TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA LỊCH SỬ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KỸ
THUẬT TRONG KHÓA TRÌNH LỊCH SỬ
THẾ GIỚI HIỆN ĐẠI TỪ 1945 – 2000
(LỊCH SỬ 12, BAN CƠ BẢN)
Giáo viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
VINH – 2011
: ThS. Nguyễn Thị Duyên
: Trần Thị Hường
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô giáo – Thạc sĩ Nguyễn Thị
Duyên - người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình giúp đỡ em thực hiện đề tài
này.
Đồng thời, em cũng xin cảm ơn các thầy cô, bạn bè và gia đình đã giúp
đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện giúp đỡ để em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp của mình. Cho phép em được gửi lời chúc sức khỏe, hạnh phúc tới
thầy cô và các bạn.
Mặc dù có cố gắng song khóa luận cũng không thể tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ thầy cô và các bạn.
Thông tin liên lạc
NXBĐHSP
Nhà xuất bản Đại học sư phạm
NXBCTQG
Nhà xuất bản chính trị quốc gia
NXBKH&KT
Nhà xuất bản khoa học và kĩ thuật
NXBVHTT
Nhà xuất bản văn hóa thông tin
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ................................................................................................ 1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................ 0
MỤC LỤC ..................................................................................................... 0
MỞ ĐẦU....................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ............................................ 3
4. Nhiệm vụ của đề tài.................................................................................... 3
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu .......................................... 4
3.1.2.3. Kết hợp các hình thức tổ chức dạy học ............................................ 38
3.2. Các biện pháp cụ thể.............................................................................. 39
3.2.1. Biện pháp miêu tả kết hợp với việc sử dụng đồ dùng trực quan .......... 39
3.2.1.1. Miêu tả toàn cảnh ............................................................................ 39
3.2.1.2. Miêu tả có phân tích ........................................................................ 42
3.2.2. Biện pháp kể chuyện về các phát minh, sáng chế từ 1945 - 2000........ 43
3.2.3. Biện pháp tạo biểu tượng nhân vật về các nhà khoa học ..................... 52
3.3. Thực nghiệm sư phạm ........................................................................... 58
3.3.1. Mục đích thực nghiệm ........................................................................ 58
3.3.2. Đối tượng thực nghiệm....................................................................... 59
3.3.3. Nội dung thực nghiệm ........................................................................ 59
3.3.4. Phương pháp thực nghiệm .................................................................. 59
3.3.5. Giáo án đối chứng .............................................................................. 59
3.3.6. Giáo án thực nghiệm........................................................................... 65
3.3.7. Kết quả thực nghiệm........................................................................... 75
KẾT LUẬN................................................................................................. 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 78
PHỤ LỤC.................................................................................................... 80
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đang bước vào một thời đại mới: thời đại của công nghệ thông
tin, của “kinh tế tri thức”. Cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại
gắn liền với sự xuất hiện một nền văn minh mới “văn minh thứ ba” hay “văn
minh trí tuệ”. Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã trở thành xu thế chung của các
quốc gia dân tộc. Việt Nam cũng đang chuyển mình để hội nhập vào dòng
chảy chung của nhân loại. Trong nền “văn minh trí tuệ” tri thức vừa là của
cải, vừa là công cụ để sáng tạo ra của cải vật chất, là chìa khóa của tiến bộ
kinh tế - văn hóa - xã hội. Công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng, lãnh
ràng là không đáp ứng yêu cầu phát triển của giáo dục.
Khoa học kĩ thuật là nội dung quan trọng trong khóa trình lịch sử thế giới
hiện đại từ 1945 – 2000. Tuy nhiên trên thực tế do thời gian trên lớp học có
hạn, lại phải trình bày nhiều nội dung cùng một lúc. Những nội dung khoa
học kĩ thuật rất quan trong đặc biệt đối với thời đại ngày nay với sự bùng nổ
của công nghệ thông tin nhưng do thời gian có hạn mà không được đi sâu
nghiên cứu. Vì vậy, đặt ra yêu cầu đưa những phương pháp dạy học hiệu quả
cho từng bài, từng chương đặc biệt là nội dung khoa học kĩ thuật. Vì thế, tôi
chọn đề tài “Giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong khóa trình lịch sử
thế giới hiện đại từ 1945 -2000”(Lịch sử 12, Ban cơ bản) làm khóa luận tốt
nghiệp.
