Tri thức bản địa về sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người Thái Mường Xang (Mộc Châu, Sơn La - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
*******
SA THỊ THANH NGA TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ
NGUỒN NƢỚC CỦA NGƢỜI THÁI MƢỜNG XANG
(MỘC CHÂU, SƠN LA) Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 60 22 70 LUẬN VĂN THẠC SỸ LỊCH SỬ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Hoàng Lƣơng

Hà Nội, 2013

1
MỤC LỤC


2.3. Vai trò của nguồn nƣớc trong đời sống tộc ngƣời 62
2.3.1. Nguồn nước là tiêu chí quan trọng đầu tiên để chọn nơi cư trú và xác định
ranh giới bản, mường 62
2.3.2. Nguồn nước là cơ sở tạo nên những đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của
người Thái Mường Xang 66
2.3.3. Vai trò của nguồn nước trong đời sống tín ngưỡng truyền thống 72
Tiểu kết chƣơng 2 77
Chƣơng 3. NHỮNG BIẾN ĐỔI TRONG VIỆC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ
NGUỒN NƢỚC CỦA NGƢỜI THÁI MƢỜNG XANG 79
3.1. Những biến đổi trong việc sử dụng nguồn nƣớc 79
3.1.1.Những biến đổi trong canh tác nông nghiệp 79
3.1.2. Những biến đổi trong sử dụng nguồn nước sinh hoạt 81
3.1.3. Biến đổi trong sử dụng nguồn nước trong khai thác, nuôi, trồng thủy sản 84
3.2. Những biến đổi trong việc bảo vệ nguồn nƣớc và các phong tục tập
quán, các nghi lễ liên quan đến nguồn nƣớc 85
3.2.1. Những biến đổi trong việc bảo vệ và quản lý các nguồn nước 85
3.2.2. Những biến đổi trong phong tục tập quán và nghi lễ liên quan đến nguồn
ngước 87
3.3. Nguyên nhân của sự biến đổi 88
3.4. Tác động của sự biến đổi tri thức sử dụng và bảo vệ nguồn nƣớc đến
đời sống của ngƣời Thái ở Mƣờng Sang hiện nay 91
Tiểu kết chƣơng 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 103

3
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

trường sống bị đe dọa, những giá trị nhân văn bị mai một, sức khỏe con người
bị ảnh hưởng…, thì vốn tri thức bản địa lại được các nhà khoa học, các nhà
quản lý và hoạt động thực tiễn quan tâm, ứng dụng, trong đó có các tri thức về
quản lý và sử dụng nguồn nước. Sở dĩ như vậy là vì nước là nguồn tài nguyên
vô cùng quý giá, mang ý nghĩa sống còn với mọi vật trên thế giới. Riêng đối
với con người, nước có vai trò đặc biệt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và
trong lao động sản xuất.
Mộc Châu là huyện miền núi của tỉnh Sơn La. Đây là địa bàn cư trú của
nhiều dân tộc như Kinh, Thái, Mường, Hmông, Dao, Xinh Mun, Khơ Mú.
Các dân tộc chủ yếu sống dựa vào canh tác nương rẫy, gắn bó mật thiết với
môi trường thiên nhiên. Vì vậy, họ đã đúc kết được không ít kinh nghiệm
trong quá trình thích ứng với điều kiện tự nhiên cũng như môi trường sinh
thái nơi sinh sống.
Dân tộc Thái chiếm số lượng khá lớn ở Mộc Châu, khoảng 33,55% dân
số toàn huyện. Trong đó, người Thái ở xã Mường Sang thuộc nhóm Thái
Trắng, sinh sống ở vùng thung lũng, nơi gần nguồn nước, ven sông, suối và
có tập quán sản xuất lúa nước như dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung. Chính
vì vậy, nguồn nước đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống của tộc người
này. Do đó, việc tìm hiểu những kinh nghiệm về sử dụng và quản lý nguồn tài
nguyên nước của người Thái nói riêng và của các tộc người khác ở địa
phương là rất cần thiết, góp phần gìn giữ và phát huy các giá trị còn phù hợp
để phục vụ cho sự phát triển bền vững của cộng đồng. Chính vì vậy, chúng tôi
chọn đề tài: “Tri thức bản địa về sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người

