nghiên cứu bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng tại huyện tiên yên và đầm hà, tỉnh quảng ninh - Pdf 14

ĐAI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN KHẮC SƠN

NGHIÊN CỨU BẢO TỒN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI HUYỆN TIÊN YÊN
VÀ ĐẦM HÀ, TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG


Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG VĂN THẮNG
Hà Nội- 2009 i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng 3
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15 1
MỞ ĐẦU
Lý do lựa chọn đề tài
Đất ngập nƣớc (ĐNN) Việt Nam đƣợc đánh giá là rất phong phú, có vai trò rất quan trọng trong các hệ thống
tự nhiên cũng nhƣ đối với các hệ xã hội, đặc biệt là các hệ sinh thái ĐNN cửa sông- ven biển. Tuy nhiên,
hiện nay vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các hệ sinh thái ĐNN Việt Nam đang bị suy thoái nghiêm trọng.
Trong danh mục 30 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái (Cục Bảo vệ môi trƣờng, 2007), hệ sinh thái rừng ngập
mặn (RNM) khu vực miền Đông Quảng Ninh nằm trong 12 hệ sinh thái đặc thù bị suy thoái nghiêm trọng
nhất hiện nay.
RNM xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình, huyện Đầm Hà trƣớc đây có diện tích khá lớn, khoảng
5000ha, là một trong những hệ sinh thái RNM điển hình khu vực phía Bắc Việt Nam với chất lƣợng rừng tốt,
phong phú về chủng loại. Tuy nhiên, do quá trình khai thác sử dụng không hợp lý nên diện tích RNM đã bị
suy giảm nhiều, hiện chỉ còn khoảng hơn 1000ha. Mặc dù vậy, diện tích RNM và tài nguyên ĐNN vùng cửa
sông - ven biển này vẫn đang tiếp tục bị đe dọa và có nguy cơ bị suy thoái nghiêm trọng nếu không có những
biện pháp kịp thời để bảo tồn và sử dụng một cách bền vững.
Với những lý do trên, học viên đã chọn đề tài “Nghiên cứu quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
tại huyện Tiên Yên và Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh” để thực hiện luận văn tốt nghiệp khóa học thạc sỹ
chuyên ngành Môi trường trong Phát triển bền vững.
Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài bao gồm cộng đồng dân cƣ ở 2 thôn: Cái Khánh - xã Đông Hải, huyện Tiên
Yên và Làng Ruộng - xã Đại Bình, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh; và các hệ sinh thái ĐNN vùng cửa
sông ven biển (RNM, bãi triều, vùng nƣớc biển ven bờ) thuộc địa bàn các xã này.
Mục tiêu nghiên cứu
 Đánh giá hiện trạng tài nguyên thiên nhiên ven biển tại hai điểm nghiên cứu.
 Đánh giá mức độ phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ven biển của cộng đồng tại hai điểm nghiên
cứu.

