BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Quang Vinh Bình
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH
QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO NGHỀ
CÁ QUY MÔ NHỎ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Chuyên ngành: Khai thác thủy sản
Mã số: 62.62.80.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
NHA TRANG - 2008
Công trình được hoàn thành tại:
Trường Đại học Nha Trang
Người hướng dẫn khoa học:
+ PGS.TS Nguyễn Văn Động
ngày càng cạn kiệt. Do đó, ngày nay phát triển và bền vững là hai
từ luôn đi song hành khi nói đến ngành thủy sản hiện đại. Không
thể chỉ chú trọng
đến công nghệ, kỹ thuật... để tạo ra năng suất
cao, phát triển vượt bực mà chúng ta còn cần phải quan tâm đến
quản lý ngư trường, nguồn lợi, môi trường thuỷ sinh... tạo thế bền
vững trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, tài nguyên và xã hội nghề cá.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với nghề cá quy mô nhỏ ở vùng
ven bờ biển, là nơi hầu như sự khai thác thường đã vượ
t quá giới
hạn cân bằng về nguồn lợi, sức tải môi trường.
Từ năm 1986, công cuộc đổi mới của đất nước đã được đặt
ra; tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang ở mức thấp, tình
trạng đói nghèo và sự thiếu hiểu biết của người dân còn tồn tại,
cộng với việc thiếu chuyên gia, thiếu kinh nghiệm quản lý và
thiếu sự
định hướng cụ thể nên công cuộc cải tổ quản lý nghề cá
vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập, chung chung... Do sức ép của
đời sống nghèo khó cộng thêm việc quản lý nghề cá chưa được
quan tâm đầy đủ, nên nguồn lợi thủy sản, vốn đã có dấu hiệu kém
bền vững tiếp tục bị khai thác quá mức, khai thác huỷ diệt... Nguy
cơ cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, kéo theo tình trạ
ng đói nghèo của
bộ phận ngư dân dựa vào nguồn lợi này là rất rõ ràng.
Nghề cá quy mô nhỏ ở Thừa Thiên Huế, cả nghề cá đầm
phá lẫn nghề cá ven bờ cũng nằm trong tình trạng trì trệ chung
như của cả nước. Trải qua nhiều thế hệ, các loại nghề khai thác
2
đã tăng gấp nhiều lần về số lượng, nhưng năng suất khai thác
3
Đối tượng nghiên cứu được xác định là vấn đề quản lý
nghề cá quy mô nhỏ và phương cách quản lý dựa vào cộng
đồng với phạm vi địa bàn nghiên cứu được xác định trong tỉnh
Thừa Thiên Huế.
Do giới hạn về thời gian thực hiện lẫn nguồn kinh phí
nên phạm vi triển khai thực nghiệm chỉ chọn trong một thôn
nghề cá. Tuy nhiên về mặt lý luận, Luận án thực hiện nghiên
cứu mở
rộng sang toàn bộ các hệ thống thuỷ sản các vùng đầm
phá, vùng ven bờ trong tỉnh, trong nước và quốc tế.
Về mặt thời gian, luận án tập trung trong giai đoạn bắt
đầu từ cuối năm 2002 đến cuối năm 2006.
Nghiên cứu đề tài quản lý nghề cá dựa vào dân có ý
nghĩa lý luận là cụ thể hóa đường lối đổi mới của Đảng, Nhà
nước vào thực tiễn quản lý ngành thủy sả
n tại địa phương. Mặt
thực tiễn, Đề tài mở ra đường lối quản lý nghề cá vừa tiết kiệm
kinh phí vừa đạt hiệu lực cao hơn thông qua việc huy động
nguồn lực nhân dân, phát huy tính chủ động quản lý ở cơ sở.
Luận văn được trình bày theo cơ cấu ngoài chương mở đầu
nêu tính cấp thiết, mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi
nghiên c
ứu cũng như những đóng góp mới về khoa học của đề tài,
thì phần nội dung chính được thể hiện trong 4 chương:
+Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
+Chương 2: Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
+Chương 3: Kết quả mô hình và thảo luận
Cuối cùng là phần kết luận gồm các kết luận và các
khuyến nghị hướng phát triển nghiên cứu tiếp theo.
nghề cá được phát triển bởi các nhóm ngư dân dựa trên "quyền
đánh cá" và được thực hiện dưới sự sáng tạo của ng
ư dân.
Tại Nhật Bản tồn tại 3 cỡ loại dựa vào cộng đồng:
1) Một nhóm trong tổ chức ngư dân sử dụng cùng nghề
khai thác, tự quy định và cùng thực hiện các quy tắc đánh bắt.
5
2) Hội Hợp tác Nghề cá (tổ chức ngư dân) tự quản lý,
thông qua các quy chế quản lý nghề cá trong Hội Hợp tác.
3) Nhóm Hội Hợp tác Nghề cá lân cận cùng thoả thuận
để quy định điều phối các nguồn lợi chung, để cùng có lợi.
