TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
KHU DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
ĐỀN BÀ TRIỆU VỚI HOẠT ĐỘNG DU
LỊCH Ở THANH HÓA
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
VINH – 2011
: ThS. Phan Hoàng Minh
: Lê Thị Nguyện
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài em đã hoàn thành
khóa luận tốt nghiệp đại học. Đây cũng là kết quả phấn đấu trong suốt 4 năm
học tập và rèn luyện dưới giảng đường đại học của em và công sức giảng dạy
của biết bao thầy cô trong suốt thời gian qua.
Để có được kết quả và những thành công đó em xin gửi lời cảm ơn
chân thành và sâu sắc nhất tới giảng viên – Thạc sĩ Phan Hoàng Minh giảng
viên trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận này cùng các thầy cô
trong khoa Lịch Sử. Thầy cô đã luôn tận tâm dạy dỗ, đem hết tri thức và khả
năng của mình ra để truyền thụ cho những thế hệ sinh viên như chúng em.
Tiếp theo em xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ nhân viên của Sở văn
hóa thể thao và du lịch Thanh Hóa đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình
vấn đề đưa việc khai thác các điểm di tích lịch sử - văn hoá vào phát triển du
lịch là vấn đề đáng được quan tâm. Tuy nhiên phát triển phải đi đôi với giữ
gìn và phát huy những giá trị vốn có của nó. Thời gian gần đây Khu di tích
lịch sử - văn hoá đền Bà Triệu (thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá) đang
thu hút khá nhiều sự quan tâm, chú ý của các ban nghành chức năng. Khu di
tích này không chỉ nổi tiếng bởi những giá trị chứa đựng bên trong, mà còn
hấp dẫn du khách bởi nhiều cảnh đẹp cùng với vị trí địa lý thuận lợi...Nghiên
cứu, tìm hiểu về Khu di tích này giúp chúng ta thấy được thực trạng phát triển
du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và cơ sở hạ tầng... Đồng thời qua sự nghiên
cứu có thể đề ra những giải pháp thích hợp nhằm dần thay đổi, cải thiện và
khắc phục tình trạng hiện tại của Khu di tích. Bên cạnh đó còn góp phần phát
1
triển du lịch ở Khu di tích này, mang lại nguồn lợi cho tỉnh Thanh Hoá nói
riêng và đất nước nói chung. Là sinh viên Việt Nam học (chuyên ngành Du
lịch) chúng tôi chọn đề tài: “Khu di tích lịch sử - văn hoá đền Bà Triệu với
hoạt động du lịch ở Thanh Hoá” làm đề tài nghiên cứu của mình, và hi
vọng qua đó có thể góp một phần công sức trong việc giữ gìn và phát huy giá
trị văn hoá của di tích cũng như cho sự phát triển của ngành du lịch trong
tương lai của quê hương, đất nước.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Về việc khai thác các Khu di tích lịch sử - văn hóa nói chung, ở Thanh
Hóa nói riêng, trong đó có Khu di tích lịch sử - văn hóa Đền Bà Triệu vào
hoạt động du lịch đã được nhiều học giả quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu và
cho ra nhiều công trình, nhiều ấn phẩm có giá trị. Trong những công trình, ấn
phẩm đó, các tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều nội dung khác nhau
thuộc các giá trị văn hóa Việt Nam, trong đó có văn hóa tâm linh của cư dân
Việt, thông qua việc tôn vinh các vị anh hùng dân tộc qua các triều đại. Xin
- Mai Thị Loan, Lệ Hải Bà Vương và Đền Thờ Bà Triệu, NXB Thanh Hóa
2008. Đây là cuốn sách trình bày được những nét cơ bản nhất về cuộc đời, sự
nghiệp của Bà Triệu cũng như kiến trúc và lễ hội truyền thống Đền Bà Triệu.
- Hoàng Tiến Tựu, Địa Chí Hậu Lộc, Nxb KHXH, năm 1990. Tác giả đã
khái quát các vấn đề liên quan tới huyện Hậu Lộc, trong đó có Khu di tích
lịch sử - văn hóa Đền Bà Triệu.
- Nhữ Bá Sĩ, Thanh Hóa Tỉnh Chí, Nxb Thanh Hóa, Thế kỷ XVIII…
- Ngoài ra còn nhiều bài viết có liên quan đăng tải trên các tạp chí Du
lịch và các trang Website.
