BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
Nguyễn Quang Vinh Bình
NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH
QUẢN LÝ DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG CHO NGHỀ CÁ
QUY MÔ NHỎ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT
1. PGS.TS. Nguyễn Văn Động
2. PGS. TS. Hà Xuân Thông
NHA TRANG - 2008 i
Lời cam đoan Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi trong đề xuất ý tƣởng, xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và tổ chức
triển khai thực nghiệm để chứng minh, đánh giá và rút ra các kết luận khoa
học Tất nhiên, công trình không thể hoàn thành nếu thiếu sự cộng tác chặt
chẽ của nhiều cá nhân, tổ chức tham gia nghiên cứu các khía cạnh khác nhau,
vào các giai đoạn khác nhau của suốt quá trình nghiên cứu - triển khai công
trình này.
Các số liệu đƣợc sử dụng trong Luận án là trung thực, những kết luận
khoa học chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
trích dẫn đều đƣợc chỉ rõ nguồn tài liệu và tác giả. Các đồng nghiên cứu, các
dữ liệu phân tích lấy từ các công trình nghiên cứu liên quan khác đều đƣợc
phép của đồng tác giả hoặc các cơ quan chủ quản.
Nghiên cứu sinh
Ban Vận động thành lập Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế, Ban Xây dựng quy
hoạch tổng thể quản lý thuỷ sản đầm phá Thừa Thiên Huế, bà con ngƣ dân
trong Chi hội Nghề cá Quảng Thái nói riêng, các cộng đồng nghề cá Thừa
Thiên Huế nói chung và Dự án Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng
đồng, Đại học Nông Lâm - Huế. Tất cả đã góp sức cùng nhau tạo nên sức
mạnh lớn trong sự nghiệp nghiên cứu và triển khai để cải tiến phƣơng pháp
quản lý nghề cá quy mô nhỏ ngày một tốt hơn.
Lời cuối cùng, tôi xin dành tặng vợ và hai con, những ngƣời đã chịu
nhiều phần thiệt thòi trong suốt quá trình học tập của tôi, vì đã dành nhiều hơn
thời gian và tâm huyết để nghiên cứu, triển khai công trình này.
Nghiên cứu sinh
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ASEAN: Hiệp hội các nƣớc Đông Nam Á.
BCH: Ban Chấp hành.
BKT: Ban Kiểm tra.
DANIDA: Cơ quan Phát triển quốc tế Đan Mạch.
FAO: Tổ chức Nông nghiệp và Lƣơng thực của Liên Hiệp quốc.
HĐND: Hội đồng Nhân dân.
HTX: Hợp Tác xã.
ICLARM: Trung tâm Quốc tế về Quản lý Nguồn lợi Thuỷ sinh. Nay
để chỉ thuật ngữ tiếng Anh này từ 1995, mãi cho đến năm 2001 mới dùng cụm
từ "đồng quản lý". Nguyễn Duy Thiệu trong tác phẩm: "Cộng đồng ngƣ dân ở
Việt Nam" đã sử dụng cụm từ "liên kết quản lý". Hiện nay, đã sử dụng gần
nhƣ thống nhất cụm từ Việt Nam "đồng quản lý" để chỉ khái niệm này.
Community-Based Fisheries Management (CBFM): “Quản lý nghề cá
dựa vào cộng đồng”.
Community-Based Fisheries Co-Management: “Đồng quản lý nghề cá
dựa vào cộng đồng”, đƣợc sử dụng nhƣ trung gian giữa hai khái niệm trên.
Community-Based Coastal Resources Management (CBCRM): “Quản
lý nguồn lợi ven biển dựa vào cộng đồng”.
Community-Based Resources Management (CBRM): “Quản lý nguồn
lợi (tài nguyên) dựa vào cộng đồng”.
Limited Entry: cơ chế tiến cận giới hạn đối với việc khai thác, sử dụng
nguồn lợi, môi trƣờng thủy sản chỉ dành cho những ngƣời nhất định, thƣờng
là ngƣ dân. Có khi còn đƣợc gọi là “tiếp cận đóng”: Close Entry.