Gần đây, thuật ngữ "đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng
đồng" cũng được sử dụng như trung gian giữa hai khái niệm
"đồng quản lý" và "quản lý d
ựa vào cộng đồng". Theo Pomeroy
(1998): Đồng quản lý dựa vào cộng đồng bao gồm hai cấu
thành của cả "đồng quản lý" và "quản lý dựa vào cộng đồng",
như: người dân là trung tâm, hướng vào cộng đồng, dựa vào
nguồn lợi và sự tham gia của các đối tác. Theo đó, "đồng quản
lý dựa vào cộng đồng" có cộng đồng là tâm điểm của nó nhưng
thừa nhận để duy trì những hành động nói trên thì các mối
quan h
ệ dọc - ngang là cần thiết.
1.2. MÔ HÌNH QUẢN LÝ NGHỀ CÁ DỰA VÀO DÂN
1.2.1. Các nghiên cứu và triển khai trên thế giới
Quyền đánh cá ven bờ với 3 hợp phần là nghề khai thác
cố định cỡ lớn, khai thác công cộng và nuôi trồng thuỷ sản chỉ
được cấp cho các Hội Hợp tác Nghề cá, ở gần kề ngư trường để
ngư dân phải tự quản lý trong khu vực đã được phân quyền là
Mô hình quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào cộng đồng xã
Phù Long, huyện Cát Hải, Hải Phòng thực hiện từ năm 1999. Ý
tưởng chính là phân cấp cho địa phương và lôi kéo sự tham gia
của người sử dụng nguồn lợi vào việc b
ảo vệ chính nguồn lợi
đó. Khu bảo tồn xã Phù Long được thành lập vào tháng 3/2003,
với Hội đồng quản lý khu bảo tồn gồm 10 thành viên là các ngư
dân và cán bộ địa phương... Tuy nhiên, khung pháp lý và cơ chế
tài chính bền vững để hoạt động lâu dài là vấn đề đặt ra...
Mô hình Bảo tồn biển Rạn Trào do địa phương quản lý ở
xã Vạn Hưng, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà, được thực
hiện từ nă
m 2001 đến 2004. Mục tiêu là quản lý và bảo tồn tốt
7
hệ sinh thái rạn san hô 27 hecta, thông qua áp dụng quản lý có
sự tham gia của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ, bảo tồn,
khai thác và nuôi trồng thuỷ sản bền vững. Tháng 3/2002, Khu
Bảo tồn ra đời và nguồn lợi thuỷ sản bước đầu có dấu hiệu phục
hồi... Tuy nhiên, tồn tại của mô hình là chưa gắn kết với các
quy hoạch phát triển của địa phương và chưa áp dụng mở rộ
ng.
Dự án "Quản lý nghề cá hồ chứa" ở Đắc Lắc được tài trợ
bởi Uỷ hội sông Mê Công (MRC) bắt đầu từ tháng 8 năm 1995
cho đến nay. Dự án đã đã cố gắng đưa ra được một mô hình
đồng quản lý thí điểm và sau đó phát triển nhân rộng cho những
hồ khác. Các vấn đề tồn đọng cho đến nay, là hiếu tài chính để
thực hiện các kế hoạch hoạt độ
ng và chính quyền cấp huyện
vẫn còn thờ ơ, chưa quan tâm đến đồng quản lý nghề cá.
lý nghề cá nặng nề từ trên xuống, vốn không hiệu quả và không
phù hợp thực tiễn nghề cá quy mô nhỏ, thiên hình vạn trạng.
Tuy nhiên, các mô hình triển khai cụ thể thường thiếu cơ sở lý
thuyết hoặc đôi lúc b
ị áp đặt lý thuyết của các nhà tài trợ nước
ngoài. Ngược lại, các nghiên cứu lại quá lý thuyết, ít chú ý đến
thực tiễn quản lý nghề cá đang diễn ra, khiến chưa thấu đáo,
khó phù hợp với thể chế của địa phương và quốc gia.
Do đó, cần phải phát triển nội lực Việt Nam từ truyền
thống và thể chế hiện hành để xây dựng một chiến lược
đổi
mới: quản lý nghề cá dựa vào dân theo phong cách Việt Nam.
Về thực tiễn, mô hình nghiên cứu triển khai cần phải súc tích,
đơn giản, dễ dàng phổ biến, nhân rộng trở thành hệ thống.
1.3. SƠ LƯỢC NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ THỪA THIÊN HUẾ
Khái niệm nghề cá quy mô nhỏ áp dụng tại Thừa Thiên
Huế có thể bao gồm: nghề cá nước ngọt sông, hồ, hồ chứa nội địa;
nghề cá đầm phá nước lợ (bờ ven biển) và nghề cá biển ven bờ.
9
1.4. QUẢN LÝ NGHỀ CÁ QUY MÔ NHỎ
Quá trình tổng hợp về thu thập thông tin, phân tích, quy
hoạch, tư vấn, ra quyết định, phân bổ nguồn lợi, xây dựng và
thực hiện các quy định hoặc luật lệ và thi hành khi cần thiết,
nhằm quản lý các hoạt động thuỷ sản để duy trì nguồn lợi và đạt
hiệu quả kinh tế bền vững... được xem là "quản lý nghề cá". Vai
trò của quản lý nghề cá ngày càng quan trọng khi nguồn l
ợi
thuỷ sản, môi trường thuỷ sinh ngày càng cạn kiệt, xuống cấp...