TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
TÌM HIỂU KHU DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN
HÓA LAM KINH VỚI HOẠT ĐỘNG DU
LỊCH THANH HÓA
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Lớp
: ThS. Phan Hoàng Minh
: Hoàng Thị Quý
: K48B2 – Du lịch
VINH – 2011
1
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân còn có sự
hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn là TH.S - GVC Phan
Hoàng Minh và sụ động viên của thầy cô giáo trong khoa.
Qua đây, em xin phép được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy Minh,
người trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành đề tài, em chân thành cảm ơn các cô
giáo trong tổ bộ môn du lịch, tập thể các bạn K48B2 - Du Lịch cùng bạn bè gần
xa đã giúp đỡ em trong quá trình làm bài khóa luận.
Bước làm quen với nghiên cứu và đây là đề tài nghiên cứu đầu tiên của bản
chung cũng nằm trong xu thế chung đó. Khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh
3
rất giàu tiềm năng để khai thác loại hình du lịch văn hóa tâm linh và có nguồn
đầu tư đóng góp cho nỗ lực bảo tồn. Tuy vậy, thực trạng hoạt động kinh doanh
du lịch còn chưa khai thác hết tiềm năng. Song là một sinh viên theo học nghành
Việt Nam Học (chuyên nghành du lịch) em chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu của
mình ở mức độ “ Tìm hiểu khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh với hoạt động
du lịch Thanh Hóa”.
2. Lịch sử vấn đề
Khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh có một ý nghĩa vô cùng quan trọng
đối với lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam, nó có tầm vóc hết sức to
lớn… Vì vậy, nghiên cứu về triều Lê Sơ, về khu di tích Lam Kinh đã có rất
nhiều tác giả đề cập tới và nhiều công trình ngiên cứu đã được công bố.
Cuốn “ Di tích Lam Kinh’’ của Nguyễn Hảo và Xuân Long - NXB Thanh
Hóa 1982, có viết khái quát về các lăng mộ và một số kiến trúc khác như: sân
chầu, chính điện.
Cuốn “ Lễ tục - lễ hội truyền thống xứ Thanh” của Lê Huy Trâm và Hoàng
Anh Nhân lại viết về lễ hội Lam Kinh nhưng đang ở mức độ khái quát, chưa
thấy được tín ngưỡng tâm linh trong đời sống địa phương.
Một số tạp chí nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, tạp chí mỹ thuật những năm
1997, 1998…giới thiệu các bài nghiên cứu về Lam Kinh của PGS-TS Trần Lâm
Biền đề cập đến phương pháp tiếp cận, pháy triển các giá trị văn hóa độc đáo ở
khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh.
Khóa luận tốt nghiệp đại học của Trịnh Thị Vân Anh “ Gia trị lịch sử văn
hóa của khu di tích Lam Kinh - Thanh Hóa”. Đại học Vinh - 2005.
Nhìn một cách tổng thể, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đề cập đến
những góc độ, khía cạnh khác nhau, tạo điêù kiện thuận lợi cho chúng tôi có thể
4
4.1. Phương pháp thực địa.
Phương pháp được tiến hành qua việc khảo sát thực tế khu di tích lịch sử
văn hóa Lam Kinh để đánh giá tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch tại khu di
tích Lam Kinh. Phương pháp này giúp thu thập số liệu và có những đánh giá
khách quan nhất.
4.2. Phương pháp thu thập, xử lý, phân tích tài liệu.
Đề tài cần nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Vì vậy, sau khi thu thập tài liệu,
chung tôi tiến hành xử lý, phân tích số liệu, tài liệu theo yêu cầu của đề tài.
4.3. Phương pháp bản đồ.
Chúng tôi sử dùng nhiều loại bản đồ nghiên cứu như: Bản đồ hành chính
huyện Thọ Xuân, bản đồ tuyến điểm du lịch Thanh Hóa.
Phương pháp bản đồ được sử dụng từ giai đoạn chuẩn bị nghiên cứu để xác
định vị trí, những tuyến, điểm, cụm du lịch lân cận cần nghiên cưú và sử dụng
trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài.