Fisheries Cooperative Association (FCA): Hội Hợp tác nghề cá (ở
Nhật), còn có thể gọi tắt là Hiệp hội Nghề cá. Đây là tổ chức nghề cá cơ sở
mang tính xã hội - nghề nghiệp ở Nhật Bản, hoạt động dƣới Luật Hợp tác
Nghề cá (Fisheries Cooperative Law). Nghĩa tiếng Nhật chuyển ngữ Việt
Nam là "Tổ hợp hiệp đồng" (Lê Thị Bình - Dự án Luật Thuỷ sản, 2002).
Nhiều nhà nghiên cứu gọi FCA là HTX Nghề cá, nhƣng bản chất tổ chức này
không giống HTX nghề cá kiểu Việt Nam. v
Fishing Rights: quyền đƣợc phép khai thác, nuôi trồng những loài
thủy sản cụ thể, hoặc khai thác bằng số lƣợng các chủng loại ngƣ cụ cụ thể
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Các hình thức thƣờng gặp trong "đồng quản lý nghề cá" 7
Bảng 1.2: Các nghề khai thác chính ở đầm phá Thừa Thiên Huế 41
Bảng 2.1: Các tiêu chí lựa chọn điểm xây dựng mô hình 69
Bảng 2.2: Kết quả chấm điểm lựa chọn địa điểm xây dựng mô hình 70
Bảng 2.3: Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của Chi hội 76
Bảng 2.4: Phân tích các bên liên quan và phƣơng pháp giải quyết 77
Bảng 2.5: Các chỉ tiêu qui hoạch và biện pháp dự kiến 78
Bảng 2.6: Kế hoạch thời gian và nguồn lực lập qui hoạch 78
Bảng 2.7: Kế hoạch thực hiện quy hoạch và nguồn lực cần thiết 79
Bảng 3.1: Quá trình phát triển tổ chức ngƣ dân tại Quảng Thái 82
Bảng 3.2: So sánh phát triển của các loại hình tổ chức ngƣ dân cơ sở 86
Bảng 3.3: So sánh về hộ nghèo trƣớc và sau khi xây dựng mô hình 98
Bảng 3.4: Kết quả trắc nghiệm về sự tham gia quản lý của ngƣ dân 100
Bảng 3.5: Kết quả trắc nghiệm về mức độ "đồng quản lý nghề cá" 102
Bảng 3.6: Kết quả trắc nghiệm về đánh giá các nội dung của mô hình 107
Bảng 3.7: Chi hội Nghề cá cơ sở ở Thừa Thiên Huế đến 31/12/2006 111
Bảng 3.8: Hội viên và loại hình sản xuất Nghề cá đến 31/12/2006 113
Bảng 3.9: Phân tích các yếu tố hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân 129
viii
MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1. Lý thuyết quản lý nghề cá dựa vào dân 4
1.1.1. Sơ lƣợc tiếp cận tại Việt Nam 4
1.1.2. Đồng quản lý nghề cá 6
1.1.3. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng kiểu Nhật Bản 12
1.1.4. Đồng quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng 15
1.2. Mô hình quản lý nghề cá dựa vào dân 16
1.2.1. Các nghiên cứu và triển khai trên thế giới 16
1.2.2. Các nghiên cứu và triển khai ở trong nƣớc 22
1.2.3. Các nghiên cứu và triển khai tại Thừa Thiên Huế 28
1.2.4. Đánh giá các nghiên cứu triển khai trƣớc đây ở Việt Nam 33
1.3. Sơ lƣợc nghề cá quy mô nhỏ Thừa Thiên Huế 37
1.3.1. Các loại hình nghề cá và nghề cá quy mô nhỏ 37
1.3.2. Khai thác thuỷ sản nƣớc ngọt, nội địa Thừa Thiên Huế 38
1.3.3. Khai thác thuỷ sản nƣớc lợ ở đầm phá Thừa Thiên Huế 39
1.3.4. Khai thác thuỷ sản ở biển ven bờ Thừa Thiên Huế 42
3.1.2. Bàn luận triển khai tổ chức ngƣ dân 83
3.2. Quy hoạch và tái sắp xếp ngƣ trƣờng 87