Trên cơ sở kế thừa thành tựu của các học giả đi trước, chúng tôi đi sâu
nghiên cứu các giá trị về văn hóa – lịch sử, tư tưởng của Khu di tích Đền Bà
Triệu và việc khai thác Khu di tích đó vào hoạt động du lịch ở tỉnh Thanh
3
Hóa. Qua đó chúng tôi muốn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả của việc khai thác Khu di tích này vào hoạt động du lịch.
3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề liên quan tới Khu di tích lịch
sử - văn hoá đền Bà Triệu, bao gồm: đền Bà Triệu, Lăng Bà Triệu, đình làng
Phú Điền và các di tích có liên quan khác vào mục đích phát triển du lịch.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các di tích ở huyện Hậu Lôc, tỉnh
Thanh Hoá lien quan đến Đền Bà Triệu.
4. Nhiệm vụ của khóa luận
Khóa luận khái quát được những giá trị lớn mà Khu di tích chứa đựng.
Đánh giá thực trạng khai thác Khu di tích vào hoạt động du lịch ở Thanh Hóa.
6. Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài
Khóa luận sẽ tạo dựng một bức tranh tổng thể về các giá trị của Khu di
tích lịch sử - văn hóa Đền Bà Triệu và thực tiễn hoạt động du lịch ở Khu di
tích này trong thời gian qua, từ đó mà đưa ra một số đề xuất về các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả trong việc đưa Khu di tích vào hoạt động Du lịch ở
Thanh Hóa. Đồng thời, hi vọng khóa luận sẽ cung cấp chút ít tư liệu cho
những người quan tâm.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn được trình bày qua ba chương:
Chương 1. Những nét cơ bản về Khu di tích lịch sử - văn hoá đền
Bà Triệu.
Chương 2. Giá trị và thực trạng khai thác của Khu di tích lịch sử văn hoá đền Bà Triệu đối với hoạt động du lịch.
Chương 3. Giải pháp và đề xuất nhằm thu hút khách du lịch đến
với Khu di tích lịch Sử - văn hoá đền Bà Triệu.
5
B. NỘI DUNG
Chương 1. NHỮNG NÉT CƠ BẢN VỀ KHU DI TÍCH
LỊCH SỬ - VĂN HÓA ĐỀN BÀ TRIỆU
1.1. Quá trình xây dựng, trùng tu, tôn tạo Khu di tích lịch sử-văn
hóa Đền Bà Triệu
1.1.1. Truyền thống tôn vinh các vị anh hùng dân tộc của người
Việt Nam
Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã sinh
ra những con người kiệt xuất, có những đóng góp to lớn trong công cuộc bảo
vệ độc lập dân tộc, xây dựng đất nước, tài năng và đạo đức của họ được nhân
dân quý trọng, đời đời tôn kính. Những con người kiệt xuất đó, tên tuổi của
thành công trong đại cuộc đánh đuổi quân xâm lăng mà dân ta còn tôn vinh và
lập đền thờ như vậy, thì tất nhiên là đối với những vị đại anh hùng đã thành
công trong đại cuộc đành đuổi quân thù xâm lược ra khỏi lãnh thổ, giành lại
chủ quyền cho đất nước, đem lại vinh quang vẻ vang cho dân tộc, dân ta càng
phải tôn vinh nhiều hơn, lập đền thờ lớn hơn để tôn vinh và thờ cúng các
Ngài với mục đích ghi ơn các Ngài. Đây là nếp sống văn hóa của dân tộc Việt
Nam và cũng là những bài học lịch sử để cho con cháu hay các thế hệ kế tiếp
nhớ đến công ơn của các Ngài.
Thanh Hóa là vùng đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam
thắng cảnh nổi tiếng, phù hợp với nhiều loại hình du lịch hấp dẫn như tắm
biển, vui chơi giải trí, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thể thao mạo hiểm, tham
quan rừng biển…Thanh Hóa còn tự hào là nơi phát tích của nhiều triều đại
như Tiền Lê, Hậu Lê… là vùng đất đã sinh ra nhiều anh hùng tuấn kiệt, danh
nho, võ tướng, trong đó có nữ tướng anh hùng Triệu Thị Trinh (Bà Triệu). Có
thể nói, Bà Triệu đã đi vào tâm thức dân gian như một nhân vật huyền thoại
với sự tôn thờ và ngưỡng mộ.