4.4. Phương pháp toán thống kê.
Sử dụng phương pháp toán thống kê để phân tích, xử lý số liệu, lượng khách
đến, doanh thu, cơ cấu nguồn lao động…
5. Đóng góp của đề tài.
- Tập hợp và giới thiệu tổng quan về khu di tích Lam Kinh.
- Tìm hiểu về những di tích hiện còn.
- Tìm hiểu về các giá trị của khu di tich lịch sử văn hóa Lam Kinh.
6
- Bước đầu đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch ở khu di tích và đề xuất
một số giải pháp khai thác có hiệu quả du lịch ở khu di tích Lam Kinh.
6. Bố cục của khóa luận.
Ngoài phần mở đầu,, kết luận, tài liệu tham khảo, phục lục, nội dung chính
của đề tài được trình bày qua 3 chương:
Lam Kinh ngày nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Nằm bên tả ngạn sông Chu, sử cũ chép rõ: “ Lam Kinh nhà Lê ở phía tây núi
Lam Sơn tại xã Quảng Thị, huyện Thụy Nguyên. Phía nam trông ra sông Lương
8
(sông Chu), phía bắc gối vào núi. Đầu đời Thuận Thiên lấy đất này làm Tây
Kinh, cũng gọi là Lam Kinh. Xây dựng cung điện trông ra sông, đằng sau cung
điện có hồ lớn, giống hồ Kim Ngưu, các khe núi đổ vào hồ này, lai có khe nhỏ
bắt nguồn từ hồ chảy qua trước điện ôm vòng lại như hình cánh cung, bắc cầu
lợp ngói ở trên khe. Đi qua cầu mới tới cung điện. Khoảng từ đời Cảnh Hưng
nước sông xói mạnh, Ngô Thì Sĩ sai đóng cọc , kè gỗ và xe đất, chở đá để đắp
giữ. Sau khi nhà Lê mất thì chỗ này lở gần hết, chỉ còn mộ cũ”[19,31].
Việc xây dựng điện Lam Kinh cũng được tiến hành một cách quy mô từ sau
khi Lê Lợi mất, Toàn thư chép “ Các quan theo hầu về Tây Kinh dựng điện Lam
Kinh’’[3,12].
Ngoài ít dòng sơ sài đó, sử sách không ghi nhiều và cụ thể về các lần xây
dựng. Phan Huy Chú trong “ Lịch triều hiến chương loại chí” có ghi chép tỉ mỉ
hơn: “ Điện Lam Kinh đằng sau gối vào núi, trước mặt trông ra sông, bốn bên
nước non xanh biếc, rừng rậm um tùm. Vĩnh lăng của Lê Thái Tổ, Chiêu lăng
của Lê Thái Tông và các lăng của nhà Lê ở đây cả, lăng nào cũng có bia. Sau
điện lấy Tây Hồ làm “não’’ giống như hồ Kim Ngưu, hồ rất rộng lớn, nước ở
các ngã chảy vào đó cả, có con sông phát nguồn từ hồ ấy, chạy vòng trước mặt.
Lòng sông có nhiều viên đá tròn và nhẵn trông rất xinh xắn nhưng không ai dám
lấy trộm. Lại có lạch nước nhỏ chảy từ bên tay phải trước điện, ôm vòng lại như
cánh cung. Trên điện có cầu giống như Bạch Kiều ở Giang Đình điện Vạn ThọĐông Kinh, đi qua cầu mới tới điện, nền điện rất cao, hai bên cảnh mở rộng,
dưới làn điện có làn nước phẳng giống như trước điện để vua coi chầu, ngoài
cửa Nghinh Môn có hai con chó ngao bằng đá, tục truyền là rất thiêng. Điện làm
ba ngôi liền nhau, kiểu chữ công mẫu mực theo như kiểu miếu ở kinh sư, theo
Đức ở làng Kiều Đại xã Bố Vệ, tổng Bố Đức, phủ Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa để
thờ phụng các vị Hoàng Đế và Hoàng Hậu thời Lê, vì vậy khu Lam Kinh ngày
10
càng trở nên hoang phế, măc cho gió núi, mưa ngàn và con người hủy hoại. Năm
1933, ông Trần Hưng Dẫn người Hành Thiện - Nam Định đã đóng góp tiền công
cùng với nhân dân làng Cham xây dựng lại lăng vua Lê Thái Tổ, làm con đường,
xây cổng vắt ngang sông Ngọc, làm đường vào khu trung tâm của Lam Kinh.
