Đại học Quốc gia hà Nội
Tr-ờng Đại học khoa học xã hội và nhân văn
Mai văn tùng
Tri thức địa ph-ơng về sử dụng và
quản lý nguồn tài nguyên thiên
nhiên của ng-ời m-ờng ở huyện
bá th-ớc, tỉnh thanh hoá
Luận án tiến sĩ lịch sử
Chương 2: Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên
đất
38
2.1. Nhận thức của người Mường về các loại đất
38
2.2. Tri thức địa phương về sử dụng tài nguyên đất
39
2.3. Tri thức địa phương về quản lý tài nguyên đất
74
2.4. Tiểu kết
84
Chương 3: Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên
nước
86
3.1. Phân loại nguồn nước
86
3.2. Tri thức địa phương trong việc sử dụng tài nguyên nước
88
3.3. Tri thức địa phương trong việc quản lý tài nguyên nước
110
3.4. Tiểu kết
120
Chương 4: Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên
rừng
122
4.1. Khái quát về các loại rừng
122
4.2. Tri thức địa phương trong việc sử dụng tài nguyên rừng
124
4.3. Tri thức địa phương trong việc quản lý tài nguyên rừng
BẢNG KÊ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL
Ban quản lý
GS.TS
Giáo sư, Tiến sĩ
KTCTTL
Khai thác công trình thuỷ lợi
KHXH&NV
Khoa học Xã hội và Nhân văn
NN&PTNT
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Nxb
Nhà xuất bản
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
PGS
Phó giáo sư
PGS.TS
Phó giáo sư, Tiến sĩ
TS
Tiến sĩ
Tr
3. Bảng 2.2: Những giống cây trồng cơ bản ở vườn của người Mường huyện
Bá Thước
69
4. Bảng 5.1: Biến động đất đai thời kỳ 1995 - 2000
161
5. Bảng 5.2: Biến động đất đai thời kỳ 2001 - 2005
161
6. Bảng 5.3: Tổng hợp hiện trạng sử dụng đất huyện Bá Thước năm 2008
165
7. Bảng 5.4: Mô hình quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở huyện Bá
Thước
171
8. Bảng 5.5: Chỉ tiêu phát triển nuôi trồng thuỷ sản huyện Bá thước
173
9. Bảng 5.6: Hiện trạng sử dụng đất lâm nghiệp huyện Bá Thước năm 2008
183
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận án
Mỗi tộc ngƣời ở các giai đoạn khác nhau vẫn bảo lƣu những tri thức địa
phƣơng về môi trƣờng sống của mình. Các phƣơng thức quản lý tài nguyên, các kỹ
thuật canh tác truyền thống… của ngƣời dân địa phƣơng đôi khi còn phù hợp hơn,
bền vững hơn sự tác động của các yếu tố kỹ thuật hiện đại. Tuy nhiên, điều này
không dễ đƣợc thừa nhận.
Trong thực tế, không phải lúc nào, ở đâu việc áp dụng các tiến bộ khoa học -
kỹ thuật và công nghệ hiện đại cũng mang lại kết quả tốt nhƣ mong muốn. Cuộc
Cách mạng Xanh ở Ấn Độ và Inđônêxia những năm 1960 và 1970 thế kỷ trƣớc
đƣợc thế giới thừa nhận nhƣ một đóng góp to lớn làm tăng sản lƣợng lƣơng thực.
Nó đã góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực ở một số quốc gia. Tuy nhiên, thực tế
thể. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy vốn tri thức mà các tộc ngƣời tích luỹ đƣợc
trong lao động sản xuất, trong quản lý xã hội, ứng xử với môi trƣờng tự nhiên trải
qua dòng thời gian và đƣợc trao truyền qua các thế hệ trong quá trình thích nghi với
các điều kiện sinh thái nhân văn, đang có vai trò nhất định trong thực tiễn. Bởi lẽ, tri
thức địa phƣơng không chỉ có giá trị về mặt kỹ thuật, về giải pháp phát triển bền
vững, mà còn là kho tài nguyên văn hoá dân gian vô giá của nhân loại.
