1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ MAI NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA VỀ SỬ DỤNG CÁC LOÀI CÂY
LÀM PHẨM MÀU THỰC PHẨM TẠI HUYỆN PHÙ YÊN VÀ
QUỲNH NHAI, TỈNH SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Lâm nghiệp
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : ThS. La Quang Độ
cứu tri thức bản địa về sử dụng các loài cây làm phẩm màu thực phẩm
tại huyện Phù Yên và Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La”.
Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đã cố gắng nỗ lực hết mình và tôi
cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình của các cán bộ địa phương, người
dân địa phương, nhóm các bạn sinh viên thực tập và sự chỉ dạy tận tình của
giáo viên hướng dẫn, thầy giáo ThS. La Quang Độ. Nhân dịp này tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn chân thành tới:
Ban chủ nhiệm Khoa Lâm nghiệp
Lãnh đạo xã Tân Lang, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La và người dân
Lãnh đạo xã Mường Giôn, Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn
La và người dân
Đặc biệt là sự chỉ dạy của giáo viên hướng dẫn ThS.La Quang Độ đã
tận tình giúp đỡ tôi thực hiện đề tài trong thời gian thực hiện đề tài.
Do kiến thức còn hạn hẹp nên trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã
gặp không ít những khó khăn, do vậy mà đề tài không tránh khỏi những
thiếu sót nhất định, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các
thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để bài đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 23 tháng 6 năm 2014
Sinh viên
Nguyễn Thị Mai
iii
MỤC LỤC
PHẦN 1.
MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
iv
4.2. Đánh giá tình hình sử dụng cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện
Phù Yên, Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 27
4.3. Kết quả tìm hiểu nguồn gốc của các loài cây nhuộm màu thực
phẩm tại huyện Phù Yên, Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 31
4.4. Kết quả nghiên cứu tri thức bản địa trong sử dụng cây nhuộm màu
thực phẩm tại huyện Phù Yên, Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La 32
4.5. So sánh tri thức bản địa trong sử dụng và chế biến màu nhuộm thực
phẩm giữa tỉnh Sơn La, Lạng Sơn và Hà Giang. 39
4.6. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển tri thức bản địa các
loài cây nhuộm màu thực phẩm tại huyện Phù Yên, Quỳnh
Nhai, tỉnh Sơn La 44
PHẦN 5.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1. Kết luận 46
5.2. Kiến nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO 48
v
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
ATVSTP : An toàn vệ sinh thực phẩm
EU : Liên minh châu Âu
HĐND : Hội đồng nhân dân
KHHGĐ : Kế hoạch hóa gia đình
PCCCR : Phòng chống chữa cháy rừng
QLBVR – PCCCR : Quản lý bảo vệ rừng – Phòng chống chữa cháy rừng
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Từ rất xa xưa, ông bà ta đã biết dùng nhiều loại cây có trong tự nhiên
để chữa các bệnh hiểm nghèo, để nhuộm màu trong thực phẩm vừa làm đẹp
món ăn, vừa tăng giá trị dinh dưỡng.
Chất nhuộm màu nói chung và chất nhuộm màu thực phẩm nói riêng
đã được người dân các nước trên thế giới sử dụng vào cuộc sống từ thời xa
xưa. Một chất màu được sử dụng không độc hại, không là tác nhân gây
bệnh và nhuộm thực phẩm thành màu theo mục đích, phù hợp với công
nghệ chế biến thực phẩm. Ngoài ra, các chất nhuộm màu trong lĩnh vực này
không gây mùi lạ và làm thay đổi chất lượng thực phẩm.
