TRNG I HC VINH
Khoa lịch sử
---------------
Nguyễn thị mai
khoá luận tốt nghiệp đại học
khu di tíCH kim liêN
vớI việc pháT triểN du lịCH
ChuyêN Ngành : du lịCH
Lớp
: 48B2 Du lịch (2007 2011)
Giảng viên hớng dẫn : GVC. Võ Anh Mai
Vinh, 2011
LỜI CẢM ƠN
Được sự góp ý và giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo trong tổ Du
lịch, Khoa Lịch Sử - Trường Đại Học Vinh, em đã lựa chọn được đề tài
nghiên cứu "Khu di tích Kim Liên với việc phát triển du lịch" làm khóa luận
tốt nghiệp. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của Giám đốc Ban quản lý Khu di
tích Kim Liên và các nhân viên tại đây đã giúp đỡ em hoàn thành tốt bài khóa
luận tốt nghiệp này. Qua đây em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới
các thầy cô giáo và mọi thành viên trong Ban quản lý Khu di tích Kim Liên
đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu. Đặc biệt em
xin chân thành cảm ơn cô giáo Võ Anh Mai người đã hướng dẫn em nhiệt
tình, chu đáo trong suốt thời gian qua, để em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt
nghiệp này.
tâm du lịch khu vực Bắc Trung Bộ và là trọng điểm du lịch của cả nước.
Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ An, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh
cách thành phố Vinh khoảng 15 km theo quốc lộ 46. Cảnh quan tự nhiên làng
quê yên bình, êm ả… cùng hệ thống di tích lịch sử văn hóa gắn liền với thân
1
thế và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những lợi thế cho du
lịch Kim Liên phát triển.
Tuy nhiên trên thực tế trong thời gian qua cho thấy sự phát triển du lịch ở
Kim Liên – Nam Đàn chưa xứng với tiềm năng vốn có của nó, vẫn bộc lộ nhiều
hạn chế: Khách du lịch đến tương đối đông nhưng doanh thu chưa cao, hiệu quả
khai thác hoạt động du lịch tại các điểm di tích còn nhiều bất cập, các sản phẩm
dịch vụ phục vụ nhu cầu mua sắm lưu niệm của khách còn nghèo nàn, chưa tạo ra
được những sản phẩm đặc trưng hấp dẫn du khách; trình độ chuyên môn, kỹ năng
nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên vẫn chưa được toàn diện….
Vì lý do trên tôi đã quyết định lựa chọn đề tài: “ Khu di tích Kim Liên
với việc phát triển du lịch”, với mong muốn trên cơ sở đánh giá thực trạng
hoạt động du lịch tại khu di tích Kim Liên, từ đó đề xuất những giải pháp
nhằm góp phần thúc đẩy du lịch Kim Liên phát triển, trở thành điểm hấp dẫn
thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đề tài này đã được một số tác giả tìm tòi và nghiên cứu. Nó được đề
cập trong các tài liệu như:
- Hồng Yến và Lan Anh (2009), Sổ tay du lịch Miền Trung, NXB Lao
Động.
- Nghệ An di tích (2005), NXB Nghệ An.
- Minh Anh và Hải Yến (2008), Cẩm nang du lịch việt Nam, NXB Hồng
Đức.
- Thanh Bình và Hồng Yến (2009), Việt Nam 63 tỉnh thành và các địa
Nếu đề tài này thành công sẽ có những đóng góp tích cực cho việc học
tập, nghiên cứu của bản thân tôi cũng như các bạn sinh viên đang theo học
ngành du lịch. Đồng thời đề tài nghiên cứu này cũng là một trong nhiều ý kiến
đóng góp rất thiết thực đối với các cán bộ đã và đang làm việc tại Khu di tích
3
Kim Liên để có cái nhìn toàn diện, sâu sắc hơn về những thành tựu đã làm
được cũng như các vấn đề còn hạn chế trong thời gain qua… Từ đó có
thể đưa ra những biện pháp, những hướng giải quyết phù hợp, xác thực để
Khu di tích Kim Liên trở thành điểm du lịch hấp dẫn trong lòng mỗi du khách
muôn phương.