Việc nghiên cứu các tộc ngƣời ở Việt Nam nói chung và tri thức địa phƣơng
của ngƣời Mƣờng nói riêng đang là vấn đề đặt ra không chỉ nhận thức trong di sản
văn hoá tộc ngƣời, mà còn là đòi hỏi cấp bách trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nƣớc nhƣ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng
sản Việt Nam chỉ rõ: “Bảo tồn và phát huy các di sản văn hoá dân tộc, các giá trị văn
học, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; tôn tạo các
di tích lich sử, văn hoá. Tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn
hoá của nhân loại” [41, tr.38].
Ngoài ra, việc nghiên cứu văn hóa nói chung và tri thức tộc ngƣời nói riêng,
đặc biệt là ứng xử của con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên là vấn đề đặt ra không chỉ
trong việc nhận thức di sản văn hoá tộc ngƣời, di sản văn hoá dân tộc mà còn là đòi
hỏi cấp bách trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc nhƣ Nghị quyết Đại
3
hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ đối với nƣớc
ta hiện nay là: “Phát triển toàn diện kinh tế nông thôn , gắn phát triển nông, lâm,
ngƣ nghiệp với phát triển ngành kinh tế thủ công nghiệp ”
Là ngƣời con quê hƣơng xứ Thanh, làm công việc giảng dạy và nghiên cứu
Dân tộc học, trong nhiều năm qua chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhiều vấn đề có
liên quan đến ngƣời Mƣờng, có dịp đi điền dã tại nhiều địa bàn có ngƣời Mƣờng sinh
sống ở miền núi Thanh Hoá. Nhận thấy, ngƣời Mƣờng có cả một kho tàng tri thức
địa phƣơng rất phong phú và đa dạng, trong đó đặc sắc nhất là tri thức địa phƣơng
về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cũng bởi lý do đó chúng tôi
chọn đề tài: “Tri thức địa phương về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên
Địa bàn nghiên cứu là huyện Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hoá. Đây là huyện có
ngƣời Mƣờng sinh sống lâu đời, có nhiều mƣờng cổ nhất ở Thanh Hoá, còn bảo lƣu
nhiều giá trị văn hoá truyền thống. Tuy nhiên, trong quá trình điền dã, khảo sát thực
địa chúng tôi chọn một số làng Mƣờng ở các xã Thiết Ống, Thiết Kế, Điền Trung,
Điền Hạ, Điền Lƣ thuộc hai mƣờng gốc (mƣờng Ống và mƣờng Khô), có lịch sử lâu
đời làm điểm nghiên cứu.
4. Nguồn tài liệu của luận án
Để thực hiện luận án, chúng tôi tham khảo và sử dụng các nguồn tài liệu
thành văn đã công bố nhƣ: các công trình nghiên cứu, bài viết có liên quan trực tiếp,
gián tiếp đến đề tài. Đây là nguồn tƣ liệu quý giá, giúp chúng tôi có đƣợc cái nhìn
toàn cảnh về đối tƣợng nghiên cứu.
Tuy nhiên, nguồn tƣ liệu đƣợc sử dụng chủ yếu trong luận án là tƣ liệu điền
dã Dân tộc học thông qua quan sát trực tiếp, quan sát tham dự, thảo luận nhóm… do
chúng tôi thu thập tại địa bàn nghiên cứu trong nhiều năm qua.
Ngoài ra, luận án còn sử dụng các số liệu thống kê về địa lý dân cƣ, các báo
cáo, văn bản, chỉ thị của các cấp chính quyền có liên quan; các báo cáo, văn bản của
Đảng và Nhà nƣớc, của các Bộ, ngành ở Trung ƣơng.
