trung thực, nếu sai tôi xin chịu
trách nhiệm.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu Bích


Rừng tự nhiên bị tác động mạnh
5
RTN
Rừng tự nhiên ít bị tác động
7
S
Số lượng cá thể thu được
8
VQG
Vườn Quốc gia
NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 K36A Sinh - KTNN

DANH MỤC BẢNG

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 K36A Sinh - KTNN

DANH MỤC HÌNH

STT
Nội dung
Trang
1
Hình 1.1. Cấu tạo cơ thể nhện……
4
2
Hình 2.1. Bẫy hố ……
13
3
Hình 2.2. Vị trí địa lý Vườn Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh
Phúc
NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 K36A Sinh - KTNN

MỘT SỐ THUẬT NGỮ SINH HỌC

1
Bulbus
Phần (khối) cấu trúc phức tạp của bộ phận sinh
dục đực, thường nằm ngay dưới vùng lõm của
cymbium
2
Clypeus
Khoảng từ mắt tới chân kìm
3
Cymbium
Mặt trên của đốt cuối râu nhện đực (cơ quan xúc
giác - cơ quan sinh dục đực)
4
Embolus
Phần đưa vào trong của bulbus, thường mảnh, có
đầu nhọn, chứa phần cuối cùng của ống dẫn tinh
5
Femur
Đốt đùi (đốt thứ 3 của chân bò và chân xúc giác


MỤC LỤC
Nội dung
Trang
MỞ ĐẦU……………………………………… ………
1
1.Đặt vấn đề
1
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2
2.1. Mục đích nghiên cứu
2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
2
3. Nội dung nghiên cứu
2
4. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU……………
4
1.1.Lược sử nghiên cứu nhện
4
1.2.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) trên thế giới………
5
1.3.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở Việt Nam………
9
1.4.Tình hình nghiên cứu nhện (Araneae) ở VQG Tam Đảo
11
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………………

3.1.4. Mô tả các loài nhện định dạng sp được xác định có
thể là loài mới cho khoa học
26
3.2. Tương quan giữa số lượng loài nhện theo số cá thể bắt gặp
ở khu vực rừng tự nhiên VQG Tam Đảo

33
3.3. Sự phân bố và thích nghi của các loài nhện ở khu vực rừng
tự nhiên VQG Tam Đảo

35
3.3.1. Phân bố ở các trạng thái rừng
35
3.3.2. Phân bố theo vị trí hoạt động của nhện
35
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……………………
38
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………
39
PHỤ LỤC

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 1 K36A Sinh - KTNN

MỞ ĐẦU


vật nói chung và đa dạng thành phần loài nhện nói riêng ở nhiều sinh cảnh
khác nhau có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chất lượng môi trường
tại các vùng nghiên cứu. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đưa ra những dẫn
liệu mới về đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của chúng trong các
sinh cảnh đặc thù của khu vực Vườn Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc, góp
phần khôi phục, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng trong các hệ sinh
thái và bảo vệ môi trường ở khu vực nghiên cứu nói riêng và ở Việt Nam nói
chung. Vì vậy chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu về thành phần, phân
bố của một số loài thuộc bộ Nhện (Araneae) ở rừng tự nhiên tại Vườn
Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
- Bước đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, xây dựng lòng say mê
học tập, làm tiền đề để phục vụ cho giảng dạy và nghiên cứu sau này.
- Bước đầu nghiên cứu, xác định thành phần loài, đặc trưng phân bố, và
tính thích nghi của các loài nhện (Araneae) ở rừng tự nhiên khu vực Vườn
Quốc gia Tam Đảo.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tiến hành khảo sát, điều tra, nghiên cứu phân loại nhóm nhện ở rừng
tự nhiên của khu vực nghiên cứu.
- Phân tích mẫu vật thu thập được sau khảo sát để xác định thành phần
loài nhện.
- Nghiên cứu đặc trưng phân bố và tính thích nghi của nhện theo vị trí
hoạt động.
3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định thành phần loài nhện tại sinh cảnh rừng tự nhiên của Vườn
Quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Xác định các loài nhện ưu thế tại sinh
cảnh nghiên cứu.