3.2.1. Kết quả quy hoạch và tái sắp xếp ngƣ trƣờng 87
3.2.2. Bàn luận về quy hoạch và tái sắp xếp theo tri thức bản địa 88
3.3. Quy định tự quản - hƣơng ƣớc 90
3.3.1. Kết quả quy định tự quản lý - hƣơng ƣớc 90
3.3.2. Bàn luận quy định tự quản lý - hƣơng ƣớc 92
3.4. Tổ chức bảo vệ ngƣ trƣờng 93
3.4.1. Kết quả bảo vệ ngƣ trƣờng 93
3.4.2. Bàn luận công tác bảo vệ ngƣ trƣờng, nguồn lợi thuỷ sản 94
3.5. Phát triển sinh kế góp phần xoá đói giảm nghèo 96
3.5.1. Tổ chức hợp tác, phát triển sinh kế 96
3.5.2. Đánh giá tổ chức ngƣ dân góp phần xoá đói giảm nghèo 97
3.6. Kết quả đánh giá mô hình và bàn luận 98
3.6.1. Đánh giá khách quan từ bên ngoài 98
3.6.2. Đánh giá từ Nhà nƣớc địa phƣơng tỉnh Thừa Thiên Huế 103
3.6.3. Đánh giá cuối kỳ nghiên cứu 105
3.7. Thảo luận về phát triển hệ thống sau mô hình 110
3.7 1. Hệ thống Hội Nghề cá Thừa Thiên Huế 110
3.7.2. Phân tích tổ chức Chi hội Nghề cá cơ sở ở Thừa Thiên Huế 119
3.7.3. Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào dân 125
3.7.4. Tính thể chế quản lý nghề cá dựa vào dân 132
3.7.5. Tóm lƣợc kinh nghiệm triển khai hệ thống 135
KẾT LUẬN 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ xi
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO xiii
PHẦN PHỤ LỤC xxi
trạng đói nghèo và sự thiếu hiểu biết của ngƣời dân còn tồn tại, cộng với
việc thiếu chuyên gia, thiếu kinh nghiệm quản lý và thiếu sự định hƣớng cụ
thể nên công cuộc cải tổ quản lý nghề cá vẫn còn nhiều lúng túng, bất cập,
chung chung Do sức ép của đời sống nghèo khó cộng thêm việc quản lý
nghề cá chƣa đƣợc quan tâm đầy đủ, nên nguồn lợi thủy sản, vốn đã có dấu
hiệu kém bền vững tiếp tục bị khai thác quá mức, khai thác bằng các
phƣơng pháp vi phạm pháp luật nhƣ dùng chất nổ, chất độc, xung điện
Nguy cơ cạn kiệt nguồn lợi thuỷ sản, kéo theo tình trạng đói nghèo của bộ
phận ngƣ dân dựa vào nguồn lợi này là rất rõ ràng. 2
Nghề cá quy mô nhỏ ở Thừa Thiên Huế, cả nghề cá đầm phá lẫn nghề cá
ven bờ cũng nằm trong tình trạng trì trệ chung nhƣ của cả nƣớc. Do có thể khai
thác tự do, tuỳ tiện, trong khi áp lực thiếu việc làm và thu nhập thấp nên số lƣợng
ngƣời tham gia vào làm nghề cá ngày càng đông. Trải qua nhiều thế hệ, các loại
nghề khai thác đã tăng gấp nhiều lần về số lƣợng, nhƣng năng suất khai thác
ngày càng giảm khiến ngƣ dân đua nhau sử dụng nhiều nghề khai thác mang tính
hủy diệt nhƣ te quệu, giã, xung điện để mong đạt thu nhập cao hơn, làm cho
nguồn lợi thủy sản ở đây có nguy cơ bị cạn kiệt.
Những năm gần đây, dù đã có rất nhiều nỗ lực của các cơ quan quản lý
thủy sản, cũng nhƣ của chính quyền các cấp, song tiến trình quản lý vẫn chƣa có
chiều hƣớng tốt hơn. Lực lƣợng cán bộ quản lý thuỷ sản, ngân sách Nhà nƣớc
dùng trong quản lý thuỷ sản có hạn mà khu vực quản lý và thời gian quản lý
nghề cá là “mọi nơi, mọi lúc” trên các vùng nƣớc, ngƣ trƣờng, nên hiệu lực và
hiệu quả quản lý không cao.