3
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng xã hội (dân tộc, triết)
Chỉ một tập đoàn ngƣời rộng lớn, có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội chung về thành phần giai cấp,
về nghề nghiệp, về địa điểm sinh tụ và cƣ trú. Cũng có những cộng đồng xã hội bao gồm cả một dòng họ,
một sắc tộc, một dân tộc.
Tính đa dạng của cộng đồng
Phạm vi của cộng đồng trên thực tế rất khác nhau.
Cơ sở cấu trúc của cộng đồng
4 chuẩn mực sau đây có thể đƣợc vận dụng cho mô hình của một cộng đồng: Địa điểm hay lãnh thổ, quyền
lợi hay mối quan tâm, luật tục (hƣơng ƣớc) và bản sắc ([5],[6]).
Những cộng đồng ven biển
Cộng đồng ven biển là những ngƣời sống ở những dải đất hẹp hay trên mặt nƣớc dọc theo một đƣờng biến
động nơi biển gặp đất liền. Thực tế là sinh kế của những cộng đồng ven biển phụ thuộc vào những tài nguyên
đất liền để có lƣơng thực hoặc thu nhập. Những cộng đồng ven biển có những nguồn thu nhập đa dạng
nhƣng đều có mối đe dọa nghiêm trọng về an ninh lƣơng thực.
Hệ thống con ngƣời và sinh thái tạo ra vùng ven biển là hệ thống phức hợp cao độ về phƣơng diện dân số
học cũng nhƣ sinh thái học. Sự luân chuyển là thành tố quan trọng của tính phức hợp trong những sinh cảnh
ven biển và cửa sông.
Những hệ sinh thái và cộng đồng ven biển đang trong tình trạng khủng hoảng bởi sự khai thác quá mức và
đông dân.
Ở Việt Nam, đại bộ phận cƣ dân ven biển đều sinh sống trong các cộng đồng với nhiều ngành nghề khác
nhau mà đặc trƣng nhất là cƣ dân nông nghiệp. Giống nhƣ nhiều nơi trên thế giới, các cộng đồng cƣ dân ven
biển Việt Nam cũng đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng do khai thác quá mức các tài nguyên ven biển
và sự gia dân số nhanh, đặc biệt là những cộng đồng nghèo.
1.1.2. Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng (CBCRM)
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là quá trình quản lý tài nguyên ven biển do những ngƣời phụ
thuộc vào nguồn tài nguyên đề xƣớng.

CBCRM cũng nhƣ đúc rút các bài học kinh nghiệm tƣơng ứng với từng hợp phần trong quá trình nghiên cứu
và áp dụng CBCRM ở Philippines nhƣ sau:
(i)- Tổ chức cộng đồng (C.O.) và tạo lập sự lãnh đạo
(ii)- Nghiên cứu có sự tham gia
(iii)- Giáo dục và đào tạo
(iv)- Quản lý tài nguyên 5
(v)- Phát triển sinh kế
(vi)- Tăng cường sự đa dạng và bảo tồn bản sắc văn hóa
(vii)- Mạng lưới và tăng cường tiếng nói của cộng đồng.
Một trong những tài liệu đầy đủ và có hệ thống nhất về quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng là
bộ sách “Các phương pháp tham gia trong quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng” do Viện Tái
thiết Nông thôn Quốc tế (IIRR), Philippines ấn hành năm 1998.
Một số mô hình quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng đã đƣợc triển khai thành công trên thực tế, điển hình nhƣ
Dự án trồng lại rừng ngập mặn Buswang ở Kalibo, Philippines; dự án rừng cộng đồng ở tỉnh Trang, thuộc
Tây nam Thái Lan do một tổ chức phi chính phủ địa phƣơng mang tên Yad Fon thực hiện.
Ở Việt Nam
Trong khoảng hơn một thập kỉ qua, các cơ quan khoa học và cơ quan quản lý nhà nƣớc về tài nguyên môi
trƣờng đã thực hiện một số chƣơng trình, dự án liên quan đến bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng, trong
đó có các chƣơng trình về CBCRM. Một số chƣơng trình, dự án tiêu biểu: Chƣơng trình trồng lại rừng ngập
mặn ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh (1996); Dự án nuôi ong trong rừng ngập mặn tại Tiền Hải, Thái Bình
(1998); Quản lý tài nguyên ven bờ dựa vào cộng đồng/đồng quản lý ở đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Thừa
Thiên Huế; Mô hình khai thác nghêu bền vững tại Bến Tre.
Tại khu vực nghiên cứu
Các nghiên cứu của Phan Nguyên Hồng về thảm thực vật ngập mặn nơi đây.
Một số dự án trồng rừng ngập mặn nhằm phục hồi những khu vực hệ sinh thái đã bị suy thoái với sự giúp đỡ
của các tổ chức trong và ngoài nƣớc nhƣ CRES, ACTMANG (Nhật Bản), KTV (Hà Lan),