5. Nhiệm vụ của khóa luận
Nhiệm vụ quan trọng nhất của khóa luận là: Tìm hiểu các di tích trong
Khu di tích Kim Liên, khai thác các giá trị tiêu biểu đó để phục vụ cho việc
phát triển du lịch tại khu di tích. Đánh giá những đóng góp tích cực cũng như
mặt hạn chế của Khu di tích đối với sự phát triển du lịch từ khi thành lập cho
tới nay. Đồng thời đưa ra các giải pháp cụ thể để thu hút khách du lịch trong
và ngoài nước đến với Khu di tích Kim Liên.
Từ những kết quả đạt được trong thời gian tìm hiểu, nghiên cứu đề tài,
giúp cho các bạn sinh viên trẻ hiểu được đặc trưng nghề ngiệp là: Làm du lịch
không phải chỉ là để đi để hưởng thụ những cái đẹp của thiên nhiên ban tặng,
hưởng thụ những giá trị tốt đẹp mà ông cha ta để lại cho các thế hệ đời sau mà
làm du lịch là phải biết phát huy những giá trị nổi bật, quý giá đó bằng mọi cách
thức và phương pháp, biết bảo vệ và khai thác một cách hợp lý để các di tích lịch
sử văn hóa và danh lam thắng cảnh đó không chỉ phát triển ở thế hệ chúng ta,
mà còn phát triển và tồn tại vĩnh hằng ở các thế hệ con cháu sau này.
Từ nhận thức đó giúp tôi và các bạn sinh viên học tập tốt hơn, có
định hướng rõ ràng hơn trong nghề nghiệp, cố gắng học tập vì mục tiêu
phấn đấu của mình.
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ KHU DI TÍCH KIM LIÊN
1.1.Vị trí địa lý
Từ thành phố Vinh đi theo quốc lộ 46 đến km13 gặp ngã ba Mậu Tài,
rẽ trái theo con đường nhựa uốn mềm như dải lụa khoảng hơn 1km, du khách
gặp một làng quê bình dị như bao làng quê Việt Nam, cũng cây đa bến nước,
lũy tre làng... Đó là xã Kim Liên - huyện Nam Đàn – tỉnh Nghệ An.
Xưa kia tuyên truyền rằng có một nhà địa lý người Trung Quốc rất giỏi,
khi đi qua vùng này ông thấy địa hình ở đây rất đặc biệt. Giữa trung tâm vùng có
một ngọn núi đứng độc lập. Nếu quan sát kỹ thì thấy đường nét của núi có một
hình chữ “Vương” khổng lồ. Vị đó liền phán rằng: “ Vùng này sẽ xuất hiện một
vị thánh là vua trăm họ của nước Nam” và Hồ Chí Minh, Chủ tịch đầu tiên của
nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được xem là vị thánh ấy.
Xã Kim Liên phía đông giáp với xã Nam Giang và xã Hưng Đạo, phía
tây giáp xã Hùng Tiến, phía nam giáp xã Nam Cát, xã Hưng Lĩnh và xã Xuân
Lâm, phía bắc giáp xã Nam Lĩnh. Trước đây xã Kim Liên gọi là Chung Cự
thuộc tổng Lâm Thịnh huyện Nam Đàn (trước năm 1945). Trong xã có các
làng: Kim Liên ( làng Sen), làng Hoàng Trù, cùng các làng Ngọc Đình, Vân
Hội, Tình Lý, Cường Kỵ, Khoa Cử. Các làng này đều ở quanh núi Chung.
Trong đó có hai làng có ý nghĩa rất đặc biệt đó là làng Hoàng Trù (hay còn
gọi là làng Chùa), và làng Sen ( Kim Liên). Hai ngôi làng này đã đi vào lịch
sử, vào trái tim triệu triệu con người cùng với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí
Minh, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới.
6
Hiện nay trên địa phận xã Kim Liên có Khu di tích Kim Liên, là một
quê hương, gia đình, thời niên thiếu và hai lần Bác về thăm quê... Được hình
thành từ năm 1956, Khu di tích Kim Liên gồm các di tích sau:
+ Di tích Hoàng Trù (quê ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh).
+ Di tích Làng Sen (quê nội Chủ tịch Hồ Chí Minh).
+ Di tích Giếng Cốc.
+ Di tích Lò Rèn Cố Điền.
+ Di tích nhà thầy Vương Thúc Quý.
+ Di tích nhà thờ họ Nguyễn Sinh.
+ Di tích nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
+ Di tích Núi Chung.
+ Khu mộ bà Hoàng Thị Loan.
+ Khu lưu niệm sự kiện hai lần Bác về thăm quê.