5. Đóng góp của luận án
Về mặt khoa học:
- Luận án khái quát những đặc điểm riêng mang tính địa phƣơng trong việc
5
sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của ngƣời Mƣờng sinh sống ở
vùng thung lung chân núi, đồng thời qua đó thấy đƣợc những yếu tố bảo lƣu cũng
nhƣ biến đổi của nội dung nghiên cứu giữa xã hội truyền thống và hiện tại.
- Góp phần làm rõ thêm hệ thống tri thức địa phƣơng của ngƣời Mƣờng ở
một địa phƣơng cụ thể trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Đồng thời góp thêm tƣ liệu khoa học về sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên trong
xã hội hiện đại.
- Góp phần nhận diện bức tranh về ngƣời Mƣờng ở Bá Thƣớc trong các lĩnh
vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay [179, tr.12].
Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cụm từ “tri thức địa phƣơng” (Local
Knowledge) hay “tri thức bản địa” (Indigenous Knowledge), “tri thức truyền thống”, “tri
thức dân gian”, “tri thức tộc ngƣời”… đã đƣợc sử dụng ngày càng phổ biến trong một số
công trình nghiên cứu.
Lê Trọng Cúc đồng nhất “tri thức địa phƣơng” với “văn hoá truyền thống” [27];
Ngô Đức Thịnh gọi là “tri thức dân gian”, “tri thức địa phƣơng”, “tri thức bản địa [143];
Hoàng Xuân Tý cho rằng cả ba khái niệm “kiến thức bản địa”, “kiến thức truyền thống”
hay “kiến thức địa phƣơng” gần đồng nghĩa với nhau [179]. Nguyễn Duy Thiệu gọi là
“tri thức bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức của ngƣời bản địa” [140]; Phạm Quang
Hoan gọi là “tri thức địa phƣơng”, “tri thức bản địa”, “tri thức dân gian” [76-78]; Vi Văn
An [1], Trịnh Hồng Lệ [89] gọi là “tri thức dân gian”; Phạm Đức Dƣơng [38], Trần
Công Khánh, Trần Văn Ơn [86], Nguyễn Bảo Đồng [47], Nguyễn Xuân Hồng [79-80],
Bùi Hoài Sơn [124], Vũ Trƣờng Giang [54-55], Nguyễn Thị Thu Hà [67], Nguyễn Thị
Quy [120].v.v… gọi là “tri thức bản địa”; Hoàng Hữu Bình [13], Đặng Thị Hoa [75],
Trần Hồng Hạnh [70], Trần Bình [16], Vũ Thanh Hiền [72], Mai Văn Tùng [173-176],
Nguyễn Thị Thanh Nga [106], Nguyễn Thị Thu [154].v.v… gọi là “tri thức địa phƣơng”.
Từ những cách gọi khác nhau nhƣ trên, các nhà nghiên cứu Việt Nam và nƣớc
ngoài cũng có những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của “tri thức địa
phƣơng”. PGS.TS Lê Trọng Cúc cho rằng:
Tri thức địa phƣơng hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của cộng
đồng cƣ dân bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau. Tri thức địa phƣơng đƣợc
7
hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi
trƣờng xã hội, đƣợc hình thành dƣới nhiều dạng khác nhau, đƣợc truyền từ đời
này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó
hƣớng đến việc hƣớng dẫn và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ con ngƣời với
thiên nhiên [29, tr.215].
GS.TS Ngô Đức Thịnh cho rằng:
động, thay đổi thông qua sự sáng tạo và đổi mới của ngƣời dân địa phƣơng cũng
nhƣ trong mối liên hệ với các hệ thống tri thức khác [70, tr.28].