7
1.1.2. Những nét chung về việc xây dựng đền, đình, lăng ở Thanh Hóa
“Đền” là những công trình kiến trúc nghệ thuật, thờ các vị nhân thần,
thiên thần, những danh nhân, anh hùng dân tộc. Đền có lịch sử phát triển gắn
liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Vì vậy, đây là một loại di tích lịch sử
văn hóa có lịch sử phát triển lâu đời nhất ở nước ta, thường được xây dựng ở
những nơi diễn ra các sự kiện lịch sử, nơi sinh hoặc mất của các thần điện.
Đền có các mảng điêu khắc, các nhang án, đồ tế tự, tượng, hoành phi thường
được sơn son thiếp vàng có giá trị thẩm mỹ và nghệ thuật, các công trình kiến
trúc thường gắn liền với các truyền thuyết, các lễ hội để tôn vinh các thần
điện hoặc danh nhân, các anh hùng dân tộc.
xâm, Vì vậy mà thanh hóa có rất nhiều các công trình kiến trúc đền đài, miếu
mạo… nhằm tôn vinh các vị anh hùng của dân tộc, những người có công
trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc ta.
Chính nhờ những yếu tố trên mà Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng rất lớn
về du lịch.Với sự khẳng định và gia tăng vị thế, xứ Thanh đang là một trong
những điểm đến ấn tượng, hấp dẫn của du khách trong và ngoài nước. Cùng
với các di tích lịch sử đã được xếp hạng quốc gia như Khu di tích lịch sử Lam
Kinh, quần thể di tích đền Bà Triệu, Thành Nhà Hồ, Cầu Hàm Rồng...Tỉnh
còn có nhiều danh lam thắng cảnh hấp dẫn du khách cũng đã được xếp hạng
quốc gia đó là bãi biển Sầm Sơn với hòn Trống Mái, đền Cô Tiên, Suối cá
thần Cẩm Lương, hang Con Moong, động Trường Lâm, động Tiên Sơn, Vườn
quốc gia Bến En, động Từ Thức, Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Pù Hu,
rừng già Hà Trung...Với việc khai thác hiệu quả nhiều loại hình du lịch, đã
góp phần làm đa dạng dịch vụ và sản phẩm du lịch xứ Thanh. Đây cũng là
yếu tố tăng số ngày lưu trú của khách du lịch mỗi khi đến với mảnh đất này
tham quan, nghỉ dưỡng, đồng thời hứa hẹn lượng khách du lịch trở lại nhiều
hơn sau mỗi lần đến đây. Nếu như, giai đoạn 2001 - 2005, nghành du lịch tỉnh
đón được 3.409.269 lượt khách, doanh thu đạt khoảng 774.825 triệu đồng,
9
nộp ngân sách Nhà nước 45.271 triệu đồng thì bước sang giai đoạn 20062010, toàn tỉnh ước đón được 10,445 triệu lượt khách, gấp 2,74 lần so với giai
đoạn 2001-2005; doanh thu đạt khoảng 3.683.500 triệu đồng, gấp 4,29 lần so
với giai đoạn 2001 - 2005, nộp ngân sách Nhà nước 127.326 triệu đồng. Du
lịch đã mở ra cho tỉnh khá nhiều nghề, tạo việc làm cho hàng vạn lao động, đời
sống của người dân cùng từ đó mà được nâng cao. Nhờ vậy, những năm vừa
qua các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế du lịch luôn đạt khá cao, trở thành nghành
kinh tế có những đóng góp quan trọng vào tổng thu nhập GDP của tỉnh.
1.1.3. Vị trí địa lý, cảnh quan của Khu di tích
sáng ngời trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Dân tộc ta nói
chung, tỉnh Thanh Hóa nói riêng tự hào đã sinh ra vị nữ anh hùng đã làm nên
những chiến công rạng rỡ cho dân tộc. Tinh thần yêu nước, chí khí quật
cường cùng sự hi sinh lẫm liệt của Bà Triệu không chỉ làm cho kẻ thù khiếp
sợ mà còn là nguồn cổ vũ lớn lao đối với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự
chủ của dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử.
Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.