5
Thái Mường Xang (Mộc Châu, Sơn La)” để làm luận văn thạc sỹ chuyên
ngành Dân tộc học.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu nhằm các mục đích chủ yếu sau:
- Tìm hiểu các quan niệm và thực hành tri thức bản địa trong sử dụng,

cạnh đó, còn có các công trình như: Vấn đề quản lý sử dụng, bảo vệ môi
trường và tài nguyên thiên nhiên ở các dân tộc thiểu số Việt Nam của Hoàng
Hữu Bình (2003); Truyền thống sở hữu và sử dụng đất đai của các dân tộc
thiểu số Việt Nam của Vương Xuân Tình và Bùi Minh Đạo (2003); … Những
công trình này đã đề cập đến vấn đề quản lý và sử dụng tài nguyên thiên
nhiên của các đối tượng và địa bàn nghiên cứu.
- Trong lĩnh vực tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe có thể kể đến một
số công trình như: Khổng Diễn và các tác giả (2000) về Dân tộc La Hủ ở Việt
Nam đã dẫn ra những thông tin về tập quán sinh đẻ, chăm sóc sản phụ và trẻ
sơ sinh của người La Hủ căn bản dựa trên kinh nghiệm cuộc sống, tri thức y
học dân gian và những kiêng kỵ dân gian liên quan đến tín ngưỡng. Công
trình của Vũ Thanh Hiền (2004) về Tri thức địa phương của người Mường
trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, ngoài đề cập đến những kiến
thức trong sử dụng và bảo vệ tài nguyên rừng, đất, nước, khoáng sản, còn
quan tâm đến các tri thức dân gian về cây thuốc của tộc người này. Tác giả
Nguyễn Thị Quỳ (1998) với bài viết Kiến thức bản địa về cây thuốc của
người Mường ở Hòa Bình, đã đề cập đến các tri thức trong việc phân loại cây
thuốc cùng tác dụng của chúng, những bài thuốc dân gian và tình hình khai
thác dược liệu hiện nay của người Mường ở Hòa Bình. Trần Hồng Hạnh
(2000) trong công trình Tri thức địa phương trong phòng và chữa bệnh của
người Dao Đỏ ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, Việt Nam đã trình

7
bày một cách có hệ thống về cách thức sử dụng các loại thuốc của người Dao
Đỏ tại địa bàn nghiên cứu…
3.2. Về người Thái và tri thức bản địa của người Thái
- Người Thái ở Việt Nam là một trong những tộc người có lịch sử và
truyền thống văn hóa lâu đời. Chính vì vậy, tộc người này đã thu hút nhiều
nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau,
kết quả có nhiều công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống được xuất

Tây Bắc, nội dung tập trung trình bày về các vấn đề: Văn hóa của người Thái
ở Việt Nam, văn hóa Thái trong cội nguồn Việt Nam và Đông Nam Á, văn
hóa Thái - một loại hình văn hóa thung lũng, văn hóa Thái - một loại hình văn
hóa kỹ thuật tiền công nghiệp, văn hóa thiết chế xã hội, hệ thống tư tưởng và
tri thức, mối quan hệ giữa văn hóa Thái với văn hóa các dân tộc nói ngôn ngữ
Môn - Khơ me ở Tây Bắc và một số dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, Nhìn
chung cuốn sách là một nguồn tư liệu quý, là tài liệu tham khảo có nhiều giá
trị khi nghiên cứu về văn hóa tộc người Thái.
Bên cạnh đó, còn nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Thái dưới
nhiều khía cạnh ở từng địa bàn cụ thể như: Cuốn Cầu thang nhà sàn Thái ở
Điện Biên của Đặng Thị Oanh (2004), Văn hóa vật chất của người Thái ở
Thanh Hóa và Nghệ An của Vi Văn Biên (2006), Tìm hiểu một số tục cúng vía
của người Thái đen ở mường Lò của Hoàng Thị Hạnh và cộng sự (2005), Tiếp
cận văn hóa bản Thái xứ Thanh”của Vương Anh (2001),… Ngoài ra, còn có
những bài viết về kinh tế, xã hội, văn hóa, phong tục tập quán…, của người
Thái được đăng tải trên các tạp chí khoa học như: Nghiên cứu lịch sử, Dân tộc
học, Văn hóa dân gian, Dân tộc và Thời đại,…