2. Lịch sử vấn đề
- Công trình nghiên cứu về lý luận dạy học bộ môn:
+ Hội Giáo dục Lịch sử, Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy “Học sinh làm
trung tâm”, Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 1996.
+ Từ đổi mới nghiên cứu đến đổi mới giảng dạy, Tạp chí Nghiên cứu lịch
sử 3/1993.
2
- Tài liệu hướng dẫn giảng dạy và sách giáo viên như: Đairi,
Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào? Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội,
1973.
- Phan Ngọc Liên (chủ biên), Phương pháp dạy học lịch sử (Tập 1,
tập 2), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
- Nguyễn Thị Thạch, Thiết kế bài giảng lịch sử lớp 12 (Tập một),
Nhà xuất bản Hà Nội, 2007.
Nhưng hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu, cụ thể
về nội dung khoa học kĩ thuật trong việc dạy học khóa trình lịch sử thế
- Điều tra thực tế dạy học lịch sử ở trường THPT bằng nhiều hình thức:
dự giờ, quan sát, tổng kết kinh nghiệm sư phạm.
- Tiến hành thực nghiệm qua một bài học cụ thể của khóa trình để khẳng
định tính khả thi của việc sử dụng nội dung khoa học kĩ thuật vào giảng dạy
khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 – 2000 góp phần nâng cao hiệu quả
bài học lịch sử.
6. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, Tài liệu tham khảo, Mục lục, đề
tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Vấn đề giảng dạy nội dung khoa học kĩ thuật trong dạy học
lịch sử ở trường phổ thông hiện nay
Chương 2: Một số nội dung khoa học kĩ thuật cần khai thác trong khóa
trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 – 2000
Chương 3: Hình thức, một số biện pháp giảng dạy nội dung khoa học kĩ
thuật trong khóa trình lịch sử thế giới hiện đại 1945 – 2000
4
NỘI DUNG
Chương 1: VẤN ĐỀ GIẢNG DẠY NỘI DUNG KHOA HỌC KĨ
THUẬT TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
HIỆN NAY
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Mục tiêu, nhiệm vụ bộ môn
Mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông được xây dựng trên cơ sở lý
luận và thực tiễn, thể hiện tập trung ở việc quán triệt mục tiêu chung của giáo
dục phổ thông, thông qua chức năng, nhiệm vụ đặc trưng, nội dung của môn
học và tình hình, nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong những điều kiện cụ thể.
Mục tiêu giáo dục phổ thông phải quán triệt đường lối, chính sách của Đảng
mà cả tình cảm, tư tưởng, góp phần đào tạo con người Việt Nam toàn diện.
Qua đó giáo dục, bồi dưỡng những nội dung như:
- Lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa, lòng yêu quê hương- một biểu hiện
của lòng yêu nước.
- Tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh
cho độc lập, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình dân chủ.
- Niềm tin vào sự phát triển hợp quy luật của xã hội loài người và dân
tộc, dù trong tiến trình lịch sử có những bước quanh co, khúc khuỷu…
- Có ý thức làm nghĩa vụ công dân, sẵn sàng thực hiện nghĩa vụ quốc tế.
- Những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng.
- Giáo dục cho các em ý thức được tính cấp thiết cần phải tiếp thu
những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến của nhân loại phục vụ công cuộc
xây dựng đất nước mà các em sau này sẽ là những chủ nhân tương lai của đất
nước để tránh nguy cơ tụt hậu, nghèo nàn.
Về nhiệm vụ phát triển: Cần rèn luyện cho các em học sinh năng lực tư
duy và thực hành trên cơ sở hoàn chỉnh và nâng cao những năng lực đã được
hình thành. Hình thành tri thức cho học sinh bắt đầu từ việc cung cấp các sự
kiện lịch sử.