Năm 1961, bộ văn hóa cho xây dựng ngôi nhà che tấm bia Vĩnh Lăng, đây
là tấm bia làm bằng đá trầm tích biển, bia do Nguyễn Trãi soạn, nội dung viết vế
quê hương, gia tộc và thân thế, sự nghiệp của vua Lê Thái Tổ.
Năm 1995, nhân kỷ niệm 600 năm ngày sinh của vị Hoàng Đế anh hùng dân
tộc Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa đã cho tu sửa một số hạng mục công trình trong khu
di tích Lam Kinh như: đắp lại đôi rồng thềm ở trước chính điện, dựng lại tẩm bia
ở lăng Khôn Nguyên (lăng bà hoàng thái hậu Ngô Thị Ngọc Dao) bị đổ, tu sửa
nhà bia Vĩnh Lăng.
Do khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh có giá trị to lớn về mặt lịch sử, văn
hóa dân tộc, ngày 22 tháng 10 năm 1999, thủ tướng chính phủ đã ra quyết định
số 609/ TTg phê duyệt dự án quy hoạch tổng thể về tu bổ, phục hồi và tôn tạo
khu di tích lịch sử văn hóa Lam Kinh.
1.2. Các công trình điện miếu khu trung tâm Lam Kinh
1.2.1. Ngọ Môn
Ngọ Môn còn được gọi là Nghi Môn được làm theo kiến trúc cổ với sự ảnh
hưởng của văn hóa Phật giáo và nằm ngay phía trước sân rồng. Trước cổng Ngọ
Môn có hai con Nghê đá canh được dựng cách nhau 5,1m, mỗi con đều được tạc
liền đế, móng đặt được xây bằng gạch và đá. Con Nghê bên trái dài 0,59m. Con
bên phải dài bằng con bên trái, chiều cao là 0,72m. Thân Nghê được trạm khắc
và trang trí nhiều hình xoắn tượng trưng cho lông dài, giữa các lớp lông xoắn
được trang trí hình ngọn lửa dài, lượn sóng giống như những áng vân mây cách
12
hai rồng trang trí theo phong cách văn hóa nho giáo đương thời. Thân Rồng tạc
tròn, uốn lượn và được trang trí hoa văn hình đao mác lứa trên sóng xoắn dài.
Đầu Rồng có bờm dài, nét trang trí đôi râu xoắn,cằm có râu dài xoắn hình vặn
thừng, tay Rồng giống như bàn tay người đang nắm lấy râu phần dưới dặt trên
một viên ngọc nên thường gọi là long hí châu (Rồng vờn ngọc).
Hai bức lan can phía ngoài của hai lối đi hai bên mỗi bức có chiều dài 4,1m,
được tạc từ hai tấm đá xanh nguyên khối được gọi là hai bức long vân (tức mây
hóa rồng). Hai mặt của hai bức long vân được trang trí hình vân mây, giữa các
hình vân mây là các ngọn lửa. Nét trạm khắc ở đây thấp, đều, uyển chuyển uốn
tựa hình cánh hoa và kết thúc bằng hai hình xoắn mây, tạo cho phần trên của lan
can dáng lượn sóng uyển chuyển, độc đáo. Hai dải viền trang trí ở giữa và phía
trong lan can chạm thành một đướng thẳng dốc xuống, trang trí hoa văn họa tiết
hình hoa chanh. Cùng với hoa văn hình cúc dây, loại hình hoa văn này xuất hiện
từ thời Lý, Trần trong các công trình điêu khắc nghệ thuật kiến trúc được ưa
chuộng ở Việt Nam lúc bấy giờ nên có thể coi đây là nết văn hóa truyền thống
tiêu biểu còn được lưu giữ lại sau này. Niên đại của thềm rồng được xác định là
vào đầu thời Lê sơ.
