Di tích và lễ hội đình làng hạ bì hạ với việc phát triển du lịch văn hóa - Pdf 31

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH
LÀNG HẠ BÌ HẠ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

HÀ NỘI, 2015


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN

NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG

DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH
LÀNG HẠ BÌ HẠ VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HÓA

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. BÙI MINH ĐỨC

HÀ NỘI, 2015

Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hồng Nhung


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề .............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu .................................................................................... 2
5. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 3
6. Phạm vi nghiên cứu ....................................................................................... 3
7. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
8. Đóng góp của khóa luận ................................................................................ 3
9. Bố cục khóa luận ........................................................................................... 3
NỘI DUNG....................................................................................................... 4
CHƢƠNG 1. TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI DI
TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐÌNH LÀNG HẠ BÌ HẠ (HUYỆN THANH THỦYPHÚ THỌ) ....................................................................................................... 4
1.1. Khái quát về xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, Tỉnh Phú Thọ ................. 4
1.1.1. Đặc điểm tự nhiên ................................................................................... 4
1.1.2. Đặc điểm xã hội ...................................................................................... 5
1.2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì
Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ) ................................................................... 7
1.2.1. Truyền thuyết thần tích, thần sắc ............................................................ 7
1.2.2. Di tích đình làng Hạ Bì Hạ.................................................................... 19
1.2.3. Hiện vật trong di tích............................................................................. 20
1.2.4. Diễn trình lễ hội .................................................................................... 21
1.3. Giá trị di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ ............................................. 34

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Huyện Thanh Thủy là một mảnh đất có hệ thống di tích lịch sử, văn hóa
cách mạng vô cùng phong phú và đa dạng, là minh chứng hùng hồn về đời sống văn
hóa giàu bản sắc, cũng như truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của
nguười dân địa phương. Trong đó có di tích đình làng Hạ Bì Hạ thuộc xã Xuân Lộc
là một di sản văn hóa có vai trò quan trọng trong việc lưu giữ và bảo tồn những nét
đẹp truyền thống của dân ta trong việc ghi nhớ công ơn của người anh hùng đã có
công đánh giặc cứu nước. Đồng thời, di tích cũng có ảnh hưởng lớn trong đời sống
tín ngưỡng, tâm linh của nhân dân trong xã Xuân Lộc nói riêng và huyện Thanh
Thủy nói chung.
Di tích đình làng Hạ Bì Hạ là nơi thờ các vị anh hùng có công chống giặc
cứu nước của dân tộc. Đình Hạ Bì mang trong mình những giá trị lịch sử, văn hóa
tâm linh vô cùng đặc sắc. Nó được hòa với không gian lễ hội độc đáo mang tính
truyền thống và gắn với tín ngưỡng bản địa hết sức tự nhiên, nhuần nhĩ đã tạo nên
sức sống tiềm tàng cho di tích.
Những tiềm năng giá trị ấy là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển du lịch,
đặc biệt là du lịch văn hóa.
Song trên thực tế hiện nay việc phát triển du lịch tại di tích và lễ hội đình làng
Hạ Bì Hạ còn rất nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng hiện có của di tích.
1.2. Là một sinh viên ngành Việt Nam học việc nghiên cứu, đánh giá phát triển
du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ một cách cụ thể, có hệ thống sẽ
tích lũy thêm cho mình những kiến thức về lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng,… mà di sản
mang lại. Đồng thời vạch ra những giải pháp cụ thể cho việc giữ gìn, bảo tồn, phát huy
các giá trị di sản nhằm phục vụ việc phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch văn hóa tại di
tích. Đó là việc làm mang lại tính thực tiễn, phù hợp, cần thiết và có ý nghĩa.
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ với việc
phát triển du lịch văn hóa” làm khóa luận tốt nghiệp của mình với mong muốn giới
thiệu, quảng bá và phát triển các tiềm năng du lịch văn hóa tại di tích đình làng Hạ
Bì Hạ nói riêng và huyện Thanh Thủy nói chung.

cụ thể các giá trị lịch sử, văn hóa lễ hội tại di tích di tích lịch sử đình làng Hạ Bì Hạ.
Đồng thời đánh giá thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại di tích như: cơ sở
vật chất, hạ tầng kỹ thuật, doanh thu, nguồn nhân lực, khách du lịch,…