6
- Tư duy biện chứng trong nhận thức và hành động, biết phân tích, đánh
giá, liên hệ.
- Kỹ năng học tập và thực hành bộ môn, sử dụng sách giáo khoa và tài
liệu tham khảo; khả năng trình bày nói, viết; làm và sử dụng một số đồ dùng
trực quan nhất là đồ dùng trực quan quy ước, những hoạt động ngoại khóa
môn học.
- Vận dụng những kiến thức đã học vào cuộc sống hiện nay.
Tóm lại, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung
khoa học kĩ thuật đã trở thành lực lượng trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất
thì những nội dung khoa họa kĩ thuật lại càng có ý nghĩa quan trọng trong
việc tiếp thu những thành tựu của khoa học công nghệ, tránh nguy cơ tụt hậu
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt khi nước ta
đang phấn đấu đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp theo hướng
hiện đại.
1.1.2. Khái niệm khoa học kĩ thuật
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Khoa học” là một hệ thống tri thức tích lũy
trong qua trình lịch sử và được thực tiễn chứng minh, phản ánh những quy
luật khách quan của thế giới loài người cũng như hoạt động tinh thần của con
người, giúp con người có khả năng cải tạo thế giới hiện thực.
“Khoa học kĩ thuật” nói cách tổng quát nhất đó là các ngành khoa học
có liên quan trực tiếp đến sản xuất và các ngành kĩ thuật [16;484,485].
“Cách mạng khoa học kĩ thuật”: Đó là bước nhảy vọt về chất trong cơ
cấu và trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất bắt đầu vào giữa thế
kỷ XX, một sự xây dựng lại triệt để các cơ sở kỹ thuật cuẩn xuất vật chất.
Cách mạng khoa học kĩ thuật đó là một hiện tượng xã hội phức tạp, một quá
trình lịch sử lâu dài và có những đặc điểm sâu đây: Tính chất toàn cầu, tính
chất quốc tế vì nó bao trùm toàn bộ thế giới. Tính chất bao quát vì nó tác động
đến tất cả các lĩnh vực sinh hoạt xã hội. Tính chất tổng hợp vì những biến đổi
cách mạng xảy ra trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật mà trước đó được thực
hiện một cách riêng lẻ, nay gắn với nhau một cách hữu cơ và tác động lẫn
8
nhau. Cái cốt lõi của cách mạng khoa học kĩ thuật là khoa học phát triển vượt
lên trước và biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp, còn bản thân sản xuất thì
biến thành việc áp dụng một cách triệt để khoa học hiện đại và các quy trình
công nghệ. Các tri thức khoa học được vật chất hóa, được thực hiện trong các
biệt là những phương pháp bộ môn.
Tuy nhiên, nhất là ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa…ít được cập
nhật thông tin khoa học, chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi
mới phương pháp dạy và học hiện nay và chưa hiểu rõ nội dung của công việc
này. Vì vậy trong giờ học lịch sử, thầy làm việc là chủ yếu,trò thụ động ghi
chép còn khá phổ biến. Thậm chí hiện tượng đọc chép còn tràn lan. Mặt khác,
một số giáo viên tuy nhận thức được được vấn đề đổi mới phương pháp dạy
học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng nhưng lại lấy nguyên nhân học sinh
yếu kém không thể vận dụng các biện pháp đổi mới nhằm phát huy tính tích
cực của học sinh được, cũng chỉ đọc chép, nhồi nhét kiến thức cho học sinh,
cho nên không chỉ rèn luyện cho các em năng lực tự chiếm lĩnh kiến thức và
trang bị phương pháp học tập tốt. Đây là một thực tế đáng buồn hiện nay dẫn
tới tình trạng học sinh không thích học lịch sử.
Hiện nay sách giáo khoa lịch sử đã được biên soạn theo tinh thần đổi mới
được sử dụng đại trà, trừ cấp trung học phổ thông còn tiến hành thí điểm.
