ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ VÂN ANH
TRI THỨC ĐỊA PHƢƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ
BẢO VỆNGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
CỦA NGƢỜI TÀY Ở HUYỆN BA BỂ,
TỈNH BẮC KẠN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
CHU THỊ VÂN ANH
TRI THỨC ĐỊA PHƢƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ
NGUỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN CỦA NGƢỜI TÀY Ở
HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62 22 70 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LỊCH SỬ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS. TS HOÀNG LƢƠNG
Trƣớc hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo hƣớng dẫn: cố
PGS.TS Hoàng Lƣơng và PGS.TS Nguyễn Ngọc Thanh. Các thầy đã giúp đỡ tôi
trong việc gợi mở hƣớng nghiên cứu, phƣơng pháp thu thập và xử lý tài liệu, sửa
chữa bản thảo và đƣa ra những ý kiến khoa học quý báu để tôi có thể hoàn thành
luận án này.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Khoa Nhân học,
Trƣờng ĐHKHXH&NV - ĐHQG Hà Nội, Khoa Xã hội - Trƣờng Cao đẳng Vĩnh
Phúc và các cơ quan ban ngành đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu,
hoàn thiện luận án.
Lời cảm ơn sâu sắc, tôi xin đƣợc gửi tới các cơ quan đoàn thể tại địa bàn
nghiên cứu, đặc biệt là nhân dân 3 xã Nam Mẫu, Khang Ninh, Quảng Khê (huyện
Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn) đã tạo điều kiện giúp đỡ về nơi ăn chốn ở, cung cấp tƣ liệu
thực địa để tôi có đủ cơ sở hoàn thành công trình nghiên cứu của mình.
Nhân đây, tôi cũng xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động
viên và tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành công việc của mình.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn vì những sự giúp đỡ quý báu đó!
2
MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI .............................................................................................................................. 7
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU...................................................................................... 9
3. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU............................................................................................. 9
4. NGUỒN TƢ LIỆU CỦA LUẬN ÁN ...................................................................................................10
5. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ..........................................................................................10
6. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI...........................................................................................................................11
Chƣơng 1
Chƣơng 3:TRI THỨC ĐỊA PHƢƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG
3.1. Nhận thức của cộng đồng về vai trò của rừng .............................................................. 81
3.2. Tri thứcđịa phƣơng trong sử dụng nguồn tài nguyên rừng ........................................... 82
3.2.1. Đối tượng khai thác ........................................................................................... 83
3.2.2. Tri thức địa phương trong sử dụng gỗ và các loại phi gỗ ................................. 85
3.2.3. Tri thức địa phương trong sử dụng các loại dược liệu…………………...........…94
3.2.4. Tri thức địa phương trong sử dụng các loài thú rừng và côn trùng …………..96
3.3. Tri thức địa phƣơng trong bảo vệ tài nguyên rừng ..................................................... 102
3.3.1. Tri thức địa phương trong bảo vệ rừng thông qua những hành vi thực tế ...... 102
3.3.2. Tín ngưỡng liên quan đến vấn đề bảo vệ rừng ................................................ 104
3.4. Những biến đổi của TTĐP trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng hiện nay…… .107
Chƣơng 4:TRI THỨC ĐỊA PHƢƠNG TRONG SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƢỚC
4.1. Nhận thức của ngƣời Tày về tài nguyên nƣớc ............................................................ 112
4.2. Tri thức địa phƣơng trong sử dụng nguồn tài nguyên nƣớc ....................................... 114
4.2.1. Tri thức địa phương về dự báo liên quan đến nguồn nước ............................. 114
4.2.2. Các nguồn nước phục cho sản xuất và sinh hoạt ............................................ 116
4.2.3. Các phương thức dẫn nước.............................................................................. 119
4.2.4. TTĐPtrong khai thác và sử dụng các nguồn thủy sản của hồ Ba Bể .............. 124
4.3. Tri thức địa phƣơng trong bảo vệ nguồn nƣớc ........................................................... 127
4.3.1. Trong thực hành thường nhật ............................ Error! Bookmark not defined.
4.3.2. Các hình thức tín ngưỡng liên quan đến tài nguyên nước ............................... 128
4.4. Những biến đổi của tri thức địa phƣơng trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên nƣớc
hiện nay .......................................................................................................................... 128
Chƣơng 5: TRI THỨC ĐỊA PHƢƠNG - NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG
BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
5.1. Mối quan hệ giữa các yếu tô đất - nƣớc - rừng trong hệ tri thức địa phƣơng của ngƣời
Tày Ba Bể………………………………………………………………………………...135
5.2. Những yếu tố tác động đến TTĐP của ngƣời Tày ở Ba Bể. ....................................... 137
5.2.1. Chủ trương thành lập VQG Ba Bể - Sự đứt gãy về tri thức địa phương ......... 137
HTX
Hợp tác xã
LHQ
Liên hợp quốc
NXB
Nhà xuất bản
PARC
Xây dựng các Khi bảo vệ nhằm Bảo tồn Tài nguyên thiên
nhiên trên cơ sở ứng dụng quan điểm sinh thái cảnh quan
TK
Thế kỷ
TTĐP
Tri thức địa phƣơng
Tr
Trang
UBND
Bảng 1.1: Cơ cấu dân tộc huyện Ba Bể năm 2009
40
Bảng 2.1: Cách thức nhận biết chất đất của ngƣời Tày Ba Bể
48
Bảng 2.2: Một số giống lúa địa phƣơng của ngƣời Tày Ba Bể
53
Bảng 2.3: Lịch thời vụ các loại cây trồng của ngƣời Tày Ba Bể
55
Bảng 3.1: Công dụng của một số loài thực vật phân họ Tre ở khu vực
86
VQG Ba Bể
Bảng 3.2: Lịch khai thác các loại măng của ngƣời Tày ở khu vực hồ Ba
89
Bể
Bảng 3.3: Lịch khai thác các loại rau rừng của ngƣời Tày Ba Bể (Bắc
90
145
Bảng 5.4: Bảng so sánh tỷ lệ giảm nghèo của vùng dự án so với toàn tỉnh
154
Bắc Kạn giai đoạn 2010 - 2014
Bảng 5.5: Các thay đổi về diện tích rừng ở 3 huyện dự án giai đoạn 2009
- 2014
6
155
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Tri thức địa phƣơng (TTĐP)là một đề tài nghiên cứu không còn xa lạ trong
khoa học hiện đại. Nhất là trong bối cảnh suy thoái, ô nhiễm môi trƣờng ngày một
gia tăng, sự suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên xảy ra vô cùng nghiêm trọng
mà những kiến thức khoa học không thể giải quyết đƣợc. Ngƣời ta bắt đầu có sự
nhìn nhận lại đối với những tri thức truyền thống của các tộc ngƣời để kiếm tìm một
cứu cánh nhằm giải quyết những vấn đề về môi trƣờng và sinh kế hiện nay cho các
cộng đồng cƣ dân. Trong xu thế đó, TTĐP của các tộc ngƣời đƣợc quan tâm nghiên
cứu trong cả lĩnh vực khoa học tự nhiên cũng nhƣ khoa học xã hội và nhân văn.
TTĐP đƣợc hiểu là những sự ứng xử truyền thống của các cộng đồng ngƣời
đối với môi trƣờng sinh thái. Đó là những giá trị đƣợc tích lũy, trao truyền và biến
đổi qua nhiều thế hệ, là một phần quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa của tộc ngƣời.
Vì là một thành tố văn hóa nên TTĐP không bất biến, nó luôn có sự tiếp xúc, giao
coi là những ngƣời đến khai phá và sinh sống sớm nhất ở đây. Cƣ trú ở những khu
vực tƣơng đối bằng phẳng và màu mỡ của khu vực miền núi, là chủ thể khai phá và
sáng tạo, ngƣời Tày Ba Bể đã hình thành nên những giá trị văn hoá đặc trƣng của
mình. Trong đó có vốn tri thức về cách thức ứng xử với môi trƣờng tự nhiên trong
khai thác, sử dụng và bảo vệ các nguồn tài nguyên nhƣ: đất, nƣớc, rừng, khoáng sản
theo hƣớng bền vững. Tất cả đã trở thành những kinh nghiệm quý giá đã và đang
đƣợc sử dụng để phục vụ cho cuộc sống của bản thân cũng nhƣ của cả cộng đồng.