Ngày nay, khi đời sống của người dân phát triển thì giá trị của thực
phẩm không chỉ dừng ở giá trị dinh dưỡng mà nó còn bao hàm cả giá trị
thẩm mỹ và vấn đề an toàn cho người sử dụng. Để tạo cho thực phẩm có
tính cảm quan cao về phương diện màu sắc, hiện nay ngành công nghệ thực
phẩm chủ yếu sử dụng chất màu tổng hợp… Tuy nhiên, vấn đề an toàn đối
với sức khỏe của con người vẫn bị đe dọa bởi sự hình thành các sản phẩm
phụ bất lợi. Mặt khác, nước ta do chưa sản xuất được, nên tất cả chất màu
thực phẩm đều phải nhập từ nước ngoài. Nên một số trường hợp, sử dụng
chất màu không đủ tiêu chuẩn gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của người
tiêu dùng. Vì thế, nghiên cứu cây nhuộm màu thực phẩm có ý nghĩa rất
quan trọng đối với kinh tế xã hội của đất nước
Nhuộm màu thực phẩm bằng thực vật là tri thức và kinh nghiệm
truyền thống lâu đời của các dân tộc Việt Nam, nhất là đồng bào các dân
3
- Kết quả thực hiện đề tài có thể làm cơ sở cho giảng viên, sinh viên
tiếp tục nghiên cứu sản xuất chất nhuộm màu thực phẩm có nguồn gốc thực
vật ở quy mô công nghiệp.
- Nguồn gen cây nhuộm màu thực phẩm lưu giữ sẽ là ngân hàng cho
các nghiên cứu về đa dạng sinh học và các nghiên cứu khác trong công
nghệ sinh học.
1.4.2. Trong thực tiễn sản xuất
- Góp phần đẩy mạnh và phát triển sản xuất cây nhuộm màu thực
phẩm, lưu giữ, bảo tồn và phát huy vốn kiến thức bản địa của người dân
vùng núi phía Bắc nói chung và người dân huyện Phù Yên, Quỳnh Nhai
tỉnh Sơn La nói riêng.
- Đa dạng hóa các sản phẩm hàng hóa từ cây trồng bản địa
- Bước đầu định hướng cho công nghiệp thực phẩm trong việc tạo
nguồn cung cấp bền vững về phẩm màu thực phẩm an toàn, gia tăng chất
lượng các sản phẩm thực phẩm trong công nghiệp chế biến thực phẩm
- Góp phần xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Sơn La nói riêng và các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.1.1. Nghiên cứu trên thế giới
Thực phẩm truyền thống có thể được xem là một nét văn hóa đặc
trưng cho một đất nước, một dân tộc. Chúng được tạo ra nhờ vào sự tìm tòi,
sáng tạo của mỗi một dân tộc trên con đường phát triển. Những món ăn
truyền thống còn chứa đựng trong nó những thông điệp, tín ngưỡng và
sinh học: là hướng nghiên cứu đang được triển khai ở một số nước có trình
độ kỹ thuật cao, các nhà nghiên cứu đang thử nghiệm thu nhận chất nhuộm
màu từ nuôi cấy mô một số loài thực vật (Aralia armata, ), hoặc sử dụng
một số hệ men, một số loài vi khuẩn để chuyển hoá hợp chất hữu cơ thành
chất màu. Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cho tới nay chưa đạt được kết
quả thực tế.
- Tổng hợp các chất vô cơ không có độc tính để nhuộm màu cho thực
phẩm. Đây là hướng nghiên cứu được tiến hành từ lâu. Mặc dù vậy, các
chất vô cơ có thể sử dụng cho thực phẩm còn rất hạn chế. Hiện nay các
chất vô cơ được phép sử dụng cho thực phẩm mới chỉ có một số oxít sắt:
FeO(OH)xH
2
O (màu đỏ), FeO.Fe
2
O
3
(màu đen), FeO(OH).xH
2
O (màu
vàng),…. Xu hướng hiện nay của thế giới là hạn chế các chất nhuộm màu
có nguồn gốc vô cơ trong công nghiệp thực phẩm.
Do những tiêu chuẩn chặt chẽ về mức độ an toàn, cho tới nay thế
giới mới chỉ thừa nhận 73 hợp chất (hoặc dịch chiết, phức chất) là chất
nhuộm màu cho thực phẩm. Trong số này một số hợp chất chỉ được phép
sử dụng trong một số quốc gia nhất định.