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 4 K36A Sinh - KTNN

Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lƣợc sử nghiên cứu nhện
Khái quát về nhện
Bộ Nhện Araneae thuộc lớp Hình nhện Arachnida, ngành Động vật
Chân khớp Arthropoda. Theo Platnick N.I.(2012) [19], bộ Nhện chiếm ưu thế
về số loài và số lượng cá thể trong 11 bộ của lớp Hình nhện (11 bộ bao gồm:
Acari, Amblypygi, Araneae, Opiliones, Palpigradi, Pseudoscorpiones,
Ricinulei, Schizomida, Scorpioides, Solifugae, Thelyphonida). Trên thế giới
đã ghi nhận được 43.224 loài thuộc 3.879 giống của 111 họ Nhện.

Hình 1.1. Cấu tạo cơ thể nhện (Nguồn: R. Jocque)
(1) Bốn cặp chân, (2) Đầu - ngực nhập chung 1 phần, (3) Bụng
Cơ thể nhện chia ra 2 phần: phần giáp đầu ngực (Cephalothorax) và
phần bụng (Abdomen), hai phần này được nối với nhau bởi cuống bụng. Phần
giáp đầu ngực bao gồm tấm lưng ngực (carapace) và tấm bụng ngực
(sternum). Phía trên đầu của giáp đầu ngực có miệng (môi trên - endite; môi
dưới - labium) và 1 đôi chân kìm (chelicera), bên cạnh chân kìm là 1 đôi chân
xúc giác (Palp). Cuối đôi chân kìm của nhện có đôi răng lớn và khỏe dùng để
bắt giữ và giết con mồi. Trên tấm lưng ngực của nhện còn thấy một cái rãnh
(hố - Fovea).

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 5 K36A Sinh - KTNN


Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 6 K36A Sinh - KTNN

công trình của Clerck năm 1757. Trong số các loài nhện đã ghi nhận được
trên thế giới hiện nay có 15 loài được ghi vào danh lục đỏ của IUCN (2002).
Những phát hiện về thành phần loài nhện cho thấy số lượng loài của
chúng tương đối lớn. Chúng phân bố khắp mọi nơi: trong nhà, ngoài cánh
đồng, trong vườn cây, trong rừng, cây cỏ cây bụi, trong hang thậm chí cả ở
dưới nước (Song và Zhu, 1999) [20]. Trong đó họ Nhện nhảy Salticidae có số
loài cao nhất trong các họ thuộc bộ Nhện.
Murphy & Murphy (2000) đã đưa ra danh sách các loài nhện đã ghi
nhận được tại các nước khu vực Đông Nam châu Á, sắp xếp theo thứ tự số
lượng loài đã ghi nhận được từ cao đến thấp là: Indonesia (660 loài), Malaysia
(463 loài), Myanma (455 loài), Philippines (426 loài), Singapore (308 loài),
Việt Nam (230 loài), Thái Lan (156 loài). Theo tác giả, khu hệ nhện của 3
nước thuộc khu vực này bao gồm Brunei, Campuchia và Lào chưa được
nghiên cứu [18].
Nghiên cứu nhện trên cây lúa ở khu vực Nam và Đông Nam Á, Barrion
và Litsinger (1995) [12] đã nghi nhận 342 loài thuộc 131 giống của 26 họ
Nhện. Trên đồng lúa ở Philippines, Barrion đã điều tra thu thập và định loại
được 32 loài thuộc 21 giống của 9 họ Nhện. Okuma đã công bố 55 loài thuộc
36 giống của 10 họ Nhện bắt gặp trên cây lúa ở Bangladet.
Tác giả Davies (1988) đã nghiên cứu và xây dựng khóa định loại tới họ
của bộ Nhện và khóa định loại tới loài của nhóm nhện chăng lưới đã ghi nhận
được ở Australia [14].
Ở Trung Quốc, nghiên cứu về nhện bắt đầu từ năm 1798. Năm 1990 đã
ghi nhận được 332 loài nhện ở các trang trại trồng cây ăn quả. Năm 1999, Song
D.X . và Zhu M.S. [20] đưa ra danh sách 2361 loài thuộc 450 giống của 56 họ
Nhện đã ghi nhận được ở nước này. Cho đến nay Trung Quốc đã xuất bản
được 5 tập sách Động vật chí của 6 họ Nhện bao gồm các họ Araneidae với