9
- Về tri thức bản địa của người Thái, nhất là trong hoạt động sản xuất
nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, về cây thuốc, về luật tục…, đã
được các nhà nghiên cứu tìm hiểu như: Thiết chế xã hội truyền thống của
người Thái ở miền Tây Nghệ An của Vi Văn An (1999), trình bày về quan hệ
xã hội, chế độ ruộng đất, tổ chức hành chính và bộ máy quản lý bản
mường…; Khi đứa trẻ dân tộc Thái chào đời của Lương Thị Đại và Lò Xuân
Hinh (2006), có nội dung tập trung vào các phong tục tập quán trong sinh đẻ
của người Thái từ thời kỳ thai nghén, những lễ tục khi sinh đẻ, thời kỳ ở cữ;
Thực vật học dân tộc: cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông, Nghệ An do
Nguyễn Nghĩa Thìn chủ biên (2001) có nội dung trình bày về hệ thống các
cây thuốc, cách sử dụng cây thuốc và tính hiệu quả của các bài thuốc truyền

nguồn nước. Mặc dù đã có một số kết quả nghiên cứu được công bố, và đây
là nguồn tư liệu vô cùng quý giá để chúng tôi tham khảo hoàn thành báo
cáo này, nhưng đề tài nghiên cứu chúng tôi lựa chọn hiện vẫn chưa có công
trình nghiên cứu nào toàn diện và chuyên sâu dưới góc độ Dân tộc học. Do
đó, thực hiện đề tài này chúng tôi mong muốn góp phần tìm hiểu thêm một
trong những lĩnh vực cụ thể của kho tàng tri thức bản địa của người Thái ở
Mường Xang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, đó là tri thức bản địa trong sử
dụng và bảo vệ nguồn nước.
4. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Phạm vi của đề tài là tri thức bản địa trong sử dụng và bảo vệ nguồn tài
nguyên nước của người Thái Mường Xang ở xã Mường Sang, huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La trong truyền thống và biến đổi hiện tại. Thời điểm biến đổi
được xác định từ năm 1986, khi đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới.
Mường Sang là một đơn vị hành chính cấp xã thuộc huyện Mộc Châu, tỉnh
Sơn La; còn Mường Xang trước đây là một vùng đất rộng lớn, bao gồm toàn

11
bộ địa phận huyện Mộc Châu ngày nay và một phần thuộc nước bạn Lào. Vì
vậy, khi nói đến người Thái Mường Xang tức là bao hàm cả người Thái ở xã
Mường Sang. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn này chỉ gói gọn
trong địa bàn xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
Đối tượng nghiên cứu là nhóm Thái Trắng ở xã Mường Sang, huyện
Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Trong luận văn này, tôi sử dụng tên gọi người Thái
Mường Xang để gọi nhóm Thái trắng ở xã Mường Sang. Sở dĩ như vậy là do
trong cộng đồng người Thái ở tỉnh Sơn La, đồng bào thường gọi tên những
người đồng tộc của mình gắn liền với tên mường mà đồng bào cư trú, ví dụ
như người Thái ở Mường Vát (huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) được gọi là
“Tay Vát”, người Thái ở Mường Tấc (huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La) được gọi
là “Tay Mương Tấc”,… Vì vậy, tôi sử dụng cách gọi này để phân biệt người
Thái ở vùng Mường Xang trước đây với người Thái ở những khu vực khác