Một số tác gỉa nƣớc ngoài nhƣ TS Jonh Amble thì cho rằng:
Tri thức địa phƣơng có thể đƣợc phân biệt làm hai loại chính. Một loại có thể
đƣợc gọi là “tri thức kỹ thuật”. Một loại khác liên quan đến các tên gọi nhƣ: “Luật
lệ địa phƣơng” hoặc là “Phong tục” hay “Tục lệ”… Sự nghiên cứu của nhiều
vùng châu Á cho thấy rằng những ngƣời nông dân, ngƣời chăn thả gia súc hoặc
các nhóm thợ săn ở vùng cao có vốn tri thức kỹ thuật của địa phƣơng rất to lớn,
rất cần cho việc xây dựng các chƣơng trình quản lý, phát triển vùng đồi núi. Vốn
hiểu biết đó là sự kết hợp hài hoà các điều kiện của địa phƣơng. Những nghiên
cứu, đặc biệt là từ các lĩnh vực dân tộc - thực vật học đã cho thấy những ngƣời
làm nông nghiệp ở vùng cao thƣờng có sự hiểu biết chi tiết về chế độ ẩm trong
vùng, về tiềm năng của đất đai, về kỹ thuật trồng trọt, về chọn giống, về các loài
động vật và thực vật…[84, tr.36].
Theo Louise Grenier cho rằng:
Kiến thức bản địa (tri thức địa phƣơng) là kiến thức của bất kỳ một cộng đồng
nào đó; nó đƣợc tồn tại bên trong và đƣợc phát triển trong những hoàn cảnh cụ
thể của các tộc ngƣời. Tri thức địa phƣơng đƣợc tất cả các thành viên ở mọi lứa
tuổi và giới khác nhau trong một cộng đồng tạo dựng lên. Tất cả mọi thành viên
trong cộng đồng đã tạo nên sự khác biệt và chất lƣợng của tri thức địa phƣơng.
Nó biểu hiện sự tích luỹ của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua các quan sát tinh tế
và các thử nghiệm công phu, đƣợc thể hiện trong các câu chuyện, bài ca, văn học
dân gian, trong canh tác nông nghiệp, chăn nuôi, hệ thống phân loại, luật tục, tín
ngƣỡng, nghi lễ,…[212].
9
Theo Charles F.Keyes cho rằng:
Hệ thống tri thức địa phƣơng đƣợc coi là các tƣ tƣởng thực nghiệm. Tƣ tƣởng
thực nghiệm là cách con ngƣời phát triển các ý tƣởng, khái niệm và thái độ để
thực hiện các hoạt động thƣờng ngày. Tƣ tƣởng thực nghiệm thúc đẩy các nhu
mật thiết với nhau, mục đích cuối cùng là bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên,
tránh tình trạng cạn kiệt, đồng thời duy trì sự đa dạng sinh học và bảo tồn hệ sinh thái.
1.1.2. Về nguồn tài nguyên thiên nhiên
Trong kho tàng tri thức địa phƣơng nó chứa đựng tất cả các lĩnh vực gồm các lĩnh
vực của cuộc sống xã hội nhƣ: tri thức tự nhiên và môi trƣờng (kể cả vũ trụ); tri thức về
bản thân con ngƣời (cơ thể học, dƣỡng sinh, trị bệnh); tri thức về sản xuất lƣơng thực,
thực phẩm, chăn nuôi; khai thác và quản lý hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên; tri thức
về ứng xử xã hội và quản lý cộng đồng, các giá trị xã hội, các luật tục truyền thống trong
làng bản; tri thức về sáng tạo nghệ thuật.
Nội hàm khái niệm tài nguyên thiên nhiên bao gồm các tài nguyên đất, tài nguyên
rừng, tài nguyên nƣớc, tài nguyên khoáng sản và tài nguyên môi trƣờng - khí hậu. Tuy
nhiên, trong nội dung nghiên cứu của đề tài luận án chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên
cứu là sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên nƣớc.
Đây là 3 nguồn tài nguyên có mối quan hệ mật thiết với nhau và có vị trí vô cùng quan
trọng trong đời sống của ngƣời Mƣờng, tạo nên bản sắc văn hoá Mƣờng.