Trình bày các đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, thời tiết, thủy văn, hải văn của khu vực nghiên cứu.
3.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Tình hình về dân số và dân tộc, cơ cấu kinh tế, cơ sở hạ tầng của 2 xã Đông Hải và Đại Bình.
3.2. Hiện trạng tài nguyên ven biển của Đông Hải và Đại Bình
3.2.1. Tài nguyên đất
Trên cơ sở kiến tạo địa chất, địa hình của khu vực có thể chia xã Đông Hải thành hai vùng chính là vùng đồi
núi và vùng đất bằng ven biển. Vùng đồi núi có thể chia thành 4 loại: đất lúa nƣớc vùng đồi núi; đất feralit
điển hình nhiệt đới ẩm (từ 25-175m); đất feralit trên núi (175-400m); đất feralit màu vàng nhạt trên núi cao
(trên 400m)
Ở khu vực xã Đại Bình cũng có các loại đất cơ bản giống nhƣ xã Đông Hải, với các loại đất chính nhƣ sau:
đất phèn, đất feralit biến đổi do trồng lúa, đất dốc tụ, bạc màu và nhóm đất cát ven biển và đất mặn.
3.2.2. Tài nguyên nước
Nước mặt: Cả Đông Hải và Đại Bình đều có nguồn tài nguyên nƣớc mặt khá phong phú.
Nước ngầm: Tài nguyên nƣớc ngầm của cả Đông Hải và Đại Bình khá dồi dào và có chất lƣợng tốt.
Nước mặn, lợ: Khu vực hai xã Đông Hải và Đại Bình có diện tích mặt biển khá rộng, chất lƣợng nƣớc biển
ven bờ đƣợc đánh giá là tƣơng đối tốt, ít chịu ảnh hƣởng của các nguồn ô nhiễm có nguồn gốc tự nhiên hay
nhân tạo.
3.2.3. Tài nguyên rừng
Xã Đông Hải có 2.865,4ha rừng (chiếm 59,20% diện tích tự nhiên), trong đó có 500ha rừng phòng hộ (chủ
yếu là rừng ngập mặn). Xã Đại Bình có 1105,68ha đất rừng (2005), chiếm 36,59% tổng diện tích tự nhiên,
1027,88ha rừng phòng hộ, chủ yếu là rừng phòng hộ ven biển (rừng ngập mặn).
Hệ sinh thái rừng ngập mặn: Theo Phan Nguyên Hồng (1999), hệ sinh thái rừng ngập mặn tại khu vực
nghiên cứu thuộc tiểu khu 1 (từ Móng Cái đến Cửa Ông) của vùng ven biển Đông Bắc (Khu vực I) .
Rừng ngập mặn trong khu vực phát triển tƣơng đối tốt và khá tập trung, phần lớn là rừng tự nhiên. Thành
phần thực vật chủ yếu gồm các loài mắm biển, đƣớc vôi, vẹt tách, sú, cóc, tại các bãi triều thấp, các loài giá,
vạng hôi và các loài cây bụi khác trên các vùng triều cao.
3.2.4. Tài nguyên biển
Biển của Tiên Yên và Đầm Hà nói chung, Đông Hải và Đại Bình nói riêng là nơi sinh sống của nhiều loài
thủy hải sản có giá trị bảo tồn và giá trị kinh tế cao.