trước và các tài liệu thứ cấp ở địa phương, nhằm phục vụ cho việc hoàn thành
luận văn này. Tuy nhiên, tư liệu điền dã do chính bản thân tác giả thu thập tại
xã Mường Sang, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La vẫn là nguồn tư liệu chủ yếu.
6. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, nội dung chính của luận văn
được chia làm 3 chương:
Chương I: Khái quát về địa bàn, tộc người và vấn đề nghiên cứu
Chương II: Vai trò và cách ứng xử với các nguồn nước của người Thái
Mường Xang.
Chương III: Những biến đổi trong việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước
của người Thái Mường Xang. 13
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN, TỘC NGƢỜI VÀ
VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số đặc điểm của địa bàn nghiên cứu
1.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên, môi trường sinh thái của địa
bàn nghiên cứu
Vùng đất Mường Xang trước kia thuộc địa bàn huyện Mộc Châu, tỉnh
Sơn La ngày nay được định vị ở 20
0
63

vĩ độ Bắc và 104
0
30 - 105
0

theo trí nhớ của các cụ già, cách đây vài chục năm vẫn còn bắt gặp nhiều loài
thú quý hiếm.
Khí hậu ở Mường Sang chia thành hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4
đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau. Tuy nhiên, do nằm ở
vùng cao nguyên, lại có địa hình cánh cung mở đón hướng gió nên vùng đất
này có khí hậu rất mát mẻ, trung bình năm từ 18 - 20
0
C. Nơi đây có lượng
mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1.400 - 1.500mm. Đặc biệt, đây là vùng
đất số ngày có sương mù rất cao, trung bình trên 80 ngày/năm, chính vì vậy,
đây được mệnh danh là “xứ sở của sương mù” hay còn gọi là “Mường Mọk”.
Với điều kiện thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, đất đai như vậy, nên Mường
Sang đã trở thành địa điểm tụ cư và phát triển lâu đời của người Thái Trắng.
Cũng từ lâu, vùng đất này đã trở thành một trong những trung tâm, phát triển
của tộc người Thái vùng Tây Bắc nước ta.
Theo truyền thuyết trước kia, Mường Xang là một địa bàn khá rộng
lớn, bao gồm cả một số vùng đất thuộc Lào, trong đó, người Thái là cư dân
chiếm đa số trong cộng đồng dân cư của vùng. Hiện nay, theo sự phân chia
hành chính mới, một phần khu vực Mường Xang xưa thuộc huyện Mộc
Châu, tỉnh Sơn La. Còn một số vùng đất Mường Xang trước kia đã thuộc

15
các huyện hoặc tỉnh khác. Nhưng về dân cư và đặc điểm văn hóa về cơ bản
vẫn giữ được những đặc điểm truyền thống của tộc người Thái ở vùng
Mường Xang trước đây.
1.1.2. Lịch sử hình thành vùng đất Mường Sang và người Thái
Mường Xang
Tên gọi Mường Xang xuất hiện trong truyền thuyết về cuộc di dân lớn
của người Thái Trắng từ Lào sang Việt Nam. Đó là tên phát âm chệch của
“Mường Khang” có nghĩa là “mường gang”.