Thực tiễn sử dụng sách giáo khoa mới ở trường phổ thông cho thấy phương
pháp dạy học của giáo viên chưa kịp việc đổi mới nội dung của sách. Bài viết
trong sách trình bày ngắn gọn có tính gợi mở thì giáo viên chưa có đủ độ sâu
về kiến thức để hướng dẫn học sinh tìm ra những kiến thức chìm trong sách
(ví dụ: nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử của sự kiện, đánh giá nhân vật,
kênh hình tăng lên so với sách cũ rất nhiều nhằm làm đa dạng nguồn nhận
thức bài học, học sinh học tập nhẹ nhàng hơn. Song nhiều giáo viên chưa hiểu
hết nội dung kênh hình, hiệu quả sử dụng chưa cao, vẫn còn nhiều nhiều giáo
viên quan niệm: hỏi thật nhiều là đổi mới phương pháp dạy học, cho nên nó
chủ yếu chỉ sử dụng câu hỏi mà không khai thác triệt để các nguồn kiến thức
khác.
10
cách mạng tiên tiến. Nhân loại đang bước vào nền kinh tế tri thức, sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, của xu hướng khu vực hóa, toàn cầu
hóa đã tạo ra những thời cơ và thách thức lớn cho các dân tộc. Khoa học kĩ
thuật ngày càng phát triển và dần dần trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều đó đòi hỏi giáo viên phải tăng cường nội dung này trong dạy học bộ
môn.
Một số giáo viên có năng lực, tâm huyết với nghề nghiệp và dạy học ở
những môi trường thuận lợi đã cố gáng đi sâu vào các nội dung khoa học kĩ
thuật trong dạy học lịch sử. Họ đã cố gắng lồng ghép nội dung này vào những
thời điểm khác nhau của bài học trên lớp cũng như vận dụng các hình thức
hoạt động ngoại khóa khác để khơi gợi sự ham mê, yêu thích tìm hiểu bộ môn
nói chung và nội dung về khoa học kĩ thuật nói riêng. Tuy nhiên, những cố
gắng đó chưa nhiều và chưa đạt được kết quả mong muốn.
Phần lớn, do sức ép về thời gian lên lớp có hạn nên nói chung các nội
dung môn học chỉ được giảng dạy sơ lược, chưa sâu sắc. Các nội dung khoa
học kĩ thuật cũng chỉ được nhắc đến một cách chung chung – đề cập nhanh.
Học sinh không nắm vững nội dung, không ghi nhớ những nhân vật, những
nhà phát minh, nhà khoa học…Điều đó làm giảm sút hứng thú học tập của
học sinh, không tạo hiệu quả giáo dục cao, toàn diện. Vấn đề đặt ra là trong
những điều kiện sư phạm hiện nay, cần phải tìm ra những giải pháp để nang
cao chất lượng dạy học lịch sử. Đối với những khóa trình đặc thù, ví dụ phần
Lịch sử thế giới hiện đai từ 1945 - 2000 có nhiều nội dung khoa học kĩ thuật
thuật thì cần biết cách khai thác nội dung và chỉ ra phương pháp, biện pháp tối
ưu để giảng dạy chúng có hiệu quả nhất.
12
Bài 10: Cách mạng khoa học - công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau
thế kỷ XX
Bài 11: Tổng kết lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 - 2000
Đây là một khóa trình với những vấn đề quan trọng tái hiện những biến
động của nhân loại: chiến tranh kết thúc, sự bùng nổ của cách mạng khoa học
công nghệ… Những biến động đó ảnh hưởng không nhỏ đến lịch sử các dân
tộc trên thế giới cũng như có tác động sâu sắc đến Việt Nam đặc biệt là khi xu
thế toàn cầu hóa, khu vực hóa phát triển mạnh mẽ.
Khóa trình lịch sử thế giới hiện đại từ 1945 - 2000 có nhiều nội dung
phong phú, diễn biến phức tạp với nhiều biến động và thay đổi to lớn. Đáp
ứng được thực tế dạy học lịch sử và đặc điểm nhận thức của học sinh cuối
cấp, chương trình sách giáo khoa đã lựa chọn nội dung, xác định những vấn
đề cơ bản đưa vào chương trình nhằm cung cấp cho học sinh những hiểu biết
toàn diện về bước phát triển của xã hội loài người và thời hiện đại.