Ngoài ra còn có nhà tưởng niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là những
di tích gắn liền với cuộc đời của Bác từ lúc Bác lọt lòng đến lúc Bác trở thành
một cậu thanh niên có đủ nhận thức, hiểu biết...
Đến đây du khách sẽ hiểu và cảm nhận được phần nào cuộc sống và
con người nơi đây, hiểu được tại sao một mảnh đất khô cằn như vậy lại có thể
nuôi dưỡng lên một tâm hồn cao đẹp, một con người vĩ đại như Chủ tịch Hồ
Chí Minh.
1.3.1 Cụm di tích Hoàng Trù
Di tích Hoàng Trù (làng Chùa), là quê ngoại Chủ tịch Hồ Chí Minh,
nằm ở trung tâm xóm Trù I xã Kim Liên – huyện Nam Đàn – Tỉnh Nghệ An.
Cụm di tích này nằm trong khu vườn rộng 7 sào Trung Bộ tương đương với
3.500m2
8
Là nơi Bác cất tiếng khóc chào đời và gắn bó với những năm đầu tiên
của thời thơ ấu trong tình yêu thương, nuôi dưỡng của ông bà, bố mẹ, anh chị
con gái ra ở riêng.
Thuở nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã men theo chiếc rương này để chập
chững tập đi. Đó là những bước đi đầu tiên trong cuộc đời của Người, để rồi
sau đó nối dài những bước tiếp theo trên khắp bốn biển năm châu để tìm
đường cứu nước.
Chiếc khung cửi đặt ở gian thứ ba là “Người bạn đồng hành” với cuộc
đời bà Loan, một người vợ hết lòng vì chồng, một người mẹ hết lòng vì con.
Ban ngày lo việc đồng áng, đêm đến dưới ánh sáng ngọn đèn dầu lạc, bà ngồi
dệt vải dệt lụa nuôi sống gia đình và góp phần dệt nên cuộc đời, sự nghiệp của
chồng và các con.
Vừa nhẹ nhàng theo tiếng thoi đưa, bà Loan vừa nhè nhẹ lắc võng hát
ru đưa con vào giấc ngủ bằng các nàn điệu dân ca bay bổng, nuôi lớn những
hy vọng sâu xa, những ước mơ cao đẹp:
“ À ơi!...làm người đói sạch rách thơm
Công danh phủi nhẹ, nước non phải đền”.
Với tri thức phong phú về văn hoá dân gian của Chủ tịch Hồ Chí Minh
buổi đầu, nhờ công ươm trồng của người mẹ trẻ. Nhân cách, tuổi thơ, tình
cảm cao thượng của Người được phát triển một cách toàn diện trong sự chăm
sóc của mọi thành viên trong gia đình. Đặc biệt là người mẹ hiền Hoàng Thị
Loan và những tháng ngày sống ở Hoàng Trù, là kỷ niệm không bao giờ phai
trong ký ức của Chủ tịch Hồ Chí Minh thuở nhỏ.
• Ngôi nhà cụ Hoàng Đường
Ngôi nhà tranh năm gian là nhà cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn Thị
Kép. Cụ Hoàng Đường được tôi luyện trong cái “nôi” hán học, dù không có
học vị gì nhưng cụ nổi tiếng là hay chữ. Cụ bà Nguyễn Thị Kép là con của
10
một nhà nho đỗ bốn khoa tú tài được giáo dục chu đáo trong một gia đình nho
phong trọng đạo. Họ sinh được cô con gái đầu lòng là Hoàng Thị Loan (1868)
Đường, tuổi ấu thơ của Bác Hồ đã được ông bà ngoại bồng bế, nâng niu, ru
cho Bác nghe những làn điệu dân ca đậm chất xứ Nghệ... chứa đựng bao thi
tứ trữ tình.
Cũng chính nơi đây, tuổi thơ của Bác đã chứng kiến sự dạy dỗ tận tình
của ông ngoại đối với các học trò của mình, sự tiếp thu những điều hay, ý tốt
của cha mẹ qua những buổi đàm đạo, trao đổi với ông bà ngoại và chính Bác
đã cảm nhận được sự dạy bảo ân cần, chứa đựng những hoài bão đẹp đẽ, lớn
lao của ông bà ngoại đối với người cháu thông minh và ham hiểu biết. Ngôi
nhà gỗ năm gian này là nơi bà Hoàng Thị Loan sinh ra và lớn lên, là lớp học
đầu tiên ươm trồng tài năng của ông Nguyễn Sinh Sắc, là nơi ông bà cụ
Hoàng Đường xây dựng hạnh phúc lứa đôi cho bố mẹ Bác và cũng là nơi ghi
dấu những kỷ niệm êm đẹp trong tuổi ấu thơ của Người.