Hình 3.2: Tình hình sử dụng đất xã Đông Hải
3.3.2. Tình hình khai thác thủy hải sản
Ở cả hai xã Đại Bình và Đông Hải nghề đánh cá khơi và bám khơi phát triển chậm, chƣa có tàu đánh cá ở
các ngƣ trƣờng vùng khơi.
Khai thác hải sản tại các bãi triều và trong rừng ngập mặn phát triển mạnh mẽ. Đối tƣợng khai thác rất đa
dạng: các loại cá, tôm, vạng, ngán, giun đen (còn gọi là bông thùa), sá sùng, bạch tuộc (dân địa phƣơng gọi
là ruốc), hà, ốc các loại,
Thu nhập từ hoạt động khai thác thủy hải sản ở bãi triều và rừng ngập mặn trung bình dao động từ 50.000-
100.000 đồng/ngày, có thể cao hơn phụ thuộc vào số lƣợng hải sản đánh bắt đƣợc. Hoạt động khai thác thủy
hải sản trong rừng ngập mặn có những ảnh hƣởng nhất định đến cây ngập mặn. 9
3.4. Thực trạng quản lý tài nguyên ven biển ở Đại Bình và Đông Hải
Hình 3.3 thể hiện mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và khai thác, sử dụng vùng đất ngập triều
thuộc 2 xã Đại Bình và Đông Hải.

Hình 3.3. Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong quản lý và khai thác, sử dụng vùng đất ngập triều thuộc 2 xã
Đại Bình và Đông Hải
Hiện tại, tài nguyên rừng ngập mặn và khu vực bãi triều đang thuộc quyền quản lý chung của các xã.

Hình 3.4: Mô hình quản lý rừng ngập mặn tại Đại Bình và Đông Hải
Ảnh hƣởng giữa các bên liên quan

Các dự án của các tổ chức bảo tồn và nghiên cứu trong, ngoài nƣớc.
Các mối đe dọa đối với CBCRM ở Đại Bình và Đông Hải
Các biện pháp khai thác tài nguyên RNM và các bãi triều không hợp lý và thiếu tính bền vững, khai thác quá
mức các loài hải sản có giá trị kinh tế cao.
Các quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội thiếu tính bền vững.
Hình 3.5: Mô hình quản lý bãi triều tại Đại Bình và Đông Hải
11
Hoạt động của trạm xăng dầu ở khu vực Đồng Bí (Đại Bình) và nhà máy khai thác quặng titan (cát đen) ở
khu vực thôn Hà Tràng thuộc xã Đông Hải cũng là những mối đe dọa tiềm ẩn và trực tiếp đối với tài nguyên
ven biển trên địa bàn hai xã.
3.5.2. Đề xuất mô hình CBCRM cho xã Đông Hải và Đại Bình

Hình 3.6.Mô hình CBCRM đề xuất cho Đại Bình và Đông Hải 12
Mô hình CBCRM đề xuất cho Đông Hải và Đại Bình đƣợc xây dựng với trọng tâm là các tổ chức dựa vào
cộng đồng, mà ở đây là Ban quản lý rừng ngập mặn và bãi triều và Đội tuần rừng cộng đồng của xã. Ban
quản lý rừng ngập mặn và bãi triều của xã bao gồm các thành viên là đại diện từ các thôn và một cán bộ
chính quyền cấp xã. Đội tuần rừng cộng đồng sẽ bao gồm một công an viên của xã và những ngƣời tự
nguyện từ các thôn và sẽ trực thuộc Ban quản lý trên.
3.5.3. Các sinh kế thay thế bền vững
 Nuôi ong trong rừng ngập mặn
 Trồng nấm
 Phát triển kinh tế vƣờn đồi
 Phát triển chăn nuôi
Bảng 3.1. So sánh mô hình quản lý tài nguyên ven biển hiện tại và mô hình đề xuất

bằng.
Các cuộc họp cộng đồng tại
mỗi thôn sẽ là cơ hội để
ngƣời dân tham gia tích cực
vào quá trình ra quyết định
liên quan đến nguồn tài
nguyên ven biển, qua đó tăng
cƣờng sự công bằng trong
khai thác nguồn tài nguyên
này.
Tính hợp
lý về sinh
thái và
phát triển
bền vững
Nguồn tài nguyên ven
biển vẫn bị khai thác
bằng các biện pháp
mang tính hủy diệt và
thiếu tính bền vững.
Giáo dục môi trƣờng và
những quy định (hƣơng ƣớc)
về khai thác tài nguyên ven
biển sẽ khuyến khích các
biện pháp khai thác, sử dụng
nguồn tài nguyên ven biển
một cách hợp lý và bền
vững.
Tôn trọng
những tri