Thời kì độc lập, nhà Lý (1010 - 1225) thuộc châu Lâm Tây và Châu
Đăng. Đời Trần (1225 - 1400) thuộc đạo Đà Giang và cuối thời Trần thuộc
trấn Thiên Hưng.
Thời thuộc Minh (thế kỷ XV) là đất huyện Tứ Mang và huyện Mông
thuộc châu Gia Hưng.
Đến đời Lê, theo Dư địa chí của Nguyễn Trãi thì phủ Gia Hưng có một
huyện là Thanh Xuyên và 5 châu gồm: Châu Mai, Châu Mộc, Châu Việt,
Châu Thuận, Châu Phù Hoa. Như vậy, tên Châu Mộc chính thức có từ thời
nhà Lê (thế kỷ XV), thay thế cho tên gọi cũ là Mường Xang, thuộc phủ Gia
Hưng, xứ Hưng Hóa (Hưng Hóa thừa tuyên).
Giữa thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 12 (1831) tiến
hành chia tỉnh, hạt, Mộc Châu thuộc tỉnh Hưng Hóa. Năm Tự Đức thứ 4
(1852) Mộc Châu kiêm nhiếp Châu Yên (Yên Châu ngày nay).
Thời Pháp thuộc, Mộc Châu và cả tỉnh Sơn La thuộc đạo quan binh 4. Năm
1892, Toàn quyền Đông Dương thành lập tiểu quân khu Vạn Bú gồm 2 phủ Vạn
Yên và Sơn La, Mộc Châu thuộc phủ Vạn Yên. Đến năm 1904, Toàn quyền
Đông Dương ra nghị định thành lập tỉnh Sơn La, từ đó đến nay Mộc Châu thuộc
tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, trong cộng đồng dân tộc Thái, đồng bào vẫn quen gọi

17
vùng đất này theo cái tên cũ là Mường Xang. Trong tiếng Thái, đồng bào vẫn
gọi Mộc Châu là “Mương Xạng” (Mường Xang).
Theo sử sách, trung tâm của châu đặt ở Mường Xang, nơi có núi “Pha
Khỉ - sút” (núi sáp ong) và chùa Vặt Hồng gắn liền với truyền thuyết của tổ
tiên người Thái di cư từ Lào sang. Khi xuất hiện Mường Xang thì châu
mường này vốn có đất đai rất rộng, bao gồm nhiều “mường” nhỏ, trong đó
bản Vặt - Nà Ngà là khu vực trung tâm và các mường khác như: Mường
Chiềng Ký (nay thuộc tỉnh Hòa Bình); Mường Ét, Xiềng Khọ (Chiềng Cọ)
(nay thuộc địa phận nước Lào); Chiềng Đi, Chiềng Ban hay Tú Nang, Pua
Tao, Chiềng Cang (nay thuộc huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La) và Chiềng Ve,

từ Lào sang vào khoảng thế kỷ XIV. Hiện nay, trong cộng đồng người Thái
Mường Xang vẫn lưu truyền câu chuyện dân gian mang tính chất nửa thực
nửa thần thoại về quá trình thiên di của mình: Ngày xưa, vua đất Viêng Chăn
sinh được người con trai, đặt tên là Pha - nha Nhọt - chom - Cằm. Chàng trai
lớn lên ra tắm ở sông Nậm Khoong (Mê - Kông) tình cờ lấy được một hòn đá
quý, có nhiều màu sắc sặc sỡ ở trong bọt nước liền đem về làm vật bảo bối.
Khi trưởng thành Pha - nha Nhọt - chom - Cằm được phép vua cha đi tìm đất
mới để lập bản, dựng mường. Cùng đi với Pha - nha Nhọt - chom - Cằm có
nhiều binh tướng và người dân ở bản dưới, mường trên. Trước khi lên đường,
vua cha trao cho đoàn quân của Pha - nha Nhọt - chom - Cằm 800 cây mác
đồng đỏ với hàng chục thớt voi chiến.
Mang theo hòn đá quý trong người, chàng khởi binh từ đất Viêng Chăn
về Mường Thanh (Điện Biên) xuống Mường Húa (thuộc Tuần Giáo) lên
Mường So (Phong Thổ), Mường Là (thuộc Vân Nam - Trung Quốc), nhưng
đều không tìm được vùng đất ưng ý. Chàng lại tiếp tục kéo quân về mạn sông
Hồng đến Mường Mả, Mường Sát, Cam Đường nhưng vẫn không tìm được