Trong nội dung nghiên cứu này chúng tôi sẽ tập trung làm rõ nhận thức từng loại
tài nguyên trong đời sống của ngƣời Mƣờng ở huyện Bá Thƣớc, tỉnh Thanh Hoá; cách
thức sử dụng và quản lý (bảo vệ) nguồn tài nguyên thiên nhiên qua các thời kỳ, ảnh
hƣởng của các yếu tố truyền thống trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên hiện nay;
cách thức xây dựng quy ƣớc sử dụng và bảo vệ hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện
có trên cơ sở kế thừa những giá trị, những mặt tích cực của quy ƣớc truyền thống; các
kiến thức và giải pháp của tộc ngƣời Mƣờng nhằm duy trì sự đa dạng sinh học của nguồn
tài nguyên thiên nhiên cũng nhƣ duy trì hệ sinh thái thung lũng (valley ecology) - địa bàn
sinh sống chủ yếu của ngƣời Mƣờng.
Trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên đất có tri thức sản xuất nông
nghiệp, bao gồm các tri thức trong trồng trọt, nhất là cách phân loại, sử dụng và bảo vệ
11
đất; kinh nghiệm chọn giống cây trồng; tri thức xen canh gối vụ trên đất dốc; tri thức về
hệ thống tƣới tiêu, sử dụng phân bón; tri thức về lịch thời vụ…
nhận thức đúng vị trí cũng nhƣ vai trò của nó trong mỗi cộng đồng, dân tộc ở từng
địa phƣơng cụ thể.
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về
tri thức địa phƣơng, tri thức bản địa, tri thức dân gian, hay sự phát triển bền
vững.v.v Trong số đó, PGS.TS Lê Trọng Cúc có khá nhiều bài viết, sách chuyên
sâu về lĩnh vực này nhƣ: Sinh thái học và con người [24]; Hệ sinh thái nông nghiệp
trung du miền Bắc Việt Nam [25]; Nghiên cứu sinh thái nhân văn và quản lý bền
vững các hệ sinh thái miền núi Việt Nam [26]; Vai trò của tri thức địa phương đối
với phát triển bền vững vùng cao, trong Nông nghiệp trên đất dốc - những thách
thức và tiềm năng [27]; Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên [29]; Phát triển
bền vững miền núi Việt Nam: 10 năm nhìn lại và những vấn đề đặt ra [30]; Mối
quan hệ giữa kiến thức bản địa, văn hoá và môi trường ở miền núi Việt Nam [180].
Phải nói rằng đây là một tập hợp các nghiên cứu liên quan trực tiếp và gián tiếp đến
tri thức địa phƣơng (tri thức bản địa) trong hệ sinh thái nông nghiệp, trên vùng đất
dốc, của đồng bào vùng cao trong nông nghiệp và quản lý các nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Theo tác giả, tri thức địa phƣơng đƣợc hình thành trong quá trình lịch
sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trƣờng xã hội, đƣợc hình thành dƣới
nhiều dạng khác nhau, đƣợc truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực
tiễn sản xuất và thực hành xã hội. Nó hƣớng đến việc hƣớng dẫn và điều hoà các
quan hệ xã hội, quan hệ con ngƣời với thiên nhiên [29]. Ngoài ra, tác giả đã đi sâu
phân tích vai trò của tri thức địa phƣơng đối với sự phát triển bền vững vùng cao.