Tuy nhiên, sự hình thành VQG đã vô hình chung gây nên sự “đứt gãy” trong
hệ thống tri thức của cộng đồng địa phƣơng. Với chính sách đóng cửa rừng, hạn chế
khai thác tài nguyên rừng đã khiến cho cƣ dân - những ngƣời vốn có kinh nghiệm
thực hành kinh tế chiếm đoạt truyền thống - bị ảnh hƣởng nghiêm trọng. Sinh kế bị
thay đổi khiến cho thực hành văn hóa bị đứt đoạn. Thực tế đó đã dẫn đến hậu quả là
tình trạng thoái hoá nguồn đất, nguồn nƣớc, cạn kiệt nguồn tài nguyên rừng và tài
nguyên khoáng sản do sự khai thác ồ ạt của con ngƣời vì lợi nhuận kinh tế trong
thời kỳ mới. Theo đánh giá của cộng đồng cƣ dân địa phƣơng, hiện nay toàn bộ
diện tích rừng nguyên sinh của VQG Ba Bể đã không còn mà thay vào đó là rừng
8
thứ sinh, rừng trồng với sự đa dạng sinh học thấp. Đó là một thực trạng cấp bách
đối với nƣớc ta nói chung và khu vực Ba Bể (Bắc Kạn) nói riêng.
Để giải quyết thực trạng này, nên chăng một lần nữa chúng ta cần xem xét lại
những giá trị của TTĐP đã đƣợc hình thành, trao truyền qua nhiều thế hệ để từ đó
rút ra những bài học kinh nghiệm và đƣa ra những giải pháp cho thực tiễn nhằm
mục đích hƣớng tới sự phát triển bền vững cho cộng đồng.Trên cơ sở nhận thức đó,
tôi đã chọn đề tài "Tri thức địa phương trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài
nguyên thiên nhiên của người Tày ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn" làm đề tài luận
án Tiến sỹ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
nội dung của các loại tài nguyên trên.
- Phạm vi không gian
Đề tài lựa chọn khu vực vùng lõi và vùng đệm của VQG Ba Bể để nghiên
cứu, bao gồm 3 xã: Quảng Khê, Khang Ninh (thuộc vùng đệm) và Nam Mẫu (vùng
lõi đƣợc bảo vệ nghiêm ngặt), đây cũng là những xã có đông ngƣời Tày cƣ trú.
4. Nguồn tƣ liệu của luận án
Đề tài sử dụng các nguồn tƣ liệu sau:
- Nguồn tƣ liệu sơ cấp: là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận và
thực tiễn về vấn đề tri thức địa phƣơng, tri thức truyền thống của các tộc ngƣời.
Trên cơ sở đó, chúng tôi đƣa ra những quan điểm nghiên cứu, mục đích nghiên cứu,
đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu cho đề tài của mình. Đây là nguồn tƣ liệu quan
trọng giúp chúng tôi xác định rõ vấn đề nghiên cứu cho đề tài của mình.
- Nguồn tƣ liệu thứ cấp: là những bảng biểu, báo cáo tình hình kinh tế, văn
hóa, xã hội của các xã, các số liệu thống kê về vị trí địa lý, tình hình dân cƣ, các báo
cáo, văn bản, chỉ thị… của các cấp có thẩm quyền do tác giả thu thập trong quá
trình nghiên cứu thực địa; các thuyết minh dự án đƣợc tiến hành đối với địa bàn
nghiên cứu của luận án.