loài. Hầu hết con đực bị chết sau khi giao phối do bị nhện cái ăn thịt. Tinh dịch

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 8 K36A Sinh - KTNN

của nhện được cất giữ tại chân xúc giác nhện đực. Sau khi giao phối, nhện cái
đẻ trứng thành ổ được bọc bởi tơ nhện do chính nhện cái tạo ra. Mỗi loài nhện
có số lượng và kích thước trứng khác nhau. Bọc trứng thường được treo trên
lưới nhện, trong tổ nhện, hoặc được nhện mẹ mang theo. Một số loài thuộc họ
Nhện sói Lycosidae mang trứng ở phần gần cuối bụng, họ Nhện càng cua lớn
Heteropodidae mang trứng ở dưới ngực, còn họ Phocidae thường ngậm trứng
ở hàm trước. Nhện mẹ canh giữ trứng và nhện non cho tới khi nhện con đủ
cứng cáp và phân tán. Nhện con mới nở thường tập trung trong ổ trứng.
Các loài thuộc họ Nhện nhảy Salticidae có tập tính xây tổ (Foelix R.F.,
1996) [15], tổ nhện là nơi nghỉ ngơi, lột xác và đẻ trứng của chúng.
Khi thời tiết lạnh, các loài nhện trong vườn cây ăn quả thường tìm nơi
trú ẩn để qua đông ở các vị trí ít bị tác động của các yếu tố môi trường như
khe hở tách ra từ vỏ của thân cây hoặc vỏ cành cây (Foelix R.F., 1996) [15].
Trong tự nhiên, các yếu tố ngoại cảnh và con người ảnh hưởng rất
nhiều tới sự phát triển của các loài nhện có tập tính chăng lưới. Gió to làm cây
đổ, cành gãy hay con người chặt phá cây rừng và đốt rừng làm mạng nhện bị
phá dẫn đến nhện mất nơi cư trú (Davies V.T., 1988) [14].
Tại Trung Quốc, Liang SP và cs (2000) [17] đã phân tích nọc của loài
nhện độc Ornithoctonus huwena, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có thể sử
dụng nọc của nhện trong y học, như tách chiết các chất từ nọc để làm thuốc
gây tê hay chữa một số bệnh liên quan đến hệ thần kinh.
Tất cả các loài nhện đều có bộ phận sản xuất tơ. Bản chất của tơ nhện
là Protein, được cấu thành bởi nhiều amino acid, trong đó có một số amino
acid đặc biệt, nên tơ nhện có độ bền rất vững chắc đã được nghiên cứu sử

Phạm Văn Lầm và cộng sự (2004), cho đến nay đã thu thập và xác định được
52 loài nhện trên đồng lúa ở Việt Nam [9].
Nghiên cứu nhện trên đậu tương vùng Hà Nội, Trần Đình Chiến (2002)
đã ghi nhận được 18 loài thuộc 8 họ Nhện [10]. Phạm Đình Sắc và Khuất
Đăng Long (2001) đã công bố thành phần loài nhện trên đậu tương tại 3 tỉnh
Hà Nội, Hoà Bình và Bắc Ninh bao gồm 26 loài thuộc 9 họ Nhện [5].