Chính vì vậy, khi về thăm di tích, Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã xúc động
nói rằng: “ Nếu không có ông bà cụ Hoàng Đường và cụ Nguyễn thị Kép thì
sẽ không có ông Nguyễn Sinh Sắc phó bảng và dĩ nhiên không có Chủ tịch
Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta”.
• Nhà thờ chi nhánh họ Hoàng Xuân
Theo tộc phả để lại, tổ tiên dòng họ Hoàng Xuân ở làng Hoàng Vân,
huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Trong họ Hoàng ở làng Hoàng Vân ngày
trước có nhiều người học giỏi, làm quan to, được phong tước hầu, tước quận
công.
Từ Khoái Châu- Hưng Yên vâng lệnh triều đình, nhiều người con ưu tú
của họ Hoàng đã toả đi nhiều nơi đánh giặc, giữ nước và sinh cơ lập nghiệp,
trong đó có người lấy vợ ở làng Nghĩa Liệt huyện Hưng Nguyên- Nghệ An,
rồi lập ra họ Hoàng tại đây. Đến thế hệ thứ 9 có cụ Hoàng Phác Cần lập ra họ
12
Hoàng ở Hoàng Trù. Năm thế hệ sau có cụ Hoàng Xuân Cẩn (đậu 3 khoa tú
tài) sinh ra cụ Hoàng Đường (còn gọi là Hoàng Xuân Cát) ông ngoại Chủ tịch
Làng Sen (quê nội), nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sống trong thời niên thiếu
(1901 – 1906). Đậu phó bảng khoa thi hội (Tân Sửu – 1901) ông Nguyễn Sinh
Sắc được vua Thành Thái ban biểu “Ân tứ ninh gia”. (Ơn chúa ban cho gia
đình tốt), cờ “Phó bảng phát khoa” và cho hưởng lễ vinh quy bái tổ.
Trước vinh dự lần đầu tiên làng có người đỗ đại khoa, chính quyền và
nhân dân làng Sen đã dựng lên ngôi nhà trên mảnh vườn rộng 4 sào 14 thước
Trung Bộ (tương đương với 2.500 m2), rồi xuống Hoàng Trù mời gia đình
quan Phó bảng về ở. Người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Sinh Thuyết
cũng dỡ ngôi nhà 3 gian đưa sang làm nhà ngang để mừng em công thành
danh toại.
Không gian ở đây tĩnh lặng, yên lành và rợp bóng mát cây xanh. Hai
gian nhà ngoài được dùng để thờ tự và tiếp khách. Biết bao cuộc tao ngộ, bao
lần đàm luận thế sự của các nhà nho yêu nước đầu thế kỷ XX đã diễn ra sôi
nổi, nhiệt thành ở đây. Cũng vì thế mà Nguyễn Tất Thành có cơ hội được tiếp
xúc, được nghe và thấu hiểu nỗi day dứt trăn trở của các bậc tiền bối đi trước.
Gian thứ hai là nơi thờ người vợ thân yêu đã quá cố. Đồ thờ bài trí rất
giản dị như cuộc sống trước đây của bà Loan. Những gian còn lại được dùng
làm nơi nghỉ ngơi, học tập và sinh hoạt của gia đình. Vật dụng trong nhà đơn
sơ, giản dị: một chiếc rương gỗ nhỏ đựng thóc gạo, một tủ đựng ấm chén, bát
đĩa, một đĩa đèn dầu lạc và duy nhất có chiếc chậu đồng nhỏ, chiếc mâm gỗ
sơn, gia đình thường dùng để tiếp khách quý.
Ở nhà ngang có chiếc chum sành đựng nước, một chiếc gáo dừa để múc
nước. Hàng ngày, Nguyễn Tất Thành thường gánh nước từ Giếng Cốc đổ vào
chum để phục vụ cuộc sống sinh hoạt của gia đình.
14
Tháng 5 năm 1906 lần thứ hai triều đình Huế mời ông Phó bảng ra làm
quan, không có lý do trì hoãn, ông đành phải rời quê hương vào Huế nhận
cùng các bạn cùng trăng lứa thường ra ngồi hóng mát dưới gốc cây trên bờ
Giếng Cốc.