2


Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp thiết yếu nhằm phát triển du lịch văn
hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ.
5. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, khảo sát về tiềm năng, thực trạng du lịch văn hóa tại di
tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
6. Phạm vi nghiên cứu
Du lịch văn hóa tại khu di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì Hạ.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện dựa trên một số các phương pháp như:
- Phương pháp truy vấn thông tin qua Internet;
- Phương pháp điền dã, khảo sát, nghiên cứu thực địa;
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn;
- Phương pháp thư viện;
- Phương pháp liên ngành.
8. Đóng góp của khóa luận
Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá về thực trạng của di tích và lễ hội đình làng Hạ
Bì Hạ, đề tài nhằm đưa ra các giải pháp đẩy mạnh phát triển du lịch văn hóa tại di
tích này.
9. Bố cục khóa luận
Khóa luận gồm 3 phần chính: mở đầu, nội dung và kết luận
Phần 1: MỞ ĐẦU
Phần 2: NỘI DUNG
Trong phần nội dung gồm 3 chương cụ thể như sau:

phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy đều thuận lợi:
* Đường bộ:
Du khách từ Hà Nội lên, qua Sơn Tây đi cầu Trung Hà theo đường quốc lộ
316 (đê sông Đà) đi khoảng 3 km là tới làng Hạ Bì Hạ, xã Xuân Lộc, huyện Thanh
Thủy, tỉnh Phú Thọ. Liền kề phía ngoài đê là cụm di tích đình - đền, nơi hiện đang
phụng thờ vua Hùng Nghị Vương thứ 17 cùng Đức Thánh Tản Viên và thành hoàng
làng Lý Dực Công. Nhìn qua sông Đà về phía Nam, là ngọn núi Ba Vì uy linh soi
bóng; thấp thoáng phía bắc theo đường chim bay chừng ngót hai chục cây số là
trung tâm Nghĩa Lĩnh, cố đô Văn Lang xưa, nơi Vua Hùng lập ra Nhà nước đầu tiên
của cư dân Việt - Mường cổ.

4


Du khách từ Việt Trì lên, qua thị trấn Lâm Thao, qua cầu Phong Châu, tới thị
trấn Hưng Hóa theo chỉ dẫn đi khoảng 7 km tới cầu Trung Hà và đi tiếp khoảng 3
km là tới đình Hạ Bì Hạ.
* Đường thủy:
Du khách đi tàu thủy trên sông Đà tới địa phận thôn Hạ Bì, xã Xuân Lộc lên
bờ đi bộ 100 m tới đình Hạ Bì Hạ.
1.1.1.2. Địa hình
Xuân Lộc là một xã miền núi, vùng chậm lũ của Trung ương thuộc huyện
Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ, nằm gần ven sông Đà, địa hình chủ yếu là đồi núi thấp
xen kẽ đất ruộng và đất bãi thuận lợi cho phát triển nông nghiệp một cách toàn diện.
1.1.1.3. Khí hậu
Khí hậu mang những đặc điểm chung của khí hậu toàn huyện, cũng như
những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc nước ta là khí hậu nhiệt đới ẩm gió
mùa, một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông.
Ngoài những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc, thì vùng cũng có một số
đặc điểm riêng về khí hậu đó là trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt:

Cuối đời Lê, đầu đời Nguyễn, Xuân Lộc thuộc huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây.
Đến năm 1898, Xuân Lộc thuộc tổng Hạ Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Hưng Hóa.
Năm 1903 tỉnh lỵ Hưng Hóa chuyển lên Phú Thọ thì Đào Xá thuộc tổng Hạ
Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thực hiện chủ trương của chính phủ
hợp nhất các làng nhỏ thành xã lớn, xóa bỏ cấp tổng, 5 làng La Hòa, Võng La, Hạ
Bì, Bì Châu và Xuân Dương được hợp nhất thành một xã lấy tên là Xuân Lộc và
mỗi làng cũ thành một thôn. Tên Xuân Lộc có từ đó thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh
Phú Thọ.
Tháng 3 năm 1968, hợp nhất 2 tỉnh Phú Thọ và Vĩnh Phúc thành tỉnh Vĩnh
Phú, thì xã Xuân Lộc thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Tháng 7 năm 1977, huyện Tam Nông và Thanh Thủy sát nhập thành huyện
Tam Thanh, tỉnh Vĩnh Phú.
Tháng 1 năm 1997, tỉnh Phú Thọ được tái lập, xã Xuân Lộc thuộc huyện
Tam Thanh, tỉnh Phú Thọ.
Tháng 9 năm 1999, huyện Tam Thanh được tách làm 2 huyện cũ, xã Xuân
Lộc lúc này thuộc huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.
Dù tên gọi địa danh làng xã thay đổi qua các thời kỳ lịch sử, song vị trí tên
gọi cụm di tích đình làng Hạ Bì Hạ vẫn không thay đổi và có địa chỉ: thôn Hạ Bì, xã
Xuân Lộc, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