1.2.4. Chính Điện
Qua sân rồng, bước lên thềm rồng là đến khu chính điện. Chính điện là một
khu nhà được bố cục trên một doi đất cao 1,8 m so với sân rồng, có hình chữ
công trong chữ Hán. Tổng diện tích của khu chính điện là 1.645.04 m.
Ngày 21 tháng 2 năm Bính Tý (1456), trong lần về thăm quê hương và bái
yết Sơn lăng, vua Lê Nhân Tông đã đặt tên cho điện phía trước là Quang Đức,
điện giữa là Sùng Hiếu và điện phía sau là Diên (Diễn) khánh. Hai điện Quang
Đức và Diên Khánh đều có 9 gian, gian giữa rộng nhất là 5m, hai gian đầu hồi
chỉ rộng 2m tạo thành hành lang bao quanh cả 3 điện. Theo kết quả khai quật
13
Trước mỗi tòa miếu đều có một lối lên xuống gồm 5 bậc, hai bên lan can tạc
hai rồng bằng một khối đã nguyên khối. Rồng ở đây uốn lượn và có hình dáng,
phong cách tạo tác giống đôi rồng ở thềm rồng.
Chín tòa miếu được xây dựng nối liền nhau theo kiểu hình cánh cung và ôm
lấy khu chính điện.
1.2.6. Những lăng mộ, bia ký vua và Hoàng Thái Hậu
1.2.6.1. Lăng mộ vua Lê Thái Tổ
Lăng vua Lê Thái Tổ gọi là Vĩnh Lăng. Vĩnh Lăng được xây dựng trên
một dải đất bằng phẳng ở phía nam Du Sơn (tức núi Dầu), cách thành điện phía
bắc Lam Kinh 50m về phía nam, nằm trên trục Bắc - Nam giữa núi Dầu và núi
Chúa tạo thành thế Bắc Sơn hậu chẩm, Nam Sơn tiền án. Bên trái có núi Phú
Lâm và núi Hổ, bên phải có núi Hướng và núi Hàm Rồng tạo thành hai cánh
tay ngai với thế “ long chầu hổ phục”. Trước mặt Vĩnh Lăng là dòng Lương
Giang (sông Chu) uốn cong hình vòng khuyên, ôm lấy mặt tiền Vĩnh Lăng,
chiều dòng chảy từ phải qua trái tạo nên thế tụ thủy. Theo cách nhìn của thuyết
phong thủy thì có thể thấy Vĩnh Lăng được chọn ở một thế đất rất đẹp, phía
trước có minh đường rộng rãi, lại có Chu Sơn và Mục Sơn làm tiền án, phía sau
gối tựa là Du Sơn. Hai bên tả, hữu có hai dãy núi tạo thế long chầu hổ phục.
Đối diện gần lại có sông làm bạch hổ. Qủa là một vùng đất có vượng khí tốt
tươi, núi sông kỳ thú, là điểm huyệt quan trọng và thần diệu nhất trong khu sơn
lăng Lam Sơn.
Bố cục và phong cách mai táng của Vĩnh Lăng đơn giản nhưng vẫn thể hiện
được sự tôn nghiêm pha lẫn nét tự nhiên và trang nhã. Lăng được đắp hình lập
phương với cạnh 4m40, cao 1m80. Xung quanh trước kia được xây chèn bằng
gạch thường nên sụt lở do sự xâm thực và phá hủy của thảo mộc, nay được ốp
thêm đá mục nhám bên ngoài. Trước lăng, hai bên có hai hàng tượng giống đá có
15
mây. Hai bên diềm bia, tính từ đỉnh bia xuống đấy bia mỗi bên trang trí 9 nửa
hoa văn hình lá đề, trong mỗi 9 nửa hoa văn hình lá đề là 9 rồng chầu uốn theo lá
đề vươn đầu lên trên nối tiếp nhau. Xen lẫn với hoa văn hình lá đề và hình rồng
chầu là hoa văn hình cúc dây với nghệ thuật chạm khắc tinh xảo và độc đáo.