(thơ ca dân gian)
Đền thờ Bà Triệu có lịch sử đã lâu đời, lúc mới khởi dựng chỉ có 3
gian gỗ lợp bằng tranh, bên trong có một bệ thờ Bà Triệu. Đến thời tiền Lý
(549 – 602) Vua Lý Nam Đế trong một lần kéo quân vào Nam trừng trị bọn
phong kiến Lâm Ấp, quấy rối bờ cõi nước ta đã dừng chân tại làng Bình Lâm
(xã Hà Lâm, huyện Hà Trung bây giờ). Theo truyền thuyết khi trời tối nhà
vua cho quân lính nghỉ tạm bên Đền, về khuya Ông thấy có ánh hào quang
vụt qua. Thấy lạ, vua cho gọi dân làng đến hỏi, khi biết đây là đền thờ Bà
Triệu, nhà vua làm lễ cầu xin Bà đánh thắng giặc. Khi chiến thắng trở về, Vua
Lý đã phong Bà làm thần và cấp tiền cho dân làng Bồ Điền sửa sang ngôi đền
tranh cũ.
11
Năm Canh Thìn 1820, đời Minh Mệnh đã cho tu sửa ngôi Hậu cung
theo kiến trúc đền thờ cuốn tò vò, phần mái không sử dụng hiện vật gỗ để
tránh sự phá hoại của mối mọt do môi trường núi đất, đá sinh ra. Đồng thời
trang trí cung thứ 2.
Năm Canh Ngọ - Bảo Đại năm thứ 5 (1930) tiến hành tu sửa năm gian
Bái Đường (4 hàng cột đá có câu đối được triều đình Huế và nhân dân công
đức). Theo số liệu của quan chức cai tổng, lý trưởng xã Triệu Lộc ghi năm
ngày nay vẫn lưu giữ được dấu tích (hậu cung, cung đệ nhị và cung đệ tam)
các cung đều bố trí có bài bản theo cách thức tín ngưỡng tâm linh thờ Bà
Triệu và những người có công trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Ngô. Nghi
thức bài trí có tượng Bà, có cờ nghĩa, bát hương, đại tự, lộng... nhằm làm cho
linh thiêng, hào khí trở nên sống động như thuở ấy Bà cưỡi voi đánh giặc.
Ngày nay đền Bà Triệu được xây dựng theo lối kiến trúc “Nội công
Ngoại quốc”. Đền, Chùa kiểu Nội công ngoại quốc là kiểu đền, chùa có hai
hành lang dài nối nhà tiền đường ở phía trước với nhà hậu đường (có thể là
nhà tổ hay nhà tăng) ở phía sau làm thành một khung hình chữ nhật bao
quanh lấy nhà thiêu hương, nhà thượng điện hay các công trình kiến trúc khác
ở giữa. Bố cục mặt bằng của đền có dạng phía trong hình chữ Công, còn phía
ngoài có khung bao quanh hình chữ Khẩu hay như chữ Quốc. Du khách đến
thăm đền Bà Triệu chắc hẳn ai cũng có thể cảm nhận được cái giản dị mà
cũng rất trang nghiêm của một khu di tích đã được công nhận là khu di tích
lịch sử văn hóa cấp quốc gia này.
Cổng ngoại của ngôi đền có kiến trúc cổng tứ trụ chất liệu bằng đá
khối, có tường trạm nổi hình voi ở hai bên. Các ô hộc ở trụ cổng và tứ trụ
trạm hình long, ly, quy, phượng, bốn mặt liền khối đá thân trụ, hình thức
chạm bong âm vào thân cột. Trang trí đầu trụ bằng phượng và nghê.
Qua cổng ngoại là hồ nước, trên cơ sở hiện trạng hồ nước hình chữ nhật
cũ, lan can, bậc lên xuống hồ và sân đường bao quanh đã được tôn tạo, Lan
13
can có hình kiến trúc trụ, tường chất liệu đá, sân đường lát bằng đá tảng.
Bình Phong có kiến trúc hình cuốn thư, trang trí phù điêu, phượng và
vân mây, chất liệu băng đá khối.
Miếu thờ được trang trí đăng đối trên đường thần đạo, trước cổng nội,
sau cổng trung, kết cấu gạch mái bê tông cốt thép, dán ngói mũi hài, nền lát
Dựng cờ mở nước.
Lệnh truyền sau trước,
Theo gót Bà Vương.
Nhờ đó cả vùng đã đồn ầm lên rằng núi Quân Yên biết nói, báo hiệu
cho dân chúng biết Bà Triệu là “thiên tướng giáng trần” giúp dân, cứu nước.