Hiện nay có một số loại cây cho chất nhuộm màu thực phẩm được
trồng và khai thác với số lượng lớn ở một số nước. Một vài sản phẩm trong
số đó như “Cutch”, là nước chiết sấy khô của cây Acacia catechu. Lượng
sản xuất hàng năm trên thế giới của Cutch khoảng 6.000 – 9.000 tấn/năm,
trong đó lượng được xuất - nhập khẩu giữa các nước khoảng 1.500 tấn/năm.
anthraquinone từ một số cây thuộc họ cà phê (Rubiaceae). Tế bào được nuôi
trong môi trường có nguồn Cac bon I, muối vô cơ và muối Can xi (Canxi
chloride hoặc Canxi nitrate) với nồng độ 5- 90mM/l. Lá Rubia akane được
cắt thành những mảnh nhỏ và đưa vào một môi trường nuôi cấy có pH 5,8,
các muối vô cơ (3 mM/l CaCL
2
), vitamin, 2,4- D, kinetin, đường mía và
thạch Sản lượng lớn anthraquinone được sản xuất ra ở các nồng độ CaCL
2
từ 5- 90 mM/l. Narisu- Keshohin, 1991 đưa ra phương pháp sản xuất chất
màu bằng cách nuôi cấy mô của lá cây Oải hương (Lavandula angustifolia).
Nuôi tế bào trong điều kiện có ánh sáng thì cho hiệu suất cao hơn. Với
phương pháp này sản phẩm được tạo ra ở dạng vảy lớn với hiệu suất cao.
Phương pháp sản xuất màu đỏ hoa rum bằng nuôi trồng mô sần Hồng hoa
(Carthamus tinctorius), Mitsui- Eng. Shipbldg được đề xuất vào năm 1990.
7
Màu đỏ hoa rum được điều chế bằng cách nuôi mô sần hoa rum trong môi
trường kiềm, chất màu được tiết vào môi trường nuôi cấy. Chất màu này là
màu tự nhiên, có màu sắc đẹp và ổn định. Các nghiên cứu về chất màu thực
phẩm tự nhiên không chỉ được tiến hành đối với các loài thực vật mà còn
được nghiên cứu đối với các tế bào vi sinh vật. Một số chi được quan tâm
nhiều là Aspergillus, Pseudomonas Năm 1996, Kasenkov O. I. đưa ra một
phương pháp điều chế chất nhuộm thực phẩm màu đỏ từ các nguyên liệu
thực vật. Theo phương pháp này các nguyên liệu thực vật phải được nghiền
nát và tẩy trùng, sau đó ngâm trong môi trường lên men bởi Aspergillus,
cuối cùng chúng được chọn lọc và cô đặc. Nguyên liệu thực vật là thành
phần môi trường để nuôi cấy các loài thuộc chi Trichoderma (tốt nhất là
Trichoderma koningi và Trichoderma longibrachiatum). Sử dụng phương
Danh mục các chất nhuộm màu thực phẩm trên thế giới được quy
định chặt chẽ về mã số và giới hạn sử dụng . Theo quy định của Liên minh
Châu Âu (EU), các chất màu thực phẩm có mã số từ E100 đến E172. Đây
là quy chế được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, Australia và một
vài nước thuộc khu vực Thái Bình Dương sử dụng hệ thống mã số với chữ
cái đầu là A nhưng ít được sử dụng.
Luật sử dụng chất màu thực phẩm ở châu Âu cũng quy định rõ các
sản phẩm màu được sử dụng trong chế biến thực phẩm. Tuy vậy, mỗi quốc
gia có thể quy định riêng cho từng chất cụ thể. Vì thế, có một số chất màu ở
đây không được sử dụng trên tất cả các nước trong cộng đồng châu Âu
(E128 red 2F, E129 allura red, E133 brilliant blue FCF, E154 brown FK,
E155 brown HT), hoặc được sử dụng nhưng hạn chế. Ở Đức cũng như một
số nước khác có đưa ra danh sách các thực phẩm được sử dụng chất màu.
Trong luật sử dụng chất màu thực phẩm ở châu Âu, các phục lục từ II – V
có đưa ra chi tiết về các thực phẩm đó.
Tóm lại, hiện nay nghiên cứu chất màu thực phẩm trên thế giới được
quan tâm rất lớn ở nhiều quốc gia với nhiều hướng nghiên cứu mới. Trong
các hướng nghiên cứu đó, tìm kiếm và chiết tách chất màu từ thực vật vẫn
được ưu tiên hàng đầu trong các nghiên cứu.