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc đã mở ra một giai đoạn mới của lịch
sử thế giới hiện đại. Trong lịch sử thế giới hiếm có giai đoạn nào như giai
đoạn nửa sau thế kỷ XX mà loài người mới trải qua. Chỉ trong vòng nửa thế
kỷ, tình hình thế giới đã thật sự sôi động với bao diễn biến dồn dập, đem lại
những thay đổi to lớn và cả những đảo lộn đầy bất ngờ.
2.2. Nội dung chủ yếu của khóa trình
Một là, sau chiến tranh thế giới thứ hai, một trật tự thế giới mới đã được
xác lập. Đó là trật tự hai cực Ianta với đặc trưng nổi bật là thế giới bị chia
thành hai phe: tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa do hai siêu cường là Mĩ
và Liên Xô đứng đầu mỗi phe. Đặc trưng hai cực – hai phe đó là nhân tố hàng
đàu chi phối nền chính trị thế giới và các quan hệ quốc tế trong phần lớn thời
gian nửa sau thế kỷ XX.
Hai là, với thắng lợi của các cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở
các nước Đông Âu chủ nghĩa xã hội đã vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở
14
15
+ Từ sau chiến tranh,Mĩ vươn lên trở thành đế quốc giàu mạnh nhất. Với
sức mạnh kinh tế, tài chính và quân sự vượt trội giới cầm quyền Mĩ đã ráo riết
thực hiện các chiến lược toàn cầu nhằm thống trị thế giới, đã dính líu và can
thiệp vào nhiều nơi trên thế giới. Nhưng Mĩ cũng chấp nhận không ít thất bại,
tiêu biểu là thất bại trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 - 1975).
+ Nhờ có sự tự điều chỉnh kịp thời, nền kinh tế các nước tư bản đã tăng
cường khá liên tục, đưa lại những thay đổi về chất trong cơ cấu cũng như xu
hướng phát triển và hình thành nên các trung tâm kinh tế lớn của thế giới.
+ Dưới tác động to lớn của cách mạng khoa học kĩ thuật, nhất là sự phát
triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, các nước tư bản ngày càng có xu
hướng liên kết kinh tế khu vực. Tiêu biểu là sự ra đời và phát triển trong hơn
40 năm qua của cộng dồng kinh tế châu Âu (EEC) mà ngày nay là liên minh
châu Âu (EU). Mĩ, EU, Nhật Bản đã trở thành ba trung tâm kinh tế lớn của
thế giới.
Năm là, so với các giai đoạn lịch sử thế giới trước đây chưa bao giờ các
quan hệ quốc tế được mở rộng và đa dạng như trong nửa sau thế kỷ XX.
Những nét nổi bật của quan hệ quốc tế từ sau chiến tranh thế giới thứ hai là:
Tình trạng đối đầu gay gắt giữa hai siêu cường hai phe mà đỉnh cao là
tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài tới hơn 4 thập niên.
Tuy nhiên, phần lớn các quốc gia trên thế giới vẫn cùng tồn tại hòa bình,
vừa đấu tranh, vừa hợp tác. Cả hai siêu cường cũng như các nước khác đều có
ý thức về những hiểm họa khủng khiếp không lường hết được của một cuộc
chiến tranh hạt nhân. Hơn thế nữa, ý chí đấu tranh giữ gìn nền hòa bình của
các dân tộc đã được đề cao hơn bao giờ hết, bởi họ vừa mới trải qua hai cuộc
chiến tranh thế giới chỉ trong vòng chưa đầy nửa thế kỷ. Cuối cùng, chiến
tranh lạnh chấm dứt, thế giới chuyển dần sang xu thế hòa dịu, đối thoại, hợp
phóng ra năng lượng lớn, có sức sát thương và phá hoại mạnh gấp nhiều lần
bom thông thường [16;70,71].
+ Năm 1949 Liên Xô đã chế tạo thành công bom nguyên tử
17
Với việc chế tạo thành công bom nguyên tử Liên xô đã phá võ thế độc
quyền vũ khí nguyên tử của Mĩ (Vũ khí nguyên tử năm 1945 Mĩ thử thành
công bom nguyên tử → độc quyền).