Cuộc khởi nghĩa của bà Triệu năm 248 chống lại quân xâm lược Ngô
đã gây chấn động Giao Châu. Khoảng 100 năm sau, sách sử Trung Quốc nhắc
đến bà Triệu như một nhân vật thần kỳ của nước Nam. Sách “Việt Điện U
Linh” của Lý Tế Xuyên đầu thế kỷ XIII miêu tả bà Triệu khi ra trận như sau:
“Vú vắt sau vai dùng lụa quấn chặt, mặc áo vàng, đi guốc ngà đứng trên đầu
voi, thanh thế ầm ầm chẳng có kẻ nào dám chống lại, trong quân đặt tên là
Nhụy Kiều tướng quân”. Qua nét vẽ từ tranh dân gian Đông Hồ, bà Triệu hiện
lên như một nàng tiên cưỡi trên con voi trắng. Là nữ tướng nhưng trong tranh
không thấy Bà cầm gươm giáo mà hai tay chỉ cầm hai dải áo. Tranh còn vẽ
cặp vú dài nữ tính của Bà, nó lắt lẻo theo nhịp đi của chú voi. Người dân xứ
Thanh còn lưu truyền nhiều câu truyện đẹp về bà Triệu cưỡi voi xung trận với
tiếng cồng, tiếng chiêng thúc giục ba quân xông lên giết giặc. Đền Bà Triệu là
ngôi đền có cảnh quan đẹp, kiến trúc bề thế với tượng voi chầu ở cổng, trước
sân đền, và hai bức tranh bà Triệu cưỡi voi trắng được trang trí hai bên tả hữu
của chính điện.
Tượng voi đá trong đền Bà Triệu được làm từ đá của xứ Thanh, trong
các di sản tượng đá, tượng voi đá có số lượng nhiều nhất. Các di tích đều có
voi đá nằm chầu phục. Đặc biệt voi đá xứ Thanh nói chung và voi đá quỳ
15
chầu ở đền Bà Triệu nói riêng được tô đẹp, tôn tạo nét uy nghiêm cho các di
tích lịch sử- văn hóa, vẽ nên câu chuyện huyền thoại không phai mờ theo thời
gian, năm tháng.
đường làm bằng cửa bức bàn. Tất cả các con giống ở khu Đền Bà Triệu, đặc
biệt các đầu đao đều được tham khảo ý kiến của các chuyên gia đầu nghành
như Giáo sư - Tiến sĩ Trần Lâm Biền.
Đây là một di tích được tu bổ, phục hồi hoành tráng và đầy đủ, cảnh
quan thiên nhiên môi trường sinh thái không bị ảnh hưởng nhiều. Một số cây
cổ thụ vẫn được bảo tồn, một số cây của các vị cấp cao Nhà nước trồng kỷ
niệm đang ngày càng tươi tốt. Công trình được bàn giao quản lý và phát huy
di tích ngày 29 tháng 3 năm 2007. Hiện nay Đền Bà Triệu có một tổ chuyên
trách thuộc Ban quản lý và danh thắng huyện Hậu Lộc trực tiếp ngày đêm bảo
vệ, quản lý, hướng dân nhân dân dâng hương, tham quan vãn cảnh.
Đi xuống cuối sân lên 13 bậc chính là 3 gian hậu cung. Chính giữa
phía trên Đền có bốn chữ: “Triệu Nữ Vương từ”. Cột đền bằng đá có nhiều
câu đối nêu công đức của bà Triệu. Tại đền hiện nay còn lưu giữ hơn 10 bài
thơ khắc đá. Trong đó có thơ của Lý Thánh Tông, Nhữ Bá Sĩ...
Toàn bộ khu đền trông về hướng Tây, dựa lưng vào núi vững chãi và
uy nghi. Đền có chiều dài 50m, chiều rộng 15m, Đền đã bị hư hại nhiều theo
những thăng trầm lịch sử. Hiện nay Đền đã được Nhà nước xếp hạng di tích
lịch sử văn hóa. Đền nằm ngay quốc lộ 1A nên bất cứ ai đi qua đều có thể
dừng chân vào viếng đền, thắp nén nhang tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đối với vị anh hùng dân tộc. Đây cũng chính là một điểm thuận lợi
của Đền có thể thu hút được lượng lớn khách du lịch và dễ dàng thành lập các
tour, tuyến du lịch.