- Nguồn tƣ liệu thực địa: là nguồn tƣ liệu quan trọng nhất để chúng tôi trả lời
những giả thuyết nghiên cứu và hoàn thành đề tài. Để thu thập tƣ liệu, chúng tôi đã
tiến hành đi điền dã Dân tộc học, khảo sát đối tƣợng nghiên cứu thông qua các kỹ thuật
phỏng vấn sâu, quan sát tham dự… trong nhiều năm để thu thậptƣ liệu cho luận án.
10
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
5.1. Về khoa học:
- Trên cơ sở nghiên cứu vốn tri thức địa phƣơng của ngƣời Tày trong sử dụng và
bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, đề tài góp phần làm rõ một khía cạnh văn hóa
của ngƣời Tày ở Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn ở hƣớng tiếp cận theo quan điểm sinh thái
bền vững
12
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu tri thức địa phƣơng
1.1.1. Tình hình nghiên cứu tri thức địa phương (TTĐP) trên thế giới
Trong bối cảnh Thế giới hiện nay, khi vấn đề môi trƣờng và phát triển bền
vững đƣợc đặt ra, những nhận thức về hệ tri thức địa phƣơng của các tộc ngƣời
đƣợc quan tâm nghiên cứu nhƣ một nỗ lực cho một giải pháp hiệu quả cho vấn đề ô
nhiễm môi trƣờng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo sinh kế cho các cộng đồng cƣ dân.
Tuy rằng vấn đề TTĐP đƣợc quan tâm nghiên cứu từ sớm, nhƣng do ảnh hƣởng của
thuyết vị chủng tộc và thuyết giai tầng đã hình thành nên tƣ tƣởng bài trừ những tri
thức địa phƣơng của các thuộc địa, coi đó là lạc hậu, ngu dốt, phi khoa học. Hay nói
cách khác, TTĐP của ngƣời dân lúc này bị “lề hóa” (R.Ellen, 2010, tr11).
Những thập niên đầu thế kỷ XX, nhằm khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thƣờng
chiến tranh, các nƣớc phƣơng Tây tích cực thực hiện các dự án theo hình thức “Top
- down” đối với cá nƣớc thuộc địa. Thực chất những dự án này thể hiện ý mốn chủ
quan của các nƣớc thực dân, hoàn toàn lờ đi vai trò của cƣ dân chủ thể, chú trọng
đến kết quả của các dự án hơn là nhu cầu của chính cộng đồng thụ hƣởng dự án
(quan điểm etic). Từ đó, các mô hình kinh tế - xã hội vốn đƣợc nghiên cứu trong
các phòng thí nghiệm phƣơng Tây đƣợc mang đi áp dụng rộng rãi vào thực tiễn xã
hội của các nƣớc thuộc thế giới thứ ba mà hoàn toàn phủ định vai trò nền tảng của
những giá trị văn hóa, kiến thức về tự nhiên, xã hội của cƣ dân bản địa. Điều đó tất
yếu dẫn đến hậu quả là hàng loạt các dự án phát triển sau thế chiến thứ II của các
nƣớc thực dân bị thất bại, mà theo nhiều nhà khoa học, những dự án đó là những
“bài thơ hay” nhƣng lại là “khoa học dở”(R.Ellen.., 2010). Từ thực trạng đó, vấn
Năm 1988, tại Hội nghị quốc tế lần thứ nhất về sinh thái tộc ngƣời đƣợc tổ
chức tại Belém (Brazil) đƣa ra bản tuyên bố Belém liên quan đến các tri thức truyền
thống của tộc ngƣời. Xuất phát từ thực tế “các khu rừng nhiệt đới và các hệ sinh
thái mong manh khác đang dần biến mất, rất nhiều giống loài, cả động và thực vật
đang bị đe dọa tuyệt chủng, các văn hóa bản địa trên toàn thế giới đang bị phá vỡ
14
và hủy hoại”, trên cơ sở nhận thức về mối liên hệ gắn kết giữa đa dạng sinh học và
đa dạng văn hóa, bản tuyên bố Belém đãđƣa ra hàng loạt những khuyến cáo trong
hành động đối với vấn đề phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế … cho các tộc
ngƣời trên cơ sở tôn trọng kinh nghiệm truyền thống ở các địa phƣơng. Từ đóđƣa ra
chiến lƣợc bảo tồn các giá trị văn hóa địa phƣơng(M. Osseweijer, 1997).