+ Từ năm 1950 đến nửa đầu những năm 70 Liên Xô đã trở thành cường
quốc công nghiệp thứ hai trên thế giới. Đi đầu trong công nghiệp vũ trụ, công
nghiệp điện hạt nhân.
- Từ những năm 50 đến nửa đầu những năm 70 Liên Xô trở thành cường
quốc công nghiệp thứ hai thế giới.
Sản lượng công nghiệp của Liên Xô chiếm 20% sản lượng công nghiệp
toàn thế giới. Đi đầu trong các ngành công nghiệp vũ trụ: là ngành công
nghiệp chế tạo các loại thiết bị khám phá những bí ẩn của khoảng không gian
nơi chứa các thiên hà.
+ 1957: Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo.
- Năm 1957: Liên Xô phóng thành công vệ tinh nhân tạo. Vệ tinh nhân
tạo là loại khí cụ bay trong vũ trụ được đưa vào quỹ đạo quanh một hành tinh
(Trái Đất) hay quay quanh một vệ tinh thiên nhiên (Mặt trăng) do con người
chế tạo [16;1073]
+ 1961: Phóng tàu vũ trụ.
- Năm 1961: Liên Xô phóng thành công “tàu vũ trụ”. Tàu vũ trụ là một
phương tiện vận tải dùng để bay trong vũ trụ [16;861]. Với việc phóng
thành công tàu vũ trụ đã đưa nhà du hành vũ trụ Gagarin bay vòng quanh
Trái Đất, mở đầu kỉ nguyên chinh phục vũ trụ của loài người
Bài 3: Các nước Đông Bắc Á
“chương trình nông nghiệp toàn cầu” nhằm tập trung vào phát triển, lai tạo
các giống mới có năng suất cao, xây dựng hệ thống tưới tiêu hiện đại, tăng
luân canh và tìm ra nhiều loại hóa chất mới đảm bảo cho cây trồng phát triển
và bảo vệ môi trường sinh thái [11;66]. Nhờ tiến hành cuộc cách mạng xanh
trong nông nghiệp mà từ giữa những năm 70 của thế kỷ XX, Ấn Độ đã tự túc
được lương thực và từ năm 1995 là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới
19
Cũng trong những năm 70, Ấn Độ đã sử dụng năng lượng hạt nhân vào
sản xuất điện. Trong những năm 80, Ấn Độ đứng hàng thứ 10 trong những
nước sản xuất công nghiệp lớn nhất thế giới. Ấn Độ đã chế tạo được máy
móc, thiết bị ngành dệt, hóa chất máy bay, tàu thủy, đầu máy xe lửa, tivi màu.
+ Công nghệ phần mềm
Ấn Độ cũng có những bước tiến nhanh chóng và hiện nay đang cố gắng
vươn lên hàng các cường quốc về công nghệ phần mềm (Công nghệ phần
mềm là các phương pháp gia công chế tạo các chương trình được sử dụng trên
máy tính điện tử).
+ Công nghệ hạt nhân: Các phương pháp gia công, chế tạo làm thay đổi
trạng thái, tính chất phần trung tâm của nguyên tử, nơi tập trung hầu hết khối
lượng mang điện tích dương, phục vụ cho mục đích của con người.
+ Công nghệ vũ trụ: Các phương pháp gia công, chế tạo những thiết bị
để khám phá những bí ẩn của không gian nơi chứa các thiên hà..
+ Công nghệ chất xám: Chỉ trí thức, tri tuệ, óc sáng tạo. Với cuộc “cách
mạng chất xám” đã đưa Ấn Độ trở thành một cường quốc sản xuất công nghệ
phần mềm lớn nhất thế giới.
Không những thế, năm 1974 Ấn Độ thử thành công bom nguyên tử.
Năm 1975 phóng thành công vệ tinh nhân tạo lên quỹ đạo Trái Đất bằng tên
lửa của mình. Đến năm 2002 Ấn Độ đã có 7 vệ tinh nhân tạo hoạt động trong