nguyên
Quyền hƣởng dụng
nguồn tài nguyên
không đƣợc đảm bảo
do thiếu thông tin và sự
minh bạch trong quá
trình ra quyết định liên
quan đến nguồn tài
nguyên ven biển.
Tham gia tích cực vào các
buổi họp cộng đồng tại thôn
do Ban quản lý RNM và bãi
triều tổ chức sẽ là kênh
thông tin hữu ích và tăng
cƣờng tiếng nói của cộng
đồng trong các quyết định
liên quan nguồn tài nguyên,
qua đó cải thiện quyền
hƣởng dụng tài nguyên của
chính cộng đồng.
Xây dựng
nguồn
nhân lực
Tăng cƣờng năng lực
cho chính bản thân
cộng đồng chƣa đƣợc
chú trọng.
Giáo dục môi trƣờng sẽ tăng
cƣờng năng lực cho đội ngũ
cán bộ chính quyền cấp địa

tế mà chƣa thực sự chú
ý đến tính bền vững của
tài nguyên.
Các sinh kế thay thế sẽ mang
lại thu nhập ổn định cho
ngƣời dân địa phƣơng và
giảm dần sự phụ thuộc vào
nguồn tài nguyên thiên nhiên
ven biển. 14
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
 Tài nguyên ven biển có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng, nhƣng lại
đang bị xuống cấp do chính các hoạt động của con ngƣời.
 Đa phần ngƣời dân trong cả hai xã Đại Bình và Đông Hải không biết hoặc không biết rõ ràng về tình
hình quản lý nguồn tài nguyên ven biển mà họ phụ thuộc.
 Quyền hƣởng dụng tài nguyên của cộng đồng địa phƣơng về cơ bản đƣợc đảm bảo.
 Kiến thức truyền thống và động lực nội tại cộng đồng là những ƣu thế, trong khi thiếu kiến thức
khoa học và không ý thức đƣợc trách nhiệm bảo vệ nguồn tài nguyên lại là những yếu thế khi cộng
đồng tham gia vào CBCRM. Tuy nhiên sự hậu thuẫn về thể chế, chính sách và các chƣơng trình bảo
vệ và phát triển tài nguyên rừng ngập mặn ở cấp tỉnh cũng nhƣ sự lôi cuốn của chính khu vực nghiên
cứu chính là các cơ hội thúc đẩy CBCRM ở địa phƣơng.
 Nguồn tài nguyên ven biển của địa phƣơng hiện đang đối mặt với nhiều mối đe dọa, trong đó khai
thác tận diệt sá sùng, đánh ngán, đánh bắt hải sản bằng điện cao áp, các quy hoạch phát triển thiếu
bền vững là những mối đe dọa trực tiếp. Ngoài ra, hoạt động của trạm xăng dầu và nhà máy khai
thác quặng lại mang đến những nguy cơ tiềm ẩn cho môi trƣờng cũng nhƣ tài nguyên của khu vực.
 Mô hình CBCRM đề xuất cho khu vực sẽ tập trung vào việc xây dựng các tổ chức dựa vào cộng
đồng, mà ở đây là Ban quản lý rừng ngập mặn và bãi triều và Đội tuần rừng cộng đồng. Với mô hình