Tại Hội thảo của LHQ về môi trƣờng và phát triển (UNCED) năm 1992 tại
Rio, hay còn đƣợc gọi là Hội nghị thƣợng đỉnh Trái Đất (Noejovich 2001), cộng
đồng quốc tế tiếp tục thừa nhận rằng ngƣời bản địa đóng 1 vai trò quan trọng trong
chiến lƣợc phát triển bền vững.
Năm 1996, Hội nghị Bellagio về sở hữu trí tuệ cũng đƣa ra bản tuyên bố,
trong đó khẳng định sẽ xem xét những chế độ “đặc biệt” cho việc “bảo vệ các sản
phẩm dân gian, bảo vệ các sản phẩm của di sản văn hóa, “bí quyết”để bảo vệ tri
thức (Know - how) về sinh học và sinh thái của các dân tộc truyền thống”
(R.Ellen…, 2010, tr77). Vấn đề tri thức tộc ngƣời đãđƣợc xem xét ở một mức độ
cao hơn và chính thức đƣợc luật pháp quốc tế bảo trợ.
Vấn đề TTĐP cũng nhận đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học ở cả lĩnh vực tự nhiên lẫn xã hội. Các nghiên cứu khoa học dƣờng nhƣ cố gắng
ở mức độ cao nhất trong việc tôn trọng diễn ngôn từ phía cộng đồng, thậm chí đƣợc
coi nhƣ nguyên tắc cơ bản trong nghiên cứu điền dã xã hội học và dân tộc học
(C.Culas, 2010). Có thể nói, từ sau những năm 60 trở lại đây, TTĐP trở thành một đề
tài nghiên cứu hấp dẫn đối với các nhà khoa học phƣơng Tây với hàng loạt những
là vô cùng quan trọng để giải quyết những vấn đề liên quan đến nguồn lợi từ tự
nhiên (PMcElwee,2010, tr.20).
Tựu chung lại, từ những năm 60, 70 thế kỷ XX đến nay có nhiều công trình
nghiên cứu về TTĐP thuộc về hai quan điểm nghiên cứu sau:
Quan điểm thứ nhất: coi TTĐP nhƣ là một nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái
của môi trƣờng, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Luận điểm này đƣợc
thể hiện trong nghiên cứu về ngƣời Aru của M.Osseweijer đãđƣa ra kết luận chính
những tri thức ngoại nhập là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái môi trƣờng của
ngƣời bản địa.
Quan điểm thứ hai: coi TTĐP là cách tiếp cận hữu hiệu trong việc giải quyết
những vấn đề suy giảm môi trƣờng sinh thái ở các cộng đồng dân cƣ. TTĐP đƣợc
16
coi là “một nguồn tài nguyên quan trọng có thể hỗ trợ quá trình phát triển một cách
có hiệu quả về mặt chi phí, có sự tham gia và bền vững… Nó là cơ sở để đưa ra
quyết định ở cấp địa phương trong nông nghiệp, chăm sóc sức khỏe, chuẩn bị thức
ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên và là cơ sở cho các hoạt động khác
trong các cộng đồng nông thôn”(P.McElwee, 2010, tr.69). Rất nhiều nhà nghiên
cứu TTĐP đồng thuận với ý kiến này nhƣ C.Culas, P.McElwee, D.A.Posey,
R.Ellen, H.Haris… Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cũng đồng quan điểm cho rằng
TTĐP là một phạm trù động, nó luôn có những biến động trên cơ sở nền tảng văn
hóa địa phƣơng cụ thể.