Cũng nhƣ đánh giá rất cao tri thức địa phƣơng, coi đó nhƣ là những giá trị truyền
thống phải đƣợc kế thừa trong sự phát triển hiện nay [27]…
PGS.TS Hoàng Xuân Tý trong công trình Kiến thức bản địa của đồng bào
vùng cao trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên [180] đã cung cấp
hàng chục bài viết liên quan đến các khái niệm, vai trò của kiến thức bản địa và các
nghiên cứu cụ thể về tri thức địa phƣơng của các dân tộc. Trƣớc hết, trong phần một
của cuốn sách tác giả đã đƣa ra các thuật ngữ liên quan đến tri thức địa phƣơng nhƣ
13
nhiên… trải qua dòng thời gian và đƣợc trao truyền qua các thế hệ trong quá trình thích
nghi với các điều kiện sinh thái nhân văn, đang có một vai trò nhất định trong thực tiễn
[76-77]. Đồng thời, tác giả cũng nêu lên thực trạng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nƣớc và hội nhập quốc tế, kho tàng tri thức địa phƣơng quý báu của các dân tộc thiểu số
nƣớc ta đang đứng trƣớc nguy cơ mai một, cùng với những biến đổi về văn hoá cũng
đang diễn ra khá nhanh. Và từ đó, tác giả nhận thấy rằng các chƣơng trình, dự án phát
triển và các ngành, các cấp quản lý ngày càng phải chú ý nhiều hơn tới vai trò của tri
thức địa phƣơng cũng nhƣ việc vận dụng các kiến thức đó vào đời sống thực tiễn tộc
ngƣời. Theo tác giả, nhiệm vụ đặt ra cho các nhà dân tộc học/nhân học là phải xây dựng
một chƣơng trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và chuyên sâu về tri thức địa
phƣơng nhằm góp phần vào bảo tồn và phát triển vốn kiến thức dân gian quý báu của các
tộc ngƣời ở nƣớc ta [76]. Những thông tin về các khái niệm và những nghiên cứu cụ thể
về tri thức địa phƣơng cũng nhƣ những vấn đề nghiên cứu đặt ra có giá trị tham khảo
quan trọng đối với luận án.
Ngoài ra, còn có một số công trình và nhiều bài báo nghiên cứu khác về tri
thức địa phƣơng (tri thức bản địa) đƣợc đăng tải trên các tạp chí, kỷ yếu hội nghị,
hội thảo khoa học của các tác giả: Ngô Đức Thịnh [147], [153]; Phạm Đức Dƣơng
[38], Trần Công Khánh, Trần Văn Ơn [86]; Nguyễn Bảo Đồng [47]; Nguyễn Xuân
Hồng [79], [80]; Vũ Trƣờng Giang [54], [55]; Trịnh Hồng Lệ [89]; Hoàng Hữu
Bình [13]; Đặng Thị Hoa [75]; Trần Hồng Hạnh [70]; Trần Bình [16]; Vũ Thanh
Hiền [72]; Mai Văn Tùng [173], [174], [175]; Nguyễn Thị Thanh Nga [106].v.v…
Nhìn chung, tất cả các công trình và các bài nghiên cứu trên đã khẳng định
giá trị to lớn của tri thức địa phƣơng. Tuy vẫn còn những hạn chế nhất định, nhƣng
những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn đã đƣợc các nhà nghiên cứu trình bày,
trong một chừng mực nhất định, góp phần giúp luận án có cái nhìn hệ thống về vấn
đề nghiên cứu.