Ninh”. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.
7. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2007). Tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu môi trường và phát triển.
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
8. Nguyễn Chu Hồi (2003). Chiến lược môi trường quốc gia và quá trình thực hiện ở vùng bờ biển Việt
Nam. Tài liệu tập huấn Quốc gia về Quản lý Khu bảo tồn biển. Nha Trang.
9. Nguyễn Chu Hồi và cộng sự (1999). Tài nguyên và môi trường biển: Tuyển tập các công trình nghiên
cứu. NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội.
10. Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2000). Rừng ngập mặn Việt Nam. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
11. Phạm Việt Hùng (2008). Đánh giá điều kiện khí hậu, thủy văn, địa hình, địa mạo và đánh giá các hệ
sinh thái, cảnh quan tự nhiên của khu vực. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc
về bảo vệ môi trƣờng “Triển khai áp dụng và hoàn thiện mô hình quản lý tài nguyên thiên dựa vào cộng
đồng phục vụ phát triển bền vững vùng cửa sông ven biển xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình,
huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh”. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia
Hà Nội. Hà Nội.
12. Trần Thu Phƣơng (2008). Kinh tế - xã hội, kiến thức bản địa và hiện trạng năng lực quản lý bảo tồn
trong vùng cửa sông ven biển xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng
Ninh. Báo cáo chuyên đề thuộc đề tài nhiệm vụ quản lý Nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng “Triển khai áp
dụng và hoàn thiện mô hình quản lý tài nguyên thiên dựa vào cộng đồng phục vụ phát triển bền vững
vùng cửa sông ven biển xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và xã Đại Bình, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng
Ninh”. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.
13. Hoàng Văn Thắng và cộng sự (2009). Triển khai áp dụng và hoàn thiện mô hình quản lý tài nguyên thiên
dựa vào cộng đồng phục vụ phát triển bền vững vùng cửa sông ven biển xã Đông Hải, huyện Tiên Yên và
xã Đại Bình, huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại
học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội.
14. Hà Xuân Thông (2003). Đặc điểm của các cộng đồng dân cư ven biển ở Việt Nam. Tài liệu tập huấn
Quốc gia về Quản lý Khu bảo tồn biển. Nha Trang.
15. Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trƣờng, Đại học Quốc gia Hà Nội (2006). Quản lý tổng hợp
tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng tại các xã Hải Lạng và Đồng Rui, huyện Tiên Yên, tỉnh Quảng
Ninh. Hà Nội.


25. Schmink Marianne (1999). Conceptual Framework for Gender and Community-Based Conservation.
Managing Ecosystems and Resources with Gender Emphasis, Case Study No.1 on Gender, Community
Participation and Natural Resource Management. Tropical Conservation and Development Program,
Center for Latin American Studies, University of Florida. USA.
26. Wang Hurng-Jyuhn, Chin-Shien Wu (2005). Community-Based Conservation Management: Strategies
and Modeling of Wildlife Refuge at Shin-Wu-Lue Creek. Taiwan.
Internet

27. Trinh Anh, Mộc Khánh. “Trồng nấm, nuôi ong: Hƣớng đi hiệu quả bảo vệ môi trƣờng”,
(ngày truy cập 14/12/2009).
28. Con ngƣời và Thiên nhiên. “Nghề cá đầu tiên ở Đông Nam Á đƣợc chứng nhận MSC”,
(ngày truy cập 30/10/2009).
29. Cổng thông tin điện tử Quảng Ninh. “Quảng Ninh: Quy hoạch, phát triển rừng ngập mặn phù hợp với
phát triển kinh tế - xã hội”, (Ngày truy cập 29/9/2009).
30. Lê Phƣơng, Đình Tính. “Quản lý và bảo vệ đầm phá hƣớng vào cộng đồng”,
(Ngày truy cập 30/7/2009). 17
31. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre. “Bến Tre triển khai đề tài nghiên cứu về con sâm đất”,
(Ngày
truy cập 24/9/2009).
32. Thông tấn xã Việt Nam. “9 khu rừng ngập mặn đƣợc ƣu tiên bảo vệ trong năm 2005 và 8 dự án quản lý
môi trƣờng cho giai đoạn 2005-2010”,
/>01.4343/2005/2005_00002/MItem.2005-01-28.3025/MArticle.2005-01-28.4214/marticle_view (ngày
truy cập 24/9/2009).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status