6


1.2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại di tích và lễ hội đình làng Hạ Bì
Hạ (huyện Thanh Thủy - Phú Thọ)
1.2.1. Truyền thuyết thần tích, thần sắc
Giữa một vùng đồi núi thấp xen kẽ những cánh ruộng trũng canh tác lúa
nước bao đời, ẩn chứa trong từng gò đống, bờ ao, đại thụ cũng như các ngôi đền,
đình cổ kính là một thế giới huyền thoại, trong đó hư ảo truyền về các biểu tượng

ruột ở phủ Lạng Giang đang bị ốm nặng, trên đường đi bỗng thấy một người con gái
nằm chết bên đường, không người chôn cất. Ông bà vô cùng thương xót không nỡ
bỏ đi, tuy trong người chỉ có 7 đồng bạc tiền tiêu đi đường, nhưng đưa cả cho người
dân địa phương nhờ mua hộ cỗ quan tài chôn cất người xấu số thiệt phận. Xong việc,
ông bà lên đường, đi tới chùa Nhị Thanh thì trời bắt đầu tối, ông bà bèn nghỉ lại trong
chùa. Khoảng nửa canh ba, ông bỗng mơ thấy có người mặc áo trắng, đến trước mặt
ông bảo: “Thiên đình sai ta giáng xuống, triệu ông lên sân rồng” [1, tr.21]. Ông bèn
theo sau, người đó dắt ông đi qua rất nhiều lầu rồng gác phượng, điện ngọc cửa
vàng nơi hoàng thành tầng tầng lớp lớp. Vào đến cửa trời, trèo lên chín bậc thì thấy
Ngọc Hoàng đang ngồi chính giữa bệ ngọc, hàng trăm quan văn võ đứng trầu hai
bên. Long ly quy phượng, lừa ngựa kêu vang thềm dưới. Người mặc áo trắng dẫn
ông đến sân ngoài điện, đã nghe bên trong nội điện sai một viên quan áo mũ chỉnh
tề, từ trong bước ra ngồi xuống long sàng, báo với ông rằng: “Nhà khanh phúc dày,
thấu đến Hoàng thiên. Nay thấy hồn quỷ nữ tâu lên nhà người có thiện tâm, cứu
giúp người bị nạn trên đường, chôn cất người quỷ nữ tránh xương giá thân hình; lại
giúp đỡ nhân dân chữa bệnh, không màng đến tiền tài. Mọi việc ấy Hoàng thiên đều
rõ cả, người có tâm tích thiện tất được báo đáp, nên sai một viên nội các Long quan
giáng xuống trần gian làm con” [2, tr.21]. Nói xong, ông hành lễ bái tạ. Bỗng thấy
một người áo mũ chỉnh tề giơ hai tay ra ôm lấy vai ông. Ông cầm tay dắt về. Đang
mơ bỗng ông tỉnh giấc, biết đó là mộng báo bền đem sự việc kể lại cho Thái bà
nghe. Thái bà vui mừng đáp: “Tâm ông tích thiện thấu đến trời xanh, nên trời ban
phúc giáng mộng, tất phải có sự tốt lành. Vả lại đạo trời khó đoán mà mộng mị
thường biến hóa, chẳng dám phỏng đoán nhiều, đành chờ đợi vậy” [3, tr.21]. Nói
xong, hai vợ chồng ông lại tiếp tục đi thăm người dì ốm. Rồi sau đó trở về quê cũ,
từ đó Thái bà quả nhiên có mang. Đến ngày mùng 8 tháng 3 năm Canh Thân sinh hạ
được một người con trai, trong lúc lâm bồn cả gian phòng bỗng nhiên bừng sáng