1.2.2. Các nghiên cứu về tri thức địa phương liên quan đến người Mường
Kể từ luận văn Tiếng Mường của E.H.Parker, công bố năm 1891, sau đó là
công trình Những ghi chép về người Mường ở tỉnh Sơn Tây của J.N.Chéon [219],
cá nhƣ đập ngăn nƣớc đánh cá và bẫy cá, những dụng cụ đánh cá nhƣ lƣới, các hình
16
thức khai thác nhƣ đánh cá tập thể. Trong đó tác giả đã có những so sánh cụ thể
giữa ngƣời Mƣờng ở Hoà Bình với ngƣời Mƣờng ở Thanh Hoá để tìm ra những nét
riêng và những điểm chung trong các hoạt động kinh tế săn bắt và đánh cá.v.v
Nhìn chung, công trình Người Mường của Cuisinier là công trình đầu tiên
nghiên cứu những hoạt động sản xuất nông nghiệp, săn bắt và đánh cá. Tuy chƣa
đầy đủ và hệ thống nhƣng dù sao công trình cũng đã cung cấp những tƣ liệu quan
trọng liên quan trực tiếp đến tri thức địa phƣơng của ngƣời Mƣờng trong việc sử
dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Từ năm 1975 đến nay, nghiên cứu về ngƣời Mƣờng nói chung và nghiên cứu
về tri thức địa phƣơng nói riêng đƣợc đầu tƣ nhiều hơn và đã đạt đƣợc những kết
quả nhất định. Những nghiên cứu đó đƣợc công bố trong một số cuốn sách, kỷ yếu
hội thảo, tạp chí, luận văn, khoá luận nhƣ: Dân tộc Mường trong Các dân tộc ít
người ở Việt Nam (Các tỉnh phía Bắc) của Viện Dân tộc học [187]; Góp phần
nghiên cứu văn hoá và tộc người của Từ Chi [18]; Gia đình và hôn nhân của dân
tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ của Nguyễn Ngọc Thanh [136]; Người Mường ở Tân
Lạc Hoà Bình của Nguyễn Thị Thanh Nga, Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên) [105];
Tri thức địa phương của người Mường trong sử dụng và quản lý tài nguyên thiên
nhiên của Nguyễn Ngọc Thanh, Trần Hồng Thu (chủ biên) [137]; Dân tộc Mường
trong Địa chí Thanh Hoá, tập I [159]; Tục ngữ, Dân ca Mường Thanh Hoá của
Minh Hiệu [73]; Tục ngữ Mường Thanh Hoá của Cao Sơn Hải [68]; Tri thức địa
phương trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của người
Mường của Mai Văn Tùng [173]; Tri thức dân gian Mường trong ứng xử với môi
trường tự nhiên của Trịnh Hồng Lệ [89]; Tri thức địa phương trong quản lý và sử
dụng đất của người Mường của Nguyễn Thị Thu [154]; Tri thức địa phương của
người Mường trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường của Vũ Thanh Hiền
[72]; Văn hóa nước của người Mường của Bùi Quang Thắng [139], Tri thức địa
phương của người Mường ở Điền Trung - Bá Thước - Thanh Hoá trong sử dụng và
sử dụng và quản lý tài nguyên nƣớc (nƣớc sinh hoạt, nƣớc canh tác, nƣớc nuôi trồng
và đánh bắt thuỷ sản); trong sử dụng và quản lý tài nguyên rừng; đồng thời, chỉ ra
những điểm tƣơng đồng và khác biệt về tri thức địa phƣơng trong sử dụng và quản
18
lý tài nguyên thiên nhiên của ngƣời Mƣờng ở các địa phƣơng khác nhau. Có thể nói,
đây là công trình có giá trị về mặt tƣ liệu cũng nhƣ phƣơng pháp tiếp cận để chúng
tôi tham khảo trong quá trình thực hiện luận án.
Nguyễn Thị Thu đã tập trung nghiên cứu tri thức địa phƣơng của ngƣời
Mƣờng trong việc quản lý và sử dụng đất ở một xóm cụ thể của ngƣời Mƣờng (xóm
Xè, xã Văn Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ). Tác giả đã góp phần tìm hiểu
những tri thức địa phƣơng trong quản lý và canh tác ruộng nƣớc, cụ thể là tri thức
trong điều phối thuỷ lợi, trong bảo vệ mùa và trong làm đất, gieo cấy, chăm sóc, thu
hoạch và chọn giống. Bên cạnh đó, tác giả còn nghiên cứu tri thức địa phƣơng trong
quản lý đất đồi rừng, cụ thể trong việc bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ hoa màu và sản
phẩm rừng; những tri thức trong canh tác vƣờn và đồi rừng nhƣ tri thức làm đất,
gieo trồng, chăm sóc thu hoạch và chọn giống cây trồng [154].