Năm 1957 về thăm lần đầu Bác hỏi bà con: “Giếng Cốc nay còn nữa
không?” và Bác nói tiếp “Nước Giếng Cốc trong và ngọt nấu trè xanh và làm
tương ngon nổi tiếng cả vùng”.
Giếng Cốc đã trở thành di tích gắn liền với quãng đời niên thiếu của
Bác trên mảnh đất làng Sen.
• Di tích Lò Rèn Cố Điền
Lò Rèn của cố Hoàng Xuân Luyến ( nhân dân thường gọi là cố Điền )
thân phụ ông Hoàng Xuân Điền ở xóm Phụ Đầm thuộc làng Sen. Cách nhà
ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 100 m về phía Đông. Cố là người thợ
rèn cần mẫn, thật thà, hiền lành và vui tính được nhân dân trong vùng yêu
mến. Cố thường rèn nông cụ như lưỡi cày, cuốc, liềm, hái, dao, rựa.....
Trong thời kỳ sinh sống ở làng Sen, những lúc rỗi rãi, cậu Nguyễn
Sinh Cung thường ra lò rèn chơi. Cậu rất quý trọng Cố Điền và Cố Điền
cũng hết mực yêu thương cậu. Cậu thường giúp Cố thụt bễ, đập đe và đặc
biệt là cậu hay hỏi han, trao đổi, đàm luận với Cố những vấn đề mà nhân
dân thường bàn luận, phê phán. Cũng có lúc cậu mượn dụng cụ Cố Điền, lấy
sắt vụn làm đồ chơi.
Sau năm mươi năm xa cách quê nhà, Bác vẫn không quên những kỷ
niệm xưa. Ngày 16/06/1957 trở về thăm quê lần đầu, khi đi từ nhà mình ra
cổng, Người chỉ tay về phía trước cổng hỏi bà con đi bên cạnh: “Trong này có
lò rèn Cố Điền, mấy lâu nay còn tiếp tục rèn nữa không?”.
Vừa lúc đó ông Hoàng Xuân Điền (con trai Cố Luyến) từ ngõ đi ra. Bác
nói: “Trông ông Điền còn khoẻ, lâu nay có tiếp tục rèn nữa không?”.
16
Ông Điền thưa: “Lâu nay tôi để cho con trai đầu lòng làm”. Bác động
viên thêm: Nên tiếp tục rèn để bà con có nông cụ mà sản xuất.
Sau khi người cha thân yêu bị thực dân Pháp sát hại (1886) Vương
Thúc Quý đã xây ngôi nhà để thờ cha và mở lớp dạy học. Thời niên thiếu
Nguyễn Tất Thành đã có thời gian học tại đây. Thầy Vương dạy học trò
không theo lối sáo mòn tầm chương trích cú mà thường gắn liền với hiện tình
nóng bỏng của đất nước:
“Ái Quốc mạc vong tổ
Ẩm hà đương tư nguyên
Thực quả đương tư thụ
Cựu sỉ dĩ nan vong”.
Dịch ( Yêu nước không quên tổ
Uống nước phải nhớ nguồn
Ăn quả nhớ người trồng cây
Nỗi nhục xưa không quên).
Hàng ngày trước khi giảng bài, thầy thường đốt đèn thắp hương tưởng
nhớ cụ Vương Mậu ngụ ý nhắc nhở học trò noi gương người xưa sẵn sàng xả
thân vì Tổ Quốc. Một lần không may dầu chảy xuống, thầy ra đối thử tài trí
học trò:
“Thắp dầu lên dầu vương ra đế”
Một cậu học trò nhanh nhảu đáp:
“Đốt hương rồi gió quạt bay tàn”
Thầy chê ý chí yếu ớt. Trò Thành xin phép đối là:
“Cưỡi ngựa dong thẳng Tấn lên Đường”.
Vế đối làm thầy Cử rất xúc động bởi ý chí mạnh mẽ của cậu bé mới 11
tuổi. Thầy sớm phát hiện ra năng lực và ý chí hơn người của trò Thành. Từ đó
18
thầy ra sức chăm lo, vun đắp và gửi gắm vào cậu trò yêu những kỳ vọng lớn
lao của mình. Thầy thường cho cậu tiếp xúc với các chí sỹ yêu nước, các nhà
khoa bảng đến đàm đạo tại đây. Thầy Cử Vương thường nhờ Nguyễn Sinh
cảm xúc thiêng liêng về họ tộc đã theo Người suốt hành trình cứu nước. Mãi
tới ngày 16/06/1957 trong dịp về thăm quên lần đầu Bác mới thăm lại nhà thờ
họ và thắp hương tưởng nhớ tổ tiên.