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 10 K36A Sinh - KTNN

Một số công trình nghiên cứu thành phần loài nhện trên cây vải thiều đã
được công bố. Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn đã ghi nhận được 34 loài
nhện trên cây vải thiều ở Sóc Sơn - Hà Nội, 29 loài nhện trên cây vải thiều ở
Mê Linh - Vĩnh Phúc.
Lần đầu tiên ở Việt Nam, một loài nhện độc họ Theraphosidae đã được
tìm thấy ở Vườn Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên
Hữu Liên - Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [6]. Kết quả
thống kê từ tất cả các công trình đã công bố cho thấy hiện nay Việt Nam đã
ghi nhận được 320 loài thuộc 159 giống của 32 họ Nhện.
Gần đây nhất, Phạm Đình Sắc và cộng sự đã công bố 29 loài nhện mới
cho khoa học; bao gồm: 6 loài phát hiện được trong hang động và 23 loài phát
hiện được tại các Vườn Quốc gia phía Bắc Việt Nam.
1.3.2 Về sinh học, sinh thái học, tập tính và vai trò của nhện
Các nghiên cứu về sinh học sinh thái của nhện ở Việt Nam còn rất ít.
Cho đến nay, 2 loài được nghiên cứu về đặc tính sinh học sinh thái bao gồm
nhện sói Pardosa pseudoanulata và nhện linh miêu Oxyopes javanus. Kết quả
nghiên cứu của Bùi Hải Sơn (1995) [1] cho thấy: loài nhện Pardosa
pseudoanulata giai đoạn con non có 8 tuổi; thời gian phát dục của nhện non
đực từ 76,2 - 155,7 ngày, của nhện non cái từ 92,6 - 167,7 ngày; vòng đời của

Quốc gia Tam Đảo. Một loài nhện độc họ Theraphosidae đã được tìm thấy ở
Vườn Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc và khu bảo tồn thiên nhiên Hữu Liên -
Lạng Sơn (Phạm Đình Sắc và Vũ Quang Côn, 2005) [6]. Liu, Li & Pham
(2010) đã công bố 5 loài nhện mới cho khoa học được tìm thấy ở Vườn Quốc
gia Tam Đảo. Tuy nhiên, thành phần loài nhện ở rừng tự nhiên của Vườn
Quốc gia Tam Đảo vẫn chưa được nghiên cứu.

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 12 K36A Sinh - KTNN

Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là tất cả các loài thuộc bộ Nhện (Araneae), lớp
Hình nhện (Arachnida), ngành Chân khớp (Arthropoda) phân bố tại sinh cảnh
rừng tự nhiên Vườn Quốc gia Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
2.2. Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện từ tháng 4/2013 đến tháng 4/2014
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại khu vực rừng tự nhiên, Vườn Quốc gia Tam
Đảo - Vĩnh Phúc.
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa
- Địa điểm thu mẫu: sinh cảnh rừng tự nhiên khu vực Vườn Quốc gia
Tam Đảo - Vĩnh Phúc.
- Thu nhện hoạt động trên cây: dùng tấm nilon (1,2m x 1,2m) hứng
dưới tán lá và đập mạnh vào tán lá, nhện sẽ rơi xuống. Kết hợp dùng vợt côn
trùng và bắt bằng tay để thu mẫu nhện rồi cho vào lọ chứa cồn 70

, lưu trữ,
định loại và kiểm tra tại phòng Sinh thái Môi trường đất, thuộc Viện Sinh thái
và Tài nguyên sinh vật.
Định loại nhện theo các tài liệu Zabka (1985); Davies (1986); Davies
(1988); Chen và Gao (1990); Feng (1990); Barrion và Litsinger (1995); Song
và cộng sự (1997, 1999, 2004); Yin và cộng sự (1997); Zhu và cộng sự (1998,
2003), Jocque (2007) Chỉ các mẫu nhện trưởng thành được sử dụng để định
loại, bởi vì việc định loại nhện ở giai đoạn con non đến cấp độ giống và loài
là rất khó. Mẫu nhện được soi dưới kính hiển vi để định loại. NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 14 K36A Sinh - KTNN