Hệ thống thờ cúng trong Khu Đền Bà Triệu rất trang nghiêm, theo quy
luật thờ nhân vật anh hùng dân tộc. Hậu cung ở giữa thờ Bà Triệu, hai bên tả
thờ thân phụ Vua Bà, bên hữu thờ thân mẫu Vua Bà. Bên trong Trung Đường,
17
ở giữa thờ tướng quân Triệu Quốc Đạt, bên tả là bàn thờ hội đồng quan võ và
(còn gọi là Hồi sơn, hay núi Gai) nơi dựng Đền Bà Triệu ngày nay.
- Phích tích đương niên, chính khí phôi thai tiền Lý Đế
Triệu nhân tư thổ, thân cao đối Trĩ nhị Trưng Vương.
(dịch là: Dựng đền ngày nay đó, anh linh dạy tiếng sánh Trưng
Vương.)
Ngoài ra tại Đền còn lưu giữ những chuyện thơ như:
- Trông Bành Voi, Ngô cũng lắc đầu sợ uy. Lệ Hải Bà
Vương, những muốn bon chân về Bắc Quốc.
Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ
tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi.
Đây là mở đầu câu chuyện kể bằng thơ về Bà Triệu đánh giặc Ngô của
người nữ tiến sĩ đầu tiên ở Việt Nam là Nguyễn Thị Duệ - con gái làng Kiệt
Đạt, huyện Chí Linh, Trấn Hải Dương.
Làng Phú Điền nổi lên như một con cá Chép đang bơi giữa biển lúa
mênh mông, xa xa thấp thoáng là lũy tre xanh hiền hòa.
1.2. Quần thể các di tích liên quan đến Đền Bà Triệu.
Ngoài di tích đền Bà Triệu xây dựng trên núi Gai, trong khu di tích lịch
sử - văn hóa này còn có các di tích liên quan khác:
1.2.1. Lăng Bà Triệu
Tùng Sơn phong cảnh hữu tình, nơi đây thật là hùng vĩ. Người con gái
trinh trắng đã hi sinh hiến trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, chọn gửi gắm
thân xác tại đỉnh non xanh này, để lại cho người đời một tâm tưởng hoài niện
khôn cùng. Núi Tùng giống như một cây thông, trên đỉnh là Lăng Bà Triệu
được bao phong thành mộ nổi, có tường hoa bao quanh theo đồ án hình
vuông. Ngọn tháp cao bên cạnh mộ và một cây cổ thụ nghiêng mình soi bóng
19
mát đứng cạnh tháp tạo thành một bức tranh tuyệt đẹp; riêng có mái tháp tam
Dịch thơ:
Chiến trận xưa vung búa diệt Ngô
Tới nay di tích vẫn nên thờ
Giang sông chẳng mất anh hùng gái
Sử sách còn truyền Lệ Hải Vua
Dốc thẳm mây vờn nên chính khí
Sơn non nắng nhuộm động trời mưa
Vùng đây người vật ngàn thu vọng
Sông Mã, Tùng Sơn lộng gió lùa.
Phía Bắc chân núi Tùng vào nhà máy giấy Châu Lộc là con đường mới
mở từ Quốc lộ 1A rất thuận lợi cho du khách đến thăm viếng thắng cảnh Hàn
Sơn.
1.2.2. Đình làng Phú Điền
“Ai qua Hậu Lộc Phú Điền
Nhớ đây Bà Triệu trận tiền tiến binh”
Phú Điền là ngôi đình nằm trong quần thể di tích Đền Bà Triệu. Theo
các cụ trong làng, trước kia ngôi đình cũ xây dựng ở rìa làng, sau đó thì di
chuyển vào vị trí hiện nay. Toàn bộ cảnh quan của đình Phú Điền được xây
dựng trên một nền đất cao được xem là tụ linh, tụ phúc của làng. Phía trước
đình bên cây đa cổ thụ là bến nước ao đình, xa hơn một chút là đỉnh Tùng
Sơn. Đình được xây dựng theo lối kiến trúc kiểu chuôi vồ (J). Nhìn tổng thể
kiến trúc và cách trang trí có thể biết ngôi đình xuất hiện từ thế kỉ XVII. Phần
Hậu Cung (chuôi vồ) được bổ sung khoảng nửa cuối thế kỉ XIX. Dòng chữ
Hán ở thượng lương đình hiện nay cho biết đình được tu sửa năm Mậu Dần,
đời Tự Đức thứ 31 (năm 1878).
Phía trước cột đình là hai cột nanh to với hình khối vuông cạnh thẳng
đứng. Trên đỉnh cột nanh là hai tượng sấu hướng mặt vào nhau. Bộ mái được
21