Vì thế, việc tìm kiếm, vận dụng phát triển những cách thức quản lý hợp
Nghiên cứu đề tài quản lý nghề cá dựa vào dân có ý nghĩa lý luận là
cụ thể hóa đƣờng lối đổi mới của Đảng, Nhà nƣớc vào điều kiện thực tiễn
quản lý ngành thủy sản tại địa phƣơng cơ sở. Mặt thực tiễn, Đề tài là hƣớng
mở, đƣờng lối quản lý nghề cá vừa tiết kiệm kinh phí vừa đạt hiệu lực cao
thông qua việc huy động nguồn lực nhân dân, chủ động quản lý ở cơ sở, góp
phần cùng Nhà nƣớc quản lý tốt ngƣ trƣờng, nguồn lợi, môi trƣờng thuỷ sản.
Luận văn đƣợc trình bày theo cơ cấu ngoài chƣơng mở đầu nêu lên
tính cấp thiết mục đích, nhiệm vụ, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu cũng nhƣ
những đóng góp mới về khoa học của đề tài, thì phần nội dung chính đƣợc thể
hiện trong 4 chƣơng:
+ Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu
+ Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
+ Chƣơng 3: Kết quả triển khai tổng hợp mô hình và bàn luận
+ Chƣơng 4: Kết quả phát triển hệ thống - thể chế và bàn luận
Cuối cùng là chƣơng kết luận gồm các kết luận và các khuyến nghị,
hƣớng phát triển nghiên cứu tiếp theo. 4
CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. LÝ THUYẾT QUẢN LÝ NGHỀ CÁ DỰA VÀO DÂN
1.1.1. Sơ lƣợc tiếp cận tại Việt Nam
có những động thái để xúc tiến nghiên cứu cũng nhƣ xây dựng các mô hình
triển khai, tuy nhiên cũng chỉ mới đang ở dạng xem xét, đề xuất. Hoàn toàn
chƣa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định, thậm chí ngay trong văn
bản quyết định thông thƣờng cũng không nhắc đến thuật ngữ "đồng quản lý".
Đồng quản lý chỉ đƣợc đề cập đến nhiều ở các hội thảo của các Dự án Hỗ trợ
kỹ thuật, do nƣớc ngoài tài trợ. Nhƣng ngay trong trong các hội thảo khoa học
đã có nhiều tranh luận, đôi lúc diễn ra gay gắt về các thuật ngữ, nhất là việc
"đồng quản lý" tốt hơn, lớn hơn hay "quản lý dựa vào cộng đồng" tốt hơn.
Thuật ngữ "quản lý nghề cá dựa vào dân" hay "dựa vào dân để quản
lý nghề cá" đƣợc nghiên cứu sinh sử dụng lần đầu tiên tại Đại học Thuỷ sản
Nha Trang
1
năm 2002, khi xây dựng các chuyên đề nghiên cứu của mình,
mục đích muốn chỉ rõ tính độc lập của khái niệm Việt Nam, so với các nƣớc
khác. Thuật ngữ này đƣợc tiếp tục sử dụng tại các Hội thảo khác nhau về
"đồng quản lý" và "quản lý dựa vào cộng đồng" trong nghề cá, khi giới thiệu
về mô hình đang xây dựng tại Thừa Thiên Huế, với hàm ý độc lập, không bị
áp đặt bởi lý thuyết "đồng quản lý" của bất kỳ tác giả nƣớc ngoài nào, cũng
nhƣ lý thuyết "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" kiểu Nhật Bản. Khái niệm
tƣơng tự "quản lý nguồn lợi ven bờ dựa vào dân" cũng đƣợc sử dụng tại Hội
thảo "Nhân rộng mô hình khu bảo tồn biển Rạn Trào do địa phƣơng quản lý"
tại Nha Trang, ngày 10 & 11/8/2004.
Các ngành khác nhƣ nông, lâm nghiệp và thuỷ lợi chỉ sử dụng thống
nhất một thuật ngữ "quản lý dựa vào cộng đồng" khi nói đến việc Nhà nƣớc
dựa vào nhân dân địa phƣơng để cùng quản lý tài nguyên, thiên nhiên.
1
Nay là Đại học Nha Trang.
Quản lý Nhà nƣớc
Quản lý dựa vào
nhóm ngƣời sử dụng
1 2 3 4
Đồng quản lý
Hình 1.1: Hình ảnh của việc sắp xếp đồng quản lý nghề cá [62, tr.9]
7
Bảng 1.1: Các hình thức thƣờng gặp trong "đồng quản lý nghề cá"
Cấp độ:
Hƣớng dẫn
(2)
Trao đổi thông tin ở mức độ thấp giữa chính quyền và
ngƣời sử dụng. Chính quyền thông báo cho ngƣời sử dụng
về các quyết định quản lý mà họ đƣa ra.