Vào năm 1997, một cuộc hội thảo với chủ đề “Tri thức bản địa về môi
trường và những biến đổi”đãđƣợc tổ chức tại trƣờng Đại học Kent (Canterbury,
Hoa Kỳ). Hội thảo nhằm mục đích thảo luận chuyên sâu về khái niệm “tri thức bản
địa” bao gồm các vấn đề: sự hình thành tri thức, cách thức vận hành nó trong thực
tiễn xã hội và các bƣớc phát triển thăng trầm của nó. Từ đó, các nhà khoa học đánh
giá một cách khách quan và nghiêm túc về thực trạng nghiên cứu tri thức bản địa
nghiên cứu về văn hóa.
Tổ chức Nông Lƣơng Liên hợp quốc (FAO) trong diễn ngôn của mình cũng
đƣa ra quan điểm về TTĐP: “là những tri thức được hình thành và phát triển theo
thời gian, và vẫn luôn phát triển. TTĐP phụ thuộc vào kinh nghiệm; thường xuyên
được kiểm nghiệm trong thực hành qua nhiều thế kỷ; phù hợp với văn hóa và môi
trường địa phương; được thể hiện trong thực hành xã hội, các tổ chức, mối liên hệ
và các nghi lễ; được lưu giữ bởi các cá nhân và cả cộng đồng; linh hoạt và luôn
biến đổi”(FAO, 2007).
Trên đây là một số quan điểm nghiên cứu chính về TTĐP của các nhà khoa
học trên thế giới trong thời gian qua. Tuy còn những ý kiến khác nhau nhƣng tựu
chung lại đều xem xét TTĐP với nền tảng là văn hóa bản địa là cơ sở để đƣa ra
những chính sách, những chƣơng trình hành động xuất phát vì lợi ích của cộng
đồng. TTĐP trở thành nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của các chƣơng
trình phát triển. Nhƣng cùng với đó phải có quan điểm phê phán khách quan trong
đánh giá tính hiệu quả và hợp lý của các tri thức đó.
18
1.1.2. Nghiên cứu TTĐP ở Việt Nam
Vấn đề tri thức truyền thống của các tộc ngƣời đãđƣợc các nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu từ sớm nhƣng nó chƣa thực sự trở thành một lĩnh vực nghiên
cứu chuyên biệt. Trong các nghiên cứu về các tộc ngƣời, đặc biệt là những công
trình Dân tộc học có đề cập đến các tập quán sinh hoạt, đến những cách thức sản
xuất và sinh hoạt nhƣ là một bộ phận hữu cơ cấu thành nên văn hóa tộc ngƣời. Do
vậy nó là một phần không thể thiếu trong các chuyên khảo dân tộc học, là đặc điểm
để nhận dạng các tộc ngƣời ở Việt Nam. Phải đến những năm 90 của thế kỷ XX,
cùng với những chuyển biến về chính trị đã giúp cho nền khoa học Việt Nam có
điều kiện hội nhập vào nền khoa học Thế giới. Đây là thời kỳ mà vấn đề phát triển
bền vững đƣợc đặt ra hết sức cấp thiết đối với tất cả các ngành khoa học. Đối với
vai trò quan trọng trong việc định hƣớng nghiên cứu về hệ thống tri thức địa
phƣơng của các cộng đồng ngƣời.
Trần Hồng Hạnh cũng đƣa ra quan điểm về TTĐP: “TTĐP được hiểu là các
kiến thức bao gồm cả tri thức bản địa và tri thức truyền thống, đãđược cư dân sống
tại một địa bàn cụ thể tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ
khác, và chịu sự tác động của kiến thức mới hay hiện đại. Để thích ứng với môi
trường biến đổi, cả về mặt tự nhiên, kinh tế - xã hội và chính trị, người dân đã tích
lũy những kiến thức vốn có từ lâu đời kết hợp với việc áp dụng các kiến thức hiện
đại vào cuộc sống thường ngày của họ. Dần dần, thông qua sự kết hợp này, các
kiến thức mới được người dân địa phương hóa cho phù hợp với điều kiện môi
trường sống của họ và trở thành các kinh nghiệm của họ. Do đó, tri thức của người
dân luôn ở trạng thái động, thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của người
dân địa phương cũng như trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác” (Trần
Hồng Hạnh, 2005, tr 28).