2.1.2. Nghiên cứu ở Việt Nam
Kinh nghiệm sử dụng tài nguyên thực vật của nhân dân ta rất phong
phú và đa dạng dưới nhiều hình thức vào các mục đích khác nhau như: làm
lương thực, thực phẩm, xây dựng, chăm sóc sức khoẻ, thẩm mỹ, làm cảnh.
Đặc biệt phải kể đến mục đích nhuộm màu thực phẩm, các cây dùng để
nhuộm màu gồm tất cả các loài thực vật có thể dùng trực tiếp hoặc được
chế biến thành các sản phẩm dùng để nhuộm màu cho các loại thực phẩm.
9
Từ lâu, các nhà khoa học đã tiến hành chiết tách các chất nhuộm màu
thực phẩm từ thực vật. Tuy nhiên hiện vẫn còn phải sử dụng nhiều chất
Về nghiên cứu kỹ thuật và công nghệ chiết tách chất màu từ thực vật,
đáng lưu ý là công trình “Xây dựng quy trình công nghệ chiết tách và tổng
hợp chất màu thực phẩm” (Nguyễn Thị Thuận, 1995), “Xây dựng quy trình
công nghệ chiết tách cumarin từ củ nghệ” (Phạm Đình Tỵ, 2001), “Khả
chiết tách chất màu thực phẩm từ cây Mật mông” (Nguyễn Thị Phương
Thảo, Lưu Đàm Cư, 2003). Ngoài ra, đã có một số công bố về thành phần
hóa học của dịch chiết từ cây Lá diễn và hạt Dành dành (Giang Thị Sơn và
cs, 2001).
Các công trình nói trên đã thu được những kết quả rất khả quan,
chứng minh một cách khoa học về khả năng thực tế có thể sản xuất chất
nhuộm màu thực phẩm từ nguyên liệu thực vật của nước ta. Tuy nhiên các
công trình mới chỉ nghiên cứu ở một số đối tượng cụ thể, thường gắn với
các nghiên cứu làm thuốc chữa bệnh, do vậy chưa thấy hết tiềm năng các
chất nhuộm màu thực phẩm trong cả hệ thực vật. Hơn nữa, do tính chất đề
tài các công trình tập trung nghiên cứu một số chất nhuộm màu đặc biệt
(curcumin từ cây nghệ chủ yếu cung cấp cho ngành Y- Dược) nên giá
thành rất cao, chưa thể đưa vào phục vụ đời sống hàng ngày của nhân dân.
Theo Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường, Chất lượng, hiện nay tất cả
các chất nhuộm màu cho thực phẩm ở Việt Nam đều phải nhập khẩu từ
nước ngoài. Do yêu cầu về ATVSTP, bộ Y tế nước ta chỉ cho phép nhập và
sử dụng chất màu thực phẩm với số lượng hạn chế.