Cấp độ:
Tƣ vấn (3)
Chính quyền tham khảo ý kiến với những ngƣời sử dụng
nhƣng mọi quyết định vẫn do chính quyền đƣa ra.
Cấp độ:
Hợp tác (4)
Chính quyền và ngƣời sử dụng cùng đƣa ra quyết định nhƣ
một đối tác ngang bằng (Đồng quản lý lý tƣởng)
Cấp độ:
Cố vấn (5)
Ngƣời sử dụng quyết định quản lý cái gì, quyết định sẽ
đƣợc thực hiện và chính quyền đơn thuần chỉ thông qua.
Cấp độ:
lợi chia sẻ bởi Chính phủ và nhóm ngƣời sử dụng, đƣợc xem nhƣ là giải pháp
để giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khai thác quá mức tài nguyên. Sắp xếp
đồng quản lý đƣợc xem là động lực hợp tác, sử dụng các năng lực và sự quan
tâm của ngƣời sử dụng bổ sung khả năng hành chính nghề cá để cung ứng
khung pháp lý cho phép [57, tr.1].
Jentoft và đồng sự (1998) đã cụ thể hoá thêm khi giải thích: Đồng
quản lý là quá trình phối hợp và hợp tác trong việc đƣa ra các quyết định quản
lý giữa đại diện các nhóm sử dụng nguồn lợi, Chính phủ, tổ chức nghiên cứu.
Theo nghĩa ai là ngƣời đƣa ra quyết định có hai thái cực: quyền lực Nhà nƣớc
và quyền của ngƣ dân. Hình thức quản lý trên - xuống (top-down), Nhà nƣớc
đƣa ra những quyết định đơn độc, còn ngƣời dân thụ động thực hiện. Ngƣợc
lại, đồng quản lý tạo cho ngƣời sử dụng nguồn lợi có quyền hành, tổ chức và
thực hiện hệ thống quản lý của riêng họ [60, tr.16].
Về vấn đề này Berkes, Mahon, McConney, Pollnac và Pomeroy
(2001) cũng có lời giải thích khá cụ thể và mở rộng khái niệm ra một quy mô
rộng hơn: Đồng quản lý là sự đồng thuận giữa Chính phủ, cộng đồng sử dụng
nguồn lợi (ngƣ dân), các tổ chức bên ngoài (tổ chức phi chính phủ, cơ quan
nghiên cứu), ngƣời có lợi ích liên quan nghề cá và nguồn lợi thuỷ sản khác
(chủ tàu, buôn bán cá, cho vay, tổ chức du lịch ) chia sẻ trách nhiệm và
quyền hạn ra các quyết định quản lý nghề cá [54, tr.202].
Gần với tinh thần đó, trong Hội thảo của Uỷ Hội Nghề cá châu Á -
Thái Bình Dƣơng 2005, cũng thống nhất: Đồng quản lý nghề cá có thể đƣợc 9
hiểu nhƣ là phƣơng pháp tham gia, nơi mà Chính phủ và ngƣời sử dụng
nguồn lợi thuỷ sản chia sẻ trách nhiệm và quyền hạn để quản lý nghề cá quốc
lợi ven bờ dựa vào cộng đồng" và "quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng" để
áp dụng cho "quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng" nhƣng lƣu ý các đặc điểm
riêng có của nghề cá, vì vấn đề quả là phức tạp hơn đối với quản lý nghề cá.
1.1.2.3. Điều kiện cơ bản để "đồng quản lý nghề cá" thành công:
Từ các điển hình khắp thế giới, các điều kiện then chốt để "đồng quản
lý nghề cá" thành công đƣợc Ostrom (1990, 1992); Pinkerton (1989) liệt kê
dƣới đây [64, tr.11]:
1) "Ranh giới được xác định rõ ràng": Ranh giới tự nhiên của khu vực
đƣợc quản lý cần phải rõ ràng để nhóm ngƣ dân hiểu biết đúng về chúng. Nên
dựa trên hệ sinh thái mà ngƣ dân có thể quan sát và hiểu đƣợc. Kích cỡ khu
vực có thể cho phép quản lý bằng các phƣơng tiện kỹ thuật sẵn có.