8



9


còn nhỏ, trong lòng rất thương mến. Việc này tất do ý trời sắp đặt, cháu hãy theo về
làm con nuôi ta được không?” [8, tr.23]. Ông liền đi theo bà lão ra về đến nhà thì
trời đã khuya; vào khoảng canh ba, lão bà đang thiu thiu ngủ bỗng mơ thấy có hàng
trăm binh mã tiến đến trước mặt báo rằng: “Hôm nay Vương quan đến trú ở nhà lão,
sao dám thất lễ. Vả lại, nhà lão phúc mỏng không xứng được nuôi dưỡng Vương
quan, chớ có coi thường nhận làm con nuôi được đâu” [9, tr.23]. Lão bà giật mình
tỉnh giấc, biết là mộng báo nên không dám có ý giữ ông lại nuôi dưỡng, bèn xin ông
đi tìm nơi khác để sinh sống. Ông từ biệt lão bà lên đường, làm bài thơ rằng:
“Trời đã sinh ta há hư vô,
Mặt mũi thông minh, đúng nam nhi.
Một năm phiêu bạt nên hiểu rõ,
Lợi thời thì tiến, sau sẽ vinh” [10, tr.23].
Ngâm xong bài thơ, ông thẳng tiến tới trang Hạ Bì, huyện Bất Bạt, Phủ Đà
Giang. Thấy một ngôi quán nhỏ bên sông, ông liền vào đó nghỉ chân, làm bài thơ
rằng:
“Dừng chân quán nhỏ ở bên sông,
Bốn bề quang đãng một trời xanh.
Cung sở nơi đây sẽ của ta,
Chẳng người dám nhận đây dân ta” [11, tr.23]
Đêm đó ông vào nghỉ trong quán, dân phường Thủy Kỳ (tức phường
sông) đang cắm sào bên bến (bến Hạ Bì) phía trước quán. Đêm hôm đó thấy trên
quán văng vẳng có tiếng chuông trống réo rắt; người dân phường Thủy Kỳ thấy
phía sau quán có mây ngũ sắc bay trên địa phận ấp nội (tức trang Hạ Bì). Lại thấy
quân lính ở đâu rầm rập tiến vào cùng 4, 5 trăm người chen nhau chạy đến bên quán,
hô to rằng: “Hôm nay Vương quan đến địa phương này, dân chúng (tức trang Hạ Bì)
đang ở nơi đây sao lại vô lễ, không ra đón chào. Vì thế, quân lính nhập vào dân gian
trách lỗi” [12, tr.23]. Nói xong thì tất cả biến mất. Nhân dân vào trong quán xem xét

người tên là Dực Công tuổi mới 22 là thi đỗ Cập Đệ văn võ kiêm toàn, anh hùng đệ
nhất. Nhà vua biết đây chẳng phải người thường, nên có ý gả Đế nữ Đệ thất Tiên
Cung công chúa, cho ông làm Phò mã Đô đốc tướng quân, xưng là người dân gốc Hạ
Bì. Đang mơ màng, bỗng thấy gió thổi mạnh lay động cả thuyền, khiến nhà vua tỉnh
giấc, ngài thầm nghĩ chắc có Thiên sứ báo mộng cho ta. Bèn sai triệu các vị phụ lão