11
Bảng 2.1: Danh mục các chất màu thực phẩm được phép sử dụng ở Việt Nam
STT
Tên chất Màu và nhóm chất
Nguồn
gốc
1 Beta- apro- Carotenal Da cam, Họ caroten Tổng hợp
Xanh, nhóm Porphirin Tự nhiên
14 Chlorophyll Copper
Complex, Sodium and
Potassium salts
Xanh, nhóm Porphirin Tự nhiên
15 Brilliant Black PN Đen, nhóm Bisazo Tổng hợp
16 Red 2 G Đỏ, nhóm Monoazo Tổng hợp
17 Allura AC Đỏ, nhóm Monoazo Tổng hợp
18 Amaranth Đỏ, nhóm Monoazo Tổng hợp
19 Ponceau 4R Đỏ, nhóm Monoazo Tổng hợp
20 Beta-apro-8-carotenic acid,
Methyl or Ethyl Ester
Da cam, họcaroten Tổng hợp
21 Indigotin Xanh chàm, họindigo Tự nhiên
22 Titan dioxide Trắng, TiO2 Tổng hợp
12
23 Nâu HT Nâu, nhóm Bisazo Tổng hợp
24 Iron oxide, red Đỏ, FeO(OH).x H2O Tổng hợp
25 Iron oxide, black Đen, FeO.Fe2O3 Tổng hợp
26 Iron oxide, yellow Vàng, FeO(OH).xH2O Tổng hợp
27 Curcumin Vàng, nhóm cumarin Tự nhiên
28 Erythosin Đỏ, nhóm Xanthense Tổng hợp
29 Quinoline yellow Vàng, nhóm
Quinophtalone
Tổng hợp
30 Riboflavin (lactoflavin) Vàng, nhóm iso-
alloxazine
Tự nhiên
31 Sunset Yellow FCF Vàng, nhóm Monoazo Tổng hợp
2.2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội xã Tân Lang
+ Vị trí địa lý, địa hình
Xã Tân Lang là một xã vùng II thuộc huyện Phù Yên nằm trong
vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có hai mùa rõ rệt (mùa khô và
mùa mưa), mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau với diện tích tự nhiên 6127,15 ha với chiều dài là 20km từ
Suối Lang, giáp xã Mường Do đến cầu ngả hai thuộc xã Thu Cúc – Tân
Sơn – Phú Thọ, xã gồm 16 cơ sở bản, đường giao thông thuận tiện có
đường quốc lộ 32 chạy qua hai bản Bãi Đu và Bãi Lau.
- Phía Đông giáp huyện Tân Sơn – Phú Thọ
- Phía Tây giáp xã Huy Tân
- Phía Nam giáp xã Mường Lang
- Phía Bắc giáp xã Mường Cơi
+ Khí hậu thủy văn
Xã Tân Lang mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng
Tây Bắc, hàng năm chia thành hai mùa rõ rệt: mùa đông lạnh và khô hanh,
mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, các hiện tượng thời tiết bất thường như sương
muối và băng giá xuất hiện vào cuối tháng 1 hàng năm. Đây cũng là khu
vực chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, gió Lào; mùa khô thời tiết
nắng nóng, độ ẩm không khí thấp, đây chính là mùa dễ xảy ra cháy rừng.
Lượng mưa bình quân hàng năm 1800 – 2000mm, lượng mưa phân
bố không đều, tập trung chủ yếu vào tháng 6 đến tháng 8 chiếm 70% tổng
lượng mưa cả năm, là những tháng cao điểm mưa lớn gây ra lũ làm ảnh
hưởng đến mùa vụ sản xuất nông lâm nghiệp và đời sống của người dân
Hệ thống sông suối tương đối dày đặc, song hầu hết các dòng suối
thấp hơn khu vực canh tác lưu lượng nước ít nên tác dụng phục vụ tưới tiêu
cũng như phục vụ công tác chữa cháy rất hạn chế.
+ Tình hình dân số, lao động
Dân số xã năm 2013 có 1.531 hộ với 6.265 nhân khẩu. Tỉ lệ phát
triển dân số trung bình hàng năm 1,1%.
tích chè trồng lại và trồng mới là 114,5 ha, hiện nay bà con đã trồng 70 ha.
- Cây đỗ tương kế hoạch 70 ha, thực hiện 18 ha, đạt 25,7% kế hoạch,
sản lượng đạt 20,6 tấn.
15
Diện tích cây ăn quả 52,67 ha, cây ăn quả có chiều hướng giảm dần.
Nguyên nhân là do những năm gần đây số lượng cây ăn quả trên địa bàn xã
cho sản lượng ít, không năng suất, bà con đã chặt phá một phần diện tích đi
để trồng ngô, đỗ tương và cây rau…v.v…
• Chăn nuôi
Các mô hình chăn nuôi tập trung quy mô trang trại tiếp tục đẩy mạnh
phát triển và khẳng định được ưu thế. Công tác chăm sóc thú y và phòng,
chống dịch bệnh gia súc gia cầm được thực hiện thường xuyên, kịp thời, cơ
bản đáp ứng được yêu cầu. Mặc dù trong 6 tháng đầu năm xảy ra dịch lở mồm
long móng ở lợn tại 3 bản Thịnh Lang 1 + 2 và bản Vường nhưng UBND đã
phối hợp với trạm thú y huyện có kế hoạch cụ thể, dập tắt kịp thời.