Dưới đáy bia trang trí hoa văn hình sóng nước, phía trên hoa văn hình sóng nước
được trang trí các hình người cách điệu đang ngồi niệm phật. Nội dung văn bia
do Nguyễn Trãi phụng soạn. Vũ Văn Phỉ là người khắc chữ lên bia.
Văn bia là một kiệt tác văn chương, ngắn gọn, cô đọng, súc tích nhưng đã
mô thuật đầy đủ về gia tộc, thân thế, sự nghiệp và công đức của vua Lê Thái Tổ.
Đặc biệt, bài văn bia đã nói lên được lòng khoan dung, nhân ái, từ thiện của vua
đối với quân thù khi bị bại trận phải đầu hàng và đối với lê dân.
Bia Vinh Lăng là một công trình nghệ thuật điêu khắc quý giá về nhiều
lĩnh vực, có ý nghĩa lớn trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam thời Lê sơ.
1.2.6.2. Lăng mộ và bia Hựu Lăng ( vua Lê Thái Tông)
Hựu Lăng nằm về phía Đông Bắc, phía tả Vĩnh Lăng, cách Vĩnh Lăng hơn
800m, nằm trên giữa điểm cao của rừng Phú Lâm.
Bố cục và phong cách mai táng cũng như cách xắp xếp tượng quan hầu,
tượng giống đá và đường thần đạo của Hựu Lăng gần giống với Vĩnh Lăng của
vua Lê Thái Tổ, riêng lăng của Lê Thái Tông được xây theo hướng đông lệch
nam 15 độ. Hai tượng quan hầu ở Hựu Lăng có kích thước rất nhỏ, chiều cao đo
được là 63cm, hai hổ khác với hổ lăng Lê Thái Tổ. Hổ ở đây đuôi rất dài, ngồi
theo tư thế hổ chầu, hai chân trước chống thẳng, thân hổ dài 92cm. Tê giác bụng
thon, chân cao, thân dài 82cm, cao 50cm.
17
Tuy không còn nguyên vẹn như xưa nhưng với những gì còn lại hiện nay
ta có thể xác minh được niên đại và phong cách nghệ thuật ở Hựu Lăng là vào
thế kỷ XV với phong cách dân gian thể hiện trạng thái sinh động.
với các lăng mộ khác ở Lam Kinh ta thấy được các tượng và con giống ở Chiêu
Lăng giống với lăng Khôn Nguyên Chí Đức của Thái Hậu Ngô Thị Ngọ Dao
nhất, với đặc trưng là các con giống và tượng ở hai khu lăng mộ này có hình
dáng béo mập, bụng trông rất đầy đặn. Điểm đáng chú ý ở đây là tất cả các lăng
mộ ở Lam Kinh thì Chiêu Lăng là còn tương đối nguyên vẹn nhất.
Bia Chiêu Lăng
Bia Chiêu Lăng được dựng trên một khoảng đất cao và bằng phẳng. Nơi
đây thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, cách bia Khôn Nguyên Chí Đức
khoảng 300m về phía tây nam. Bia là một tấm đá nguyên khối cao 2,76m, rộng
1,84m, cao đến đầu là 0.69m, cao đến lưng rùa là 0,50m. Rùa đầu ngẩng cao
trong tư thế vươn về phía trước, chân có 5 móng, lưng rùa được trang trí hoa văn
hình lá đề, vân mây đơn giản.