19
đất dựng bản, lập mường. Đoàn người tiếp tục xuôi về Mường Cúc, Mường
Át (Thu Cúc - Phú Thọ), xuống đến Pằn Panh, Thái Hòa lại ngược lên Mường
Pi, Mường Sàng (vùng Lương Sơn, Thạch Bi - Hòa Bình). Với danh nghĩa là
đoàn sứ giả của vua Lào, đoàn Nhọt - chom - Cằm đi tới đâu cũng được đón
tiếp chu đáo.
Không ngờ hòn đá quý của Nhọt - chom - Cằm mang theo cứ mỗi ngày
một lớn và khi tới đất Mường Mùn, Mường Hạ (Mai Châu - Hòa Bình) thì
hòn đá đó đã phải dùng tám người khiêng mới có thể tiếp tục đem đi được.
Khi đến Phiêng Luông (vùng thảo nguyên Mộc Châu), hòn đá bỗng thốt lên :
“Chỗ này đất tốt”. Nhọt - chom - Cằm mới gọi nơi đó là Chiềng Đi (trong
tiếng Thái đi là tốt). Họ lại tiếp tục khiêng hòn đá qua núi “Kèm cọ” đến một
bãi đất bằng, đá lại nói : “Cho tôi xuống đây”(tiếng Thái : “Khỏi chí lống”).

- Cằm chính là ông tổ dòng họ Sa nối nghiệp trị vì đất Mường Xang…”. Do
di cư từ Lào sang nên người Thái ở Mường Xang vẫn quen thờ Thích - ca Mô
- ni, nên họ đã lập chùa ở bản Vặt (Vặt là âm chệch của Phật) và hàng năm tổ
chức lễ Phật gọi là “Chách vặt, chách và” vào tháng 5 âm lịch.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của đất nước, đời sống vật chất cũng
như tinh thần của đồng bào Thái ở đây đã có nhiều nét thay đổi. Song những
giá trị và nét đẹp truyền thống trong phong tục, tập quán, lối sống của đồng
bào từ xa xưa vẫn được gìn giữ, tiếp tục phát huy, góp phần không nhỏ vào
quá trình phát triển vùng đất Mường Xang.
1.1.3. Một số đặc điểm sinh hoạt kinh tế, văn hóa, xã hội của người
Thái Mường Xang
- Về kinh tế: Nông nghiệp là hình thức kinh tế chính của người Thái ở
Mường Xang. Những cánh đồng phì nhiêu là kết quả của nhiều thế hệ đã khai
phá, cải tạo, rừng xanh, núi cao trở thành nương ngô và đồng lúa trù phú.

21
Cư dân Thái Mường Xang từ xưa vốn có hai phương thức canh tác nông
nghiệp là nương rẫy và ruộng nước. Cả hai phương thức này vẫn được áp
dụng phổ biến trong đồng bào Thái Mường Xang đến ngày nay. Những hình
thức canh tác ấy đã phản ánh môi trường sinh hoạt và truyền thống văn hóa
của cộng đồng cư dân trồng trọt, nguồn sống chủ yếu dựa vào kết quả của
mùa màng từ ruộng nước, nương rẫy, làm vườn, trồng cây ăn quả, chăn nuôi
gia súc, gia cầm.
Hình thức sản xuất chính của đồng bào là trồng lúa nước trên những cánh
đồng trong thung lũng, ven các dòng suối lớn. Ở những thung lũng lòng chảo,
từ xa xưa đồng bào đã khai phá và tạo nên cánh đồng trồng lúa màu mỡ, rộng
lớn, như cánh đồng Nà Ngà. Do đặc điểm khí hậu nên đồng bào chỉ trồng lúa
1 vụ/năm, chủ yếu là lúa tẻ. Bên cạnh việc trồng lúa nước, đồng bào còn trồng
lúa nương trên những vùng đồi có đất màu mỡ, tươi xốp và chủ yếu là lúa
nếp. Thóc thu hoạch được chủ yếu phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của đồng