Tổng đàn gia súc, gia cầm là 71.935 con, đạt 102,4% kế hoạch, tăng
17,5% so với năm 2012.
• Lâm nghiệp
Thành lập và duy trì hoạt động các tổ chức quản lý bảo vệ rừng cấp
bản; tổ chức tuyên truyền đến mọi tầng lớp nhân dân.
Thường xuyên tổ chức tuyên truyền công tác QLBVR – PCCCR tới 16
cơ sở bản, tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn bà con nông dân phát dọn
nương rẫy đúng quy định. Chỉ đạo 16/16 bản trực thuộc xã xây dựng phương
án PCCCR năm 2013. Kiểm tra, chỉ đạo các cơ sở tổ chức trực PCCCR 24/24
giờ. Trong năm trên địa bàn xã không để xảy ra cháy rừng.
Công tác trồng rừng mới được quan tâm triển khai thực hiện ngay từ
đầu năm. Ước thực hiện năm 2013 trồng được 39 ha đạt 130% chủ yếu
trồng ở bản Bãi Đu, Suối Lèo, Yên Thịnh 2.
Công tác quản lý bảo vệ rừng được quan tâm, các tổ chức quản lý
bảo vệ rừng thường xuyên kiểm tra diện tích rừng được giao.
viên hợp đồng là 2, học sinh là 366.
* Trường Tiểu học: Tổng số cán bộ giáo viên biên chế là 45, giáo
viên hợp đồng là 5, học sinh là 534.
* Trường THCS: Tổng số cán bộ giáo viên biên chế là 25, học sinh
là 260.
Công tác phổ cập giáo dục được quan tâm thực hiện tốt. Duy trì kết quả
phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS đạt 100%.
• Y tế
Triển khai thực hiện tốt các chương trình mục tiêu y tế Quốc gia như:
Phòng chống sốt rét, HIV/AIDS, tai nạn thương tích, tiêm chủng, dân số -
17
kế hoạch hóa gia đình. Giám sát, thực hiện chặt chẽ công tác phòng, chống
dịch bệnh, trong năm không có dịch lớn xảy ra, không có bệnh nhân chết
do dịch.
Công tác khám chữa bệnh: Duy trì khám chữa bệnh trong nhân dân,
Tiêm chủng mở rộng các loại vác xin cho trẻ em theo quy định, thực hiện
quy chế khám chữa bệnh, kê đơn cấp phát thuốc cho người nghèo và trẻ em
dưới 6 tuổi theo đúng quy định. Trong năm ước thực hiện tổ chức khám,
chữa bệnh cho tổng số: 3700 lượt người.
• Văn hóa, thông tin, thể thao
Tổ chức thực hiện tốt công tác thông tin tuyên truyền thực hiện các
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, phục vụ đông đảo quần
chúng nhân dân. Trong đó: Tập trung tuyên truyền phòng chống ma túy,
luật giao thông, tuyên truyền các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước;
Tổ chức giao lưu văn nghệ quần chúng, giao lưu văn hóa thể thao cho các
ngày lễ, tết trong năm.
Tăng cường công tác kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động các cơ sở kinh
doanh dịch vụ văn hóa, thể thao và xử lý các trường hợp vi phạm. Phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Kết quả có 818/1505
hộ gia đình văn hóa
(ha)
Năng
xuất
(tạ/ha)
Sản
lượng
(tấn)
Diện
tích
(ha)
Năng
xuất
(tạ/ha)
Sản
lượng
(tấn)
I Cây lương
thực có hạt
1.297
1.212,2
93,5
270
14
378
100
4 Ngô 790
700
40
2.800
88,6
II Cây chất
bột lấy củ
250
417465
97
1 Đậu tương
350
2 Lạc
100
3 Bông
1 Trồng cỏ 2
2
100
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2013 kế hoạch giao 4.471,3
tấn, thực hiện được 4.294,1 tấn, đạt 96% so với kế hoạch, giảm 2,4% so với
năm 2012 (trong đó thóc kế hoạch giao 1.416 tấn, thực hiện đươc 1.494,1