Có thể nói định nghĩa của Trần Hồng Hạnh cơ bản đã giải quyết vấn đề về
nội hàm cho khái niệm “tri thức địa phƣơng”. Trong đó thể hiện rõ nhất sự phân
biệt hệ tri thức này với các loại tri thức khác trong mỗi tộc ngƣời với ý nghĩa đây là
hệ tri thức mang tính chất bao trùm (vừa mang tính truyền thống, vừa mang tính
hiện đại, vừa là bản địa, vừa là kết quả của quá trình tiếp biến văn hóa).
Cách tiếp cận thứ hai: TTĐP được tiếp cận theo quan điểm sinh thái học
nhân văn.
20
Từ những năm 90 thế kỷ XX trở lại đây, TTĐP trở thành đề tài nghiên cứu
phổ biến. Nhiều vấn đề về môi trƣờng đƣợc đặt ra nhƣ cạn kiệt nguồn tài nguyên, ô
nhiễm môi trƣờng ảnh hƣởng lớn đến nền kinh tế cũng nhƣ sức khỏe của ngƣời dân.
Bên cạnh đó, những giá trị văn hóa truyền thống của các cộng đồng ngƣời ngày
càng bị mai một. Vấn đề phát triển bền vững đƣợc đặt ra ngày càng cấp thiết hơn
Cúc khá đầy đủ, đề cập đến các vấn đề về lịch sử hình thành cũng nhƣ cơ chế tồn tại
của chúng. Bên cạnh đó, tác giả cũng quan tâm đến nội hàm của nó bao gồm mối
quan hệ giữa con ngƣời - tự nhiên và quan hệ giữa con ngƣời - con ngƣời. Đây cũng
là đặc trƣng của trƣờng phái sinh thái học nhân văn khi nhìn nhận về các tác nhân
trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
Cũng trên cơ sở nhằm làm rõ mối quan hệ giữa sinh thái môi trƣờng và con
ngƣời cũng nhƣ những tác động của môi sinh đối với các tộc ngƣời nhất định, Phạm
Quang Hoan cũng đãđƣa ra quan điểm về TTĐP trong các nghiên cứu của mình.
(Phạm Quang Hoan, 2003 tr.87). Với việc nhìn nhận tri thức địa phƣơng ở hai góc
độ, tác giả đã cho thấy đƣợc vai trò của tự nhiên trong việc hình thành nền văn hóa
của các tộc ngƣời. Không những thế, ứng với mỗi một vùng sinh thái sẽ hình thành
nên những giá trị văn hóa nhất định. Điều đóđã tạo nên “bản sắc văn hóa” của các
tộc ngƣời, phân biệt họ với các tộc ngƣời khác.
Cách tiếp cận thứ ba: TTĐP đồng nghĩa với luật tục, với kiến thức kỹ thuật
bản địa, với văn hóa dân gian, với phong tục tập quán… của các tộc người
Nhƣ trên đã nói, các học giả có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ
TTĐP, trong đó có quan điểm đồng nhất với “luật tục” hoặc với những giá trị văn
hóa của tộc ngƣời. Trong đó tiêu biểu là quan điểm của các học giả sau:
Ngô Đức Thịnh đã cho rằngluật tục chính là một bộ phận tạo nên “tri thức
bản địa”. Đó là các cơ chế quản lý xã hội truyền thống đƣợc cả cộng đồng thừa
nhận và tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Có thể đó là những văn bản thành văn,
nhƣng phần đa trong số chúng là những văn bản bất thành văn, đƣợc truyền qua các
thế hệ theo cơ chế truyền miệng hoặc thông qua “thực hành sản xuất” và “thực hành
xã hội”. Do vậy, nghiên cứu về tri thức bản địa nói riêng và tri thức địa phƣơng nói
chung là phải dành sự quan tâm đặc biệt đối với hệ thống “lệ làng” này (Hoàng
Xuân Tý, 2000,tr.312)
22
23