2.4.3. Xử lí và phân tích số liệu
- Mẫu thu được xử lí và bảo quản mẫu bằng cồn 70˚ và 4% Formalin.
- Số liệu và các biểu đồ được xử lí và vẽ bằng phần mềm Excel 2007.
- Các số liệu tính toán dựa trên các cơ sở sau:
* Tổng số loài (S): Tổng số loài nhện có thu được tại một điểm
nghiên cứu hay một sinh cảnh nào đó ở tất cả các đợt thu mẫu.
* Tổng số cá thể (N): Tổng số cá thể nhện thu được tại một điểm
nghiên cứu hay một sinh cảnh nào đó ở tất cả các đợt thu mẫu.
* Độ ưu thế (A) của loài được tính bằng tỷ lệ phần trăm số lượng cá
thể của một loài so với tổng số cá thể thu được tại một điểm hay
một sinh cảnh nghiên cứu.
100
N
ni
A

thấp, rừng lùn trên đỉnh núi, rừng tre nứa, rừng phục hồi sau khai thác, rừng
trồng, trảng cây bụi, trảng cỏ [22].
b) Địa hình: Vườn Quốc gia Tam Đảo là vùng núi cao nằm trọn trên
dãy núi Tam Đảo. Đây là dãy núi có trên 20 đỉnh cao từ 1.000m trở lên so với
mặt nước biển, cao nhất là đỉnh Tam Đảo Nord 1.592m. Điểm thấp nhất của
Vườn Quốc gia là khoảng 100 m. Vườn Quốc gia nằm trong khối núi chạy
theo hướng Đông Bắc - Tây Nam. Khối núi này bị tách thành hai vùng núi
cao ở phía bắc và phía tây bởi những vùng đứt gãy có độ cao thấp hơn [22].

NguyÔn ThÞ Thu BÝch Khãa luËn tèt nghiÖp

Tr-êng §HSP Hµ Néi 2 16 K36A Sinh - KTNN

c) Khí hậu, thời tiết: Dãy núi Tam Đảo tạo ra 2 sườn Đông và Tây có
khí hậu khác nhau rõ rệt, lượng mưa hàng năm khác nhau đã góp phần tạo nên
các tiểu vùng khí hậu khác biệt. Đây cũng là yếu tố tạo ra 2 đai khí hậu nóng
ẩm, nhiệt đới mưa mùa từ độ cao 700 - 800 m trở xuống và đai khí hậu á nhiệt
đới mưa mùa. Lượng mưa trung bình hàng năm đạt đến 2.800 mm và tập
trung trong mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 với khoảng 90% tổng lượng
mưa của năm. Trong mùa khô, lượng mưa và độ ẩm ở các đai cao rất thấp làm
cho những vùng này rất dễ bị cháy. Tất cả tạo nên một Vườn Quốc gia Tam
Đảo được che phủ bởi một lớp thảm thực vật dày đặc, nhiều tầng và đa dạng
về loài, đa dạng về quần xã sinh học và hệ sinh thái [22].
d) Thổ nhưỡng: Điều tra, nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy
Vườn Quốc gia Tam Đảo có 4 loại đất chính gồm đất Feralit mùn vàng phát
triển trên đá macma axít, xuất hiện ở độ cao từ 700 m trở lên, có diện tích
8.968 ha; đất feralit mùn vàng đỏ phân bố trên núi thấp từ độ cao 400 - 700 m,
phát triển trên đá macma kết tinh có diện tích 9.292 ha; đất feralit đỏ vàng
phát triển trên nhiều loại đá khác nhau ở độ cao 100 - 400 m, có diện tích
1.7606 ha; và cuối cùng là loại đất đất dốc tụ và phù sa ở độ cao từ 100 m trở


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status