11


trang Hạ Bì đến hỏi: “Dân chúng trong ấp nội, ai tên là Lý Dực Công?” [17, tr.25].
Nhân dân phụ lão tâu: “Đó chính là vị Sư trưởng của dân làng, tên đúng là Dực
Công” [18, tr.25]. Nhà vua truyền gọi đến thi tài. Ông đến bái yết trước thuyền, thấy
ông dung mạo phi thường, hơn hẳn người trần thế, anh tài trí dũng, văn võ kiêm
toàn không người sánh kịp. Ngắm diện mạo y như người trong mộng báo, nhà vua
vô cùng mừng rỡ, ngầm nghĩ ý trời đã định, tất sẽ là vua tôi cha con trong tông tộc,
như cá gặp nước như rồng gặp mây vậy. Ngày hôm sau, nhà vua sai ông theo hầu
trở về kinh đô, triệu gọi Tiên Cung công chúa gả cho ông, ban chức Đô đài đại
tướng quân. Được khoảng 8 năm thì vua Nghị Vương băng hà. Duệ Vương thái tử
lên ngôi trao cho ông chức Giám quốc chính, cho phép trang Hạ Bì làm đất Thang
mộc. Sau đó ông cùng công chúa trở về sửa sang tòa công sở (tức đất Gia Lý), dựng
một tòa ở xứ ấp bến sông (tức nơi quán cũ ông đã trú ngụ trước đây). Xong việc ông
cho mở tiệc lớn ăn mừng (ngày mùng 10 tháng 7) cho mời tất cả phụ lão nhân dân
trong trang đến dự. Ông nói: “Nay cung sở đã xây xong, giao lại cho dân làng trông
nom, để khi ông về chơi làm nơi mở tiệc; sau này sẽ là nơi thờ cúng, tỏ rõ ân tình
Sư đệ, tấm tình hiếu đễ của dân”[19, tr.26]. Ông lại cấp cho một hốt vàng, mua 15
trượng đất bãi để sau này làm ruộng hương hỏa. Phụ lão nhân dân nhất nhất vâng
lệnh. Xong việc, ông cùng công chúa lên xa giá trở về thành đô vào chầu đế diện.
Khi đó, vua Duệ Vương sinh hạ được 20 vị Hoàng tử và 6 nàng công chúa,
nhưng lần lượt đi về cõi tiên, chỉ còn hai công chúa là Đệ nhất Tiên Dung công chúa
gả cho Chử Đồng Tử, quê ở thôn Nội, xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái

cùng mừng rỡ, xuống chiếu triệu hồi Sơn Thánh, Dực Công và các chư tướng khải
hoàn trở về kinh đô. Nhà vua đại khai yến tiệc, khen thưởng công lao công thần
theo thứ bậc khác nhau. Ban cho Dực Công chức Thái Bảo quốc chính. Từ đó vua
tôi hiệp đức, thiên hạ thái bình. Nhà vua thường tuần du đến đảo Sơn Bồng Lĩnh,
tìm chơi nơi dấu Phật vết Tiên; vui với bàn cờ nơi núi cao trăng sáng, thú vị nơi trúc
lĩnh lung tương; nhàn ngắm cảnh thú nhảy chim bay, non xanh nước biếc. Được 2
năm thì Thục vương lại khởi binh phục thù, tấn công nước ta bằng hàng trăm vạn
tinh binh, với 5 đạo quân thủy bộ rầm rộ thẳng tiến vào biên giới, cờ bay rợp trời,
trống chiêng náo động. Một đạo bộ binh đi từ Tuyên Quang, Hưng Hóa, Mai Châu,
Việt Châu, Mộc Châu, Tiến Châu, Đại Man châu, Luân Châu, Tự Long châu, Bảo
Lạc, Ban Bàn, Thủy Vĩ đến Đà Bắc cùng các đạo thủy quân thuyền chiến nghìn

13


chiếc đi từ cửa biển Thần Phù Hoan Châu, Bố Chính châu, Di châu, Kinh Bắc, Lục
Đầu, Bạch Hạc giang,… Thượng thư cáo cấp ngày 5 lần khiến nhà vua vô cùng lo
lắng, vội vàng cho triệu chư tướng họp bàn kế chống giặc. Sơn Thánh hứa hết sức
phò giá, tự chọn tướng tài, thống lĩnh hơn 30 vạn quân đi đánh trừ giặc Thục, chỉ
không quá một ngày thì bình xong giặc, bắt sống tướng giặc, đem giải về kinh đô.
Nhà vua xống chiếu triệu hồi Sơn Thánh, Dực Công và các chư tướng chống giặc
tháng lợi trở về. Dực Công về qua Miếu sở (ngày mùng 7 tháng 4) đại khai yến tiệc
cùng nhân dân (tức trang Hạ Bì), rồi lại cùng Sơn Thánh hội yến ở Cung trong đền
(ngày mùng 7 tháng giêng) thì được tin Tiên Cung công chúa xa giá đến chúc
mừng. Ông làm bài thơ rằng:
“Hoàng thiên đã định nghĩa phu thê
Thề non hẹn biển một lòng trung với nước” [20, tr.27]
Sau đó, lên xa giá trở về kinh đô. Nhà vua sai mở tiệc lớn, ban cho ông mỹ tự
và sắc chỉ (ngày 20 tháng 9), nhân dân làm lễ chúc mừng. Ông liền cho mộ nghĩa
binh ở nơi sở tại (trang Hạ Bì) làm gia thần thủ túc 48 người (trong đó người trang