Vũ Thanh Hiền trong khoá luận của mình đã tập trung nghiên cứu về tri thức
địa phƣơng trong việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trƣờng của
ngƣời Mƣờng ở huyện Kim Bôi, tỉnh Hoà Bình. Tác giả đã quan tâm đến tri thức
trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất, nhƣ cách phân loại đất, chọn đất, kỹ thuật
làm đất, kinh nghiệm luân canh cây trồng, lịch thời vụ, kỹ thuật canh tác nƣơng rẫy,
ruộng bậc thang và kinh nghiệm sử dụng phân bón. Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu
và khái quát tri thức địa phƣơng trong việc sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng,
nƣớc, khoáng sản và tài nguyên cây thuốc [72].
Bùi Quang Thắng cũng là tác giả của một số bài viết có liên quan đến tri thức
bản địa của các dân tộc thiểu số. Đáng chú ý là: “Văn hoá nước của người Mường -
qua khảo sát ở Tân Vinh - Lương Sơn - Hoà Bình [139]. Trong bài viết này tác giả
quan tâm đến tri thức địa phƣơng trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên
nƣớc không chỉ trong đời sống vật chất mà cả ở trong đời sống tinh thần. Đó là tầm
tri thức địa phƣơng của ngƣời Mƣờng, tác giả luận án cũng đã công bố một số bài
viết trên một số tạp chí, nhƣ: Tri thức quản lý nguồn tài nguyên rừng của người
Mường [174]; Nguồn tài nguyên nước trong tri thức người Mường [175]; Kinh
nghiệm sử dụng nước làm ruộng của người Mường ở huyện Bá Thước [178]… Mặc
dù có nhiều cố gắng, nhƣng các bài viết kể trên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất
20
định, đặc biệt là lý thuyết và phƣơng pháp tiếp cận nội dung… Song, những hạn chế
vừa nêu sẽ là bài học để rút kinh nghiệm cho các nghiên cứu tiếp theo.
Tóm lại, với tổng quan các nghiên cứu về tri thức địa phƣơng nói chung và
tri thức về sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của ngƣời Mƣờng nói
riêng trong đó cụ thể về ngƣời Mƣờng ở huyện Bá Thƣớc chƣa đƣợc quan tâm đúng
mức cả về phƣơng diện lý thuyết nghiên cứu, phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Mặc
dù chúng tôi có thể tham khảo và học hỏi nhiều điều về tri thức địa phƣơng nói
chung và tri thức địa phƣơng của ngƣời Mƣờng nói riêng cả về nội dung và phƣơng
pháp tiếp cận; nhƣng với những hạn chế nêu trên của các nghiên cứu trƣớc đó, cho
thấy cần phải có một nghiên cứu chuyên sâu về tri thức địa phƣơng của ngƣời
Mƣờng trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
1.3. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
1.3.1. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu
1.3.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Nghiên cứu về tri thức địa phƣơng nói chung cũng nhƣ nghiên cứu về tri
thức địa phƣơng trong việc sử dụng và quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên của
một nhóm ngƣời, một cộng đồng, hay một dân tộc cụ thể chính là tìm hiểu sự ứng
xử của con ngƣời tác động lên chính môi trƣờng sinh thái họ đã và đang sinh sống.
Đây là đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học (kinh tế, xã hội học, dân tộc
học, nhân học văn hoá…). Do vậy, có nhiều lý thuyết tiếp cận khác nhau.
Từ lâu, con ngƣời đã nhận thức về môi trƣờng và môi trƣờng sinh thái nói
chung, về hoàn cảnh sống tự nhiên của chính mình, về mối quan hệ qua lại giữa con
ngƣời với thiên nhiên. Trong những năm gần đây, trong mối nguy cơ của khủng