Mùa thu năm 1969 nhân dân ta và bạn bè quốc tế đau thương vĩnh biệt
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dòng họ Nguyễn Sinh càng đau đớn trước sự ra đi của
người con ưu tú nhất. Bà con đã cử một đoàn đại biểu ra Hà Nội dự lễ tang và
lập bàn thờ riêng trong nhà thờ họ để quanh năm hương khói tưởng nhớ
Người và các thành viên trong dòng họ Nguyễn Sinh.
Năm 1991 nhà thờ họ Nguyễn Sinh được xếp hạng là Di tích lịch sử
văn hóa quốc gia.
1.3.5. Di tích nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm
Ngôi nhà cụ Nguyễn Sinh Nhậm – ông nội Chủ tịch Hồ Chí Minh
thuộc xóm Phủ Đầm, làng Sen nay gọi là xóm Sen 3, xã Kim Liên. Cách
nhà ông Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc khoảng 250m về hướng đông, nằm
trong khu vườn rộng 3 sào 5 thước Trung Bộ (tương đương với 1.765 m2).
Cụ Nguyễn Sinh Nhậm, ông nội Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc thế hệ
thứ mười của dòng họ Nguyễn Sinh. Là một nông dân thuần phác nhưng cũng
biết ít nhiều chữ nghĩa, chẳng may sớm goá vợ, cụ ở vậy nuôi con khôn lớn
trưởng thành rồi mới chịu đi bước nữa. Người vợ thứ hai của ông là cụ Hà Thị
Hy- nổi tiếng thông minh hay chữ, giỏi đàn ca và xinh đẹp. Cuộc nhân duyên
huyền diệu này đã sớm đơm hoa kết trái với sự ra đời của người con trai
thông minh Nguyễn Sinh Sắc.
Ngôi nhà này vừa là nơi thờ tự của chi họ, vừa là nơi ghi dấu những kỷ
niệm thiêng liêng về gia đình Bác Hồ.
20
Thuở nhỏ, Nguyễn Tất Thành thường theo cha sang đây thắp hương để
tưởng nhớ ông bà nội.
Đây cũng là nơi dừng chân của cô Nguyễn Thị Thanh và cậu Nguyễn
Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam, Phó Thủ Tướng thường trực Chính
phủ nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam… Ngôi nhà đơn sơ của cụ
Nguyễn Sinh Nhậm chứa đựng nhiều giá trị lịch sử, vì vậy nó trở thành di tích
lịch sử quốc gia năm 1990.
1.3.6. Di tích Núi Chung
Núi Chung tên chữ là Chung Sơn, là một quần thể di tích thắng
cảnh nổi tiếng của quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh. Danh sỹ
Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) đã từng vịnh ngọn núi này:
“Chung sơn tại đỉnh hình vương tự
Kế thế anh hùng vương tử tôn”.
Dịch ( Chữ vương trên đỉnh Chung Sơn tử
Con cháu anh hùng kế tiếp nhau).
Núi Chung đứng thoai thoải một mình giữa vùng lòng chảo Nam Đàn chỉ
cách làng Sen, làng Chùa 1 km.
Thuở nhỏ cậu Nguyễn Tất Thành thường cùng bạn bè lên núi Chung
vãn cảnh và bày ra nhiều trò chơi sáng tạo và vui nhộn. Gò Dăm Sinh vẫn
phảng phất những trận cười trong những cuộc kéo co kịch liệt của đám trẻ
làng Sen mà phần thắng thuộc về phe cậu Nguyễn Tất Thành. Những lùm cây
ở lưng chừng núi là nơi diễn ra các trận đánh giả do cậu Thành đạo diễn, làm
sống dậy trong các bạn nhỏ những trang sử oai hùng của dân tộc.
Sau những trận tập kích, rượt đuổi nhau mệt nhoài, đám trẻ lại thư thái
ngồi trên lưng trâu thả diều với tiếng sáo khoan thai, hít thở không khí trong
lành nơi hương đồng gió nội.
22