khó thoát nên công chúa gieo mình xuống sông tự hóa (ngày 12 tháng 9). Bỗng thấy
một con rắn đỏ từ dưới sông bay thẳng lên trời biến mất. Khi ấy, trời đất tối sầm,
sấm chớp nổi lên đùng đùng, mưa to gió lớn khiến quân Thục vô cùng kinh sợ.
Trong nháy mắt, cả dòng sông cuộn sóng ba đào, tung bọt trắng xóa. Nhân dân thấy
vậy, tâu lên nhà vua, lệnh cho nhân dân sở tại lập miếu thờ cúng nơi công chúa đã
hóa (tức bờ sông trang Hạ Bì), cho phép dân trang Hạ Bì được làm dân Hộ nhi thờ
cúng công chúa. Sau này có thơ rằng:
“Tiên Cung nương hỡi, Tiên Cung nương,
Danh thơm truyền mãi dải Đà Giang.
Ngàn năm miếu điện nay còn đó,
Ức niên thờ phụng tại trang Hạ Bì” [22, tr.29]
Sau đó, Dực Công đem quân trở về, đánh một trận lớn chém được hơn 2
nghìn đầu giặc, bắt sống vô số binh mã giải đem về kinh. Nhà vua ban cho ông áo
mũ, sắc chỉ đưa về thờ ở nơi Cung sở (đất Hạ Bì). Nơi công chúa hóa làm chính đền
thờ cúng (hai mùa xuân thu đều sai quan triều về làm tế lễ). Và 19 nơi đền miếu
khác đều về kinh đón sắc chỉ, mỹ tự, áo mũ về thờ vọng. Ngày nhân dân đi đón
rước sắc chỉ, trong 3 ngày trời đất tối tăm u ám, mây bay nước động, khi đón về đến
nơi nhân dân làm lễ tạ thì trời lại trở lại sáng sủa như thường.
15


Phong: Đương cảnh thành hoàng Hùng đoán Hộ quốc Đại vương Nữ Đế Tiên
Cung công chúa (trang Hạ Bì thờ phụng, hai mùa xuân thu quan triều về làm lễ tế).
Trải 349 năm, đất Nam Giao ta thuộc 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần tạo dựng hồng
đồ, (thần) thường cứu nước giúp dân, cho nên được các Đế vương bao phong mỹ tự,
thờ cúng không dứt, cùng hưởng lộc nước. Thật là tốt đẹp lắm thay.
Vào đời vua Đinh Tiên Hoàng, có loạn 12 sứ quân, nhà vua sai quan Thái úy
Nguyễn Đào đem quân đi dẹp loạn, khi đi qua đất hạ bì, thấy điện miếu bên sông
đẹp đẽ huy hoàng, bèn cho quân nghỉ chân vào mật khấn, xin thần phù hộ quộc
chính, dẹp yên giặc loạn sẽ tâu nhà vua bao phong khen thưởng, thờ cúng mãi mãi.