2) "Thành viên tham gia được xác định rõ ràng": Các cá nhân, hộ gia
đình ngƣ dân có quyền đánh bắt trong ngƣ trƣờng giới hạn là rõ và không quá
nhiều, dễ dàng liên lạc nhau và ra các quyết định quản lý tập thể có hiệu quả.
3) "Khả năng liên kết trong nhóm": Nhóm hay tổ chức ngƣ dân có sự
đồng nhất cao về quan hệ họ hàng, dân tộc, tôn giáo hay loại hình ngƣ cụ sử
dụng thì càng dễ liên kết. Hệ tƣ tƣởng, tập quán và tín ngƣỡng chung cũng tạo
ra tinh thần tự nguyện giải quyết các khó khăn chung của tập thể.
4) "Tổ chức sẵn có": Ở những nơi trƣớc đây đã có truyền thống quản
lý dựa vào cộng đồng và các tổ chức đại diện cho những ngƣời sử dụng nguồn
lợi và những đối tƣợng có liên quan thì rất thuận lợi.
5) "Lợi ích lớn hơn đầu tư": Lợi ích thu đƣợc khi tham gia hệ thống
quản lý dựa vào cộng đồng lớn hơn công sức đầu tƣ vào các hoạt động đó.
6) "Sự tham gia của các đối tượng chịu ảnh hưởng": Hầu hết các cá
nhân chịu ảnh hƣởng bởi các quyết định quản lý đều là thành viên trong nhóm
để có thể thoả thuận xây dựng và thay đổi các quyết định quản lý này. 11
12
Đặc biệt, để thực hiện chính sách về đồng quản lý thƣờng kéo theo
một loạt luật lệ, chính sách, thủ tục hành chính ở cả cấp địa phƣơng và trung
ƣơng, mà thƣờng rất khó để có thể thay đổi đƣợc [64, tr.7].
1.1.3. Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng kiểu Nhật Bản
1.1.3.1. Xuất xứ và khái niệm thuật ngữ:
Thuật ngữ “quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng” sử dụng trên thế giới
lần đầu tiên tại hội đàm của Nhật Bản / FAO về phát triển hệ thống quản lý
nghề cá ven bờ ở châu Á - Thái Bình Dƣơng, tổ chức tại Kobe, Nhật Bản từ
08-12/6/1992. Tuy nhiên, trong Hội thảo này đã không thảo luận về định
nghĩa của quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng. Định nghĩa kiểu Nhật Bản là:
“Hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng là một hệ thống quản lý nghề
cá được phát triển bởi một nhóm ngư dân dựa trên "quyền đánh cá" và được
thực hiện dưới sự sáng tạo của ngư dân” [71, tr.2].
Nhƣ vậy, quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng không đề cập thêm vai
trò quản lý của Nhà nƣớc mà chỉ nhấn mạnh vai trò quản lý của bản thân cộng
đồng ngƣ dân. Vai trò Nhà nƣớc ở đây đƣợc ẩn đi trong các thể chế tạo nên
việc phân quyền sử dụng nguồn lợi thuỷ sản cho các tổ chức ngƣ dân.
Ngày nay, hệ thống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng phổ biến tại
các nƣớc và vùng lãnh thổ tuân thủ đƣờng lối quản lý nghề cá theo “cơ chế
tiếp cận giới hạn” là Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan khi mà các "quyền
đánh cá" đƣợc cấp cho các tổ chức ngƣ dân địa phƣơng. "Quản lý nghề cá dựa
vào cộng đồng" rất đƣợc các nƣớc đang phát triển, đặc biệt các nƣớc Đông
Nam Á nhƣ: Thái Lan, Philippines, Campuchia quan tâm, một số nƣớc đã
xây dựng các mô hình thử nghiệm và thiết lập hệ thống "quản lý nghề cá dựa
Nhà nƣớc quản lý ngày một tốt hơn ngƣ trƣờng, nguồn lợi [71, tr.12-13]:
1) "Giới hạn số lượng đơn vị khai thác": Một cộng đồng sẽ cho phép
đánh cá với một số lƣợng ngƣ cụ giới hạn trong một vùng nƣớc nhất định mà
chỉ cộng đồng ấy có quyền khai thác cá.