Trán bia được trang trí 3 rồng: con rồng ở giữa lớn nhất, hai con hai bên
hình cánh cung nhỏ hơn đang đối chầu vào nhau. Rồng ở đây được trang trí hình
đao mác dài hai bên, chân có 5 móng, vuốt dữ dằn. Diềm bia tính từ điểm bia
xuống cũng được trang trí mỗi bên 6 rồng nổi, luôn uốn hình yên ngựa, đuôi hình
cá chuối với tư thế đang vươn lên như ở bia lăng Khôi Nguyên. Đáy bia trước
trang trí hai bên, mỗi bên 3 rồng đối nhau nối đuôi chầu vào giữa. Tất cả rồng ở
đây đều uốn lưng hình yên ngựa và đuôi cá chuối. Hai bên hông bia mỗi bên
trang trí một hình rồng lớn trong tư thế đang vươn lên, dưới đuôi rồng trang trí
hoa văn hình tam sơn trên sóng nước, trên tam sơn là hình vân mây. Tam sơn ở
19
đây như là một gạch nối liền giữa trời và đất, trên đầu rồng chạm khắc hoa văn
hình những ngọn lửa đang vươn lên, đáy bia phía sau trang trí hình sóng nước.
Mặt sau bia khắc bài thơ viếng Thánh Tông của con trưởng là vua Lê
Hiến Tông. Bia dựng vào năm Mậu Ngọ, niên hiệu Cảnh Thống thứ nhất (1498).
1.2.6.4. Dụ Lăng và Lam Sơn Dụ Lăng bia (vua Lê Hiến Tông)
con rùa khá lớn theo hướng nam chếch đông 15 độ với kích thước rộng 1,90m,
cao 2,78m, dày 27cm. Rùa dài 2,64m, rộng 1,83m, cao từ chân đến đầu là 67cm,
cao từ chân đến đế lưng rùa là 0,50cm.
Nội dung văn bia do Nguyễn Nhân Thiếp là quan Gia Hành đại phu, Đông
Các Đại Học Sĩ Khuông Mỹ Doãn, Phạm Thịnh là quan Lễ Bộ hữu thị lang ,
vâng mệnh soạn.
Trang trí trên văn bia tương tự như Chiêu Lăng của Lê Thái Tông. Trước
kia bia không có nhà che, để bảo vệ tấm bia lâu dài, chống sự phong hóa và xói
mòn của nắng núi mưa ngàn nên sau này nhà nước đã cho xây dựng nhà bia che
bia, nền được lát bằng đá đục.
1.2.6.5. Kính Lăng và bia Kính Lăng ( Lê Túc Tông)
Kính Lăng dược xây trên đỉnh núi hổ’ sứ Ngọc Giăng Đèn, cách Vĩnh
Lăng 4 km về phía Đông Bắc, trước kia Kính Lăng thuộc địa phận làng Giao Xá,
huyện Thụy Nguyên, nay thuộc nông trường Sông Âm, thuộc địa phận xã Kiên
Thọ, huyện Ngọc Lặc.
Kính Lăng có thời gian bị hủy hoại nghiêm trọng do quá trình canh tác,
trồng trọt của nông trường. Sau 1994, khu di tích Lam Kinh được thủ tướng phê
duyệt dự án tu bổ, phục hồi và tôn tạo thì việc khảo sát, sưu tầm, nghiên cứu
được khẩn trương tiến hành và kết quả là đã xác định được chính xác quy mô, vị
21
trí, phương hướng và kích thước cụ thể của khu lăng mộ này. Việc tu bổ, phục
hồi được tiến hành và hoàn thành. Hiện mộ có hình lập phương, xung quanh
được xây tường bao nền được lát bằng gạch bát. Đường thần đạo lát bằng đá
xanh lục, mộ cũng được ốp bằng loại đá này. Kính Lăng được xây dựng theo
hướng nam chếch đông 15 độ. Tượng quan hầu và các con giống đá hai đường
thần đạo được sắp xếp tương tự như Dụ Lăng. Hai tượng quan hầu cao 86cm,
ngựa cao 47cm, dài 80cm, voi quỳ cao 47cm, dài 77cm, nghê cao 45cm, thân dài
73cm, tê giác cao 50cm, dài 80cm, đuôi cụp xuống và được trang trí hoa văn
lăng mộ này giống Chiêu Lăng của Lê Thánh Tông. Tê giác cao 46cm, thân dài
98cm, chiều ngang thân là 28cm, ngựa cao 73cm thân dài 116cm, chiều ngang
thân 25cm, nghê quỳ trên đế cao 16cm, thân cao tính từ mặt đế lên là 24cm, voi
quỳ cao 44cm, thân dài 83cm, chiều ngang là 32cm.