Người đàn ông Thái Mường Xang rất khéo léo trong việc đan lát những
vật dụng cần thiết cho gia đình, như: sọt, gùi, ếp, ghế, mâm tròn và chế tác
các công cụ lao động sản xuất, đánh cá… từ những nguyên liệu mây, tre, nứa
có sẵn từ tự nhiên ở trong vùng.
Phụ nữ Thái Mường Xang bên cạnh việc đồng áng, còn trồng bông, nuôi
tằm, dệt vải thổ cẩm, thêu thùa và làm chăn đệm. Ngoài việc đáp ứng nhu cầu
của bản thân và gia đình, còn có thể bán ra thị trường, nhưng không đáng kể.
Trong các sản phẩm dệt, độc đáo và thể hiện bản sắc tộc người là chiếc khăn
piêu gây ấn tượng với những mảng màu sắc lớn, trang trí theo phong cách hoa
văn mặt pha (mặt chăn) - nổi tiếng là loại hoa văn đẹp, với những họa tiết cầu
kỳ, phức tạp. Ngoài giá trị thẩm mỹ, chiếc khăn piêu còn là thước đo sự khéo
léo và đảm đang của người phụ nữ Thái. Bên cạnh đó, họ còn dệt các loại vải
“khuýt” chuyên dùng để may trang phục phụ nữ (làm váy).

23
Tuy vậy, nghề dệt vải cũng như các nghề thủ công khác vẫn còn dừng lại
ở các phương pháp sản xuất thủ công đơn giản, phục vụ cho nền kinh tế mang
nặng tính tự cung tự cấp của người Thái Mường Xang. Hiện nay, do tác động
mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và xu hướng hiện đại hóa, một số nghề
truyền thống của đồng bào Thái ở đây đang bị mai một, thậm chí chỉ còn là
tàn dư, như nghề rèn, nghề làm đồ trang sức vốn rất phát triển xưa kia.
- Văn hóa: Nằm trong khu vực tập trung của cộng đồng người Thái ở
Tây Bắc với nền văn hóa đặc sắc nên người Thái Mường Xang về cơ bản
cũng mang đậm những đặc trưng văn hóa của dân tộc Thái vùng Tây Bắc.
Các dân tộc ở Mường Xang xưa kia chủ yếu sống tập trung thành những
cộng đồng bản, mường, cư trú đan xen nhau. Chính vì thế, tạo nên một đặc
điểm điển hình của các cư dân trong vùng là có sự giao thoa về văn hóa và
ngôn ngữ. Do vậy, hiện tương song ngữ và đa ngữ, đa văn hóa là nét đặc thù
của bản sắc văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc nói chung và ở Mường Xang
nói riêng

đồng dân tộc này luôn có sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa với nhau.
Trong xã hội truyền thống, người Thái Mường Xang cũng có thiết chế
bản, mường như của dân tộc Thái nói chung. Ngay từ khi di cư đến Mường
Xang, người Thái đã thiết lập mối quan hệ tốt đẹp với triều đình phong kiến
trung ương lúc bấy giờ, và con cháu của Pha nha Nhọt - chom - Cằm thay
phiên nhau cai quản vùng đất Mường Xang rộng lớn ngày xưa.
Trong xã hội cổ truyền của người Thái Mường Xang, những thế hệ con
cháu của Pha - nha Nhọt - chom - Cằm (sau chuyển thành dòng họ Sa) thay
nhau giữ các chức vụ cao nhất trong hệ thống các bản, mường trong vùng,
đây cũng được coi là tầng lớp quý tộc trong vùng. Đứng đầu các mường là
anha, đứng đầu bản là tạo bản. Hàng năm các tạo bản phải đốc thúc dân bản
nộp thuế cho mường. Đến thời kỳ Pháp thuộc, cơ cấu tổ chức xã hội đó hầu
như vẫn được giữ nguyên.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status