mùng 8 tháng 3 niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572). Do Hàn lâm viện Đông
các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính Phụng soạn.
* Sắc phong 1: Sắc Tự Đức lục niên chính nguyệt thập nhất nhật (ngày 11 tháng
giêng niên hiệu Tự Đức thứ 6 năm 1853)
Phiên âm:
Sắc: “Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần, nguyên tặng: Long huân Phổ
trạch Hoằng hy linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng thần” [23, tr.2]. Hộ quốc tí
dân, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi ưng cảnh mệnh, diến niệm thần hưu. Khả gia
tặng: Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng
thần. Nãi chuẩn hứa Bất Bạt huyện, Hạ Bì Trang y cựu phụng sự. Thần kỳ tương
hữu, bảo ngã lê dân. Khâm tại
Dịch nghĩa:
Sắc ban cho Tam vị Thượng đẳng thần núi Tản Viên. Nguyên tặng là: “Long
huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng thần”. Thần
đã giúp nước cứu dân, tỏ rõ linh ứng. Nay trẫm kế thừa nghiệp lớn, tưởng nhớ đến
công lao của thần, nên gia tặng là: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển
sảng Tuấn tĩnh Thượng đẳng thần”. Cho phép nhân dân trang Hạ Bì, huyện Bất Bạt
được phụng thờ thần như cũ. Thần hãy giúp đỡ, che chở cho dân ta.
Hãy kính nhận lấy.
* Sắc phong 2: Sắc Tự Đức tam thập tam niên, thập nhất nguyệt, nhị thập tứ nhật.
(Ngày 24 tháng 11 năm 1880), niên hiệu Tự Đức thứ 33.
Phiên âm: Sắc chỉ Sơn Tây tỉnh, Bất Bạt huyện, Hạ Bì trang tòng tiền phụng
sự: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn tĩnh Tản Viên Sơn
tam vị thượng đẳng thần” [24, tr.3]. Tiết kinh ban cấp sắc phong, chuẩn kì phụng
sự. Tự Đức tam thập nhất niên chính trị trẫm ngũ tuần đại khánh tiết, kinh ban bảo

17


chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc



phong, chuẩn kỳ phụng sự. Duy Tân nguyên niên phổ quang đại lễ, kính ban bảo
chiếu đàm ân, lễ long đăng trật. Đặc chuẩn hứa y cựu phụng sự, dụng chí quốc
khánh nhi thân tự điển. Khâm tại.
Dịch nghĩa: Sắc chỉ cho dân xã Hạ Bì, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ từ
trước đã phụng thờ Vị: “Long huân Phổ trạch Hoằng hy Hoa linh Hiển sảng Tuấn
tĩnh Dực Bảo Trung hưng Tản Viên sơn Tam vị Thượng đẳng thần”. Từng được ban
cấp tặng sắc, cho phép thờ cúng. Năm Duy Tân thứ 1 (1907) trẫm lên ngôi Hoàng
đế, nên ban chiếu báu, tỏ rõ ân sâu, theo lễ nâng bậc. Đặc biệt cho phép được thờ
cúng như cũ, ghi vào tự điển, để ghi nhớ ngày quốc khánh.
Hãy kính nhận lấy.
Từ đó trở đi, người dân xã Xuân Lộc năm nào cũng mở hội vào ngày sinh
của Lý Dực Công, để tưởng nhớ tới công ơn của vị Thánh làng mình, cùng nhau
nhớ về người anh hùng đã có công giúp dân đánh giặc ngoại xâm, cứu nước.
1.2.2. Di tích đình làng Hạ Bì Hạ
Đình làng Hạ Bì Hạ được khôi phục lại năm 2001 trên nền móng cũ của ngôi
đền thờ Lý Dực Công nằm ngay sát đê sông Đà (nay là đường tỉnh lộ 316). Ngôi
đình được làm quay hướng Tây - Bắc, có kiến trúc kiểu chữ đinh (J), gồm đại bái 3
gian 2 dĩ và một hậu cung. Kiễn trúc đình Hạ Bì hiện nay tuy không đồ sộ, bề thế
như ngôi đình cổ trước kia. Song với kiểu dáng kiến trúc nhà 4 mái lợp ngói âm có
4 đầu đao cong đã làm tăng thêm vẻ đẹp uy nghiêm cho ngôi đình. Cùng với kiến
trúc là nghệ thuật trang trí làm đẹp cho ngôi đình đã được người thợ ngày nay quan
tâm chú ý từ những đầu bẩy, bức cốn nách đến các con chồng, đầu dư, cốn mê đều
được đục chạm những hình rồng, vân mây hoa lá cách điệu và được sơn ta đánh
bóng khiến cho ngôi đình đẹp lộng lẫy.
Về lịch sử xây dựng đình Hạ Bì Hạ: có thể nói rằng đình Hạ Bì được xây
dựng từ rất sớm cùng với sự hình thành làng Hạ Bì. Trải qua những năm tháng
chiến tranh. Do thiên nhiên, lũ lụt tàn phá nên hầu hết các di sản văn hóa của làng
Hạ Bì đã bị hư hỏng cách đây hàng chục năm.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status