Điều khác biệt rất đặc trưng giữa Lăng Khôn Nguyên Chí Đức và Chiêu
Lăng với các lăng mộ khác ở Lam Kinh là các con giống ở hai lăng này mập mạp
hơn, bụng to. Tê giác có trang trí 3 đường vằn sâu ở phía mông, voi và tê giác
đều không có bành. Tượng nghê được chạm khắc tinh xảo, phóng khoáng và
sinh động.
Bia Khôn Nguyên Chí Đức
Bia được dựng trên một khoảng đất rộng và bằng phẳng trên đỉnh gò đồi
đất cao phía trước lăng, lệch về hướng tây khoảng 150m. Bia dựng theo hướng
đông, phía trước mặt là cánh đồng khe đá, bia được tạc bằng đá nguyên khối với
chiều cao là 2,67m, rộng 1,90m, dày 0,28m, đặt trên lưng một con rùa được tạc
bằng đá nguyên khố có chiều dài là 2,65m, rộng 1,84m, cao 0,69m. Trước kia
không có nhà che bia, nay nhà bia đã được xây dựng để bảo vệ bia. Nhà bia được
xây dựng theo kiểu kiến trúc thời Lê với 4 mái cong, 8 hàng cột đỡ, bia khắc chữ
23
cả 2 mặt, hoa văn trang trí trên bia và và niên hiệu đã được xác minh. Bia dựng
năm Mậu Ngọ (1498), giữa trán bia được trang trí một hình rồng uốn khúc thành
một hình giữa phần trên hình vuông, mặt rồng nhìn thẳng, chân có 5 móng sắc
nhọn. Hai cánh cung 2 bên trang trí 2 rồng đối nhau chầu vào giữa. Diềm bia,
tính từ đỉnh bia xuống đế, mỗi bên trang trí 6 rồng lưng uốn hình yên ngựa trong
tư thế đang vươn lên. Đáy bia, mặt trước trang trí 3 đôi rồng đối nhau chầu vào
giữa, phía sau trang trí hình sóng nước, phía trên hình sóng nước được trang trí
hình tam sơn. Bia lăng Hoàng Thái Hậu Ngô Thị Ngọc Dao và bia lăng Lê
Thánh Tông trang trí tương đối giống nhau.
1.3. Lễ hội văn hóa Lam Kinh
náo nhiệt, tưng bừng. Nhân dân khắp nơi nô nức về đây thắp hương tưởng nhớ
công lao to lớn của vua Lê Thái Tỏ và vui chơi.
Lễ hội Lam Kinh hội tụ các nét văn hóa tiêu biểu của truyền thống văn
hóa dân tộc nhất là văn hóa thời Lê. Không có sự pha tạp của lễ hội phật giáo,
đạo giáo, thánh mẫu, nó vẫn còn nguyên sơ như buổi ban đầu nó sinh ra.
Theo các nhà nghiên cứu lịch sử thì Lam Kinh là nơi điều hành đất nước
khi vua Lê vi hành về quê, là nơi thờ cúng, giữ gìn phần mộ tổ tiên của dòng tộc
triều Lê. Lam Kinh đã trở thành trung tâm văn hóa của nước Đại Việt, nơi đây
hàng năm có lễ hội và tưng bừng đón rước vua quan nhà Lê, vùng nhân dân cả
nước hành hương về thỏa mãn tâm linh. Lễ hội ở giai đoạn này được xem là
quốc lễ, với phần lễ long trọng, uy nghiêm. Phần hội náo nhiệt, tưng bừng bằng
các trò diễn độc đáo như: Trò Xuân Phả, Bình Ngô phá trận, Chư hầu lai triều…
Nghiên cứu, tìm hiểu lễ hội Lam Kinh xưa sẽ rất bổ ích cho việc tiến
hành những kịch bản mới cho lễ hội Lam Kinh hiện đại, không xa với thời Lê.
25