CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA
TÂM LINH, CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ
SỰ VẬN DỤNG CÁC LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NÀY CHO VIỆC
PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH Ở QUẢNG TRỊ
1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LOẠI HÌNH DU LỊCH VĂN HÓA TÂM
LINH
1.1. Về văn hóa tâm linh
Một số nhà nhân học, tâm lí học, khoa học xã hội cho rằng yếu tố tâm linh là
một trong 4 thuộc tính của con người, bên cạnh yếu tố sinh học, tâm lý và xã hội.
Đỗ Lai Thúy cũng đã thừa nhận, “con người là một thực thể đa chiều… Đó là bản
chất sinh học, bản chất xã hội và bản chất tâm linh. Ba bản chất này tạo thành
chiều sâu, chiều rộng và chiều cao của con người” [6, tr7]1.
Trong các yếu tố của con người, tâm linh là yếu tố có biểu hiện khá mơ hồ,
không rõ nét, vì vậy rất khó xác định và nắm bắt. Khái niệm tâm linh có nội hàm
phức tạp dẫn đến có nhiều cách hiểu về tâm linh, tuy nhiên, về cơ bản, chúng ta có
thể hiểu “tâm linh” dựa trên từ nguyên của nó.
“Tâm linh” được cấu tạo từ hai chữ “tâm” và “linh”. Tâm hiểu theo hướng
tình cảm là tấm lòng nhân ái, nhưng nếu hiểu theo từ tâm niệm là nghĩ đến thường
xuyên là sự nhắc nhở mình để ghi nhớ và làm theo, tức là tin theo điều đó. Như vậy
tâm trong tâm linh là niềm tin. Còn linh là thiêng trong linh thiêng, thiêng liêng.
Như vậy tâm linh được hiểu khái quát là niềm tin của con người vào sự linh thiêng.
Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “tâm linh” có thể hiểu theo hai hướng:
Hướng thứ nhất là “khả năng biết trước mọi biến cố nào đó sẽ xảy ra theo quan
niệm duy tâm; Hướng thứ hai là “tâm hồn, tinh thần” (thường có tính chất thiêng
liêng).
Tâm linh có sự gắn bó chặt chẽ với tín ngưỡng và niềm tin tôn giáo. Theo
Nguyễn Đăng Duy, tâm linh được hiểu là cái thiêng liêng cao cả trong cuộc sống
đời thường, là niềm tin thiêng liêng trong cuộc sống tôn giáo; cái thiêng liêng cao
cả, niềm tin thiêng liêng ấy được đọng lại ở những biểu tượng, hình ảnh, ý niệm.
1
mối quan hệ giữa Con người và Thần Thánh nằm ở bình diện tâm linh đặc biệt.
Ông viết: “Người theo tín ngưỡng hướng tới Thượng đế cùng với lời cầu nguyện
sùng kính, anh ta tin rằng, Thượng đế sẽ tham dự vào những đau khổ, những ước
nguyện của anh ta, tin rằng, Thượng đế sẽ nghe thấy tiếng nói của anh ta trong lúc
cầu nguyện...”3
Chính vì vậy, tâm linh là một dạng thức của văn hóa và là dạng thức văn hóa
2
/>
3
Tạp chí Nghiên cứu con người số 1 (16), H, 2005, tr. 23.
13
đặc biệt, thể hiện ở chỗ, nó chứa đựng nhiều điều bí ẩn và cao cả, mà con người
muốn tìm hiểu và khám phá. Có thể nói từ khi có xã hội loài người thì đã có xuất
hiện nền văn hóa tâm linh. Nền văn hóa đó tồn tại song song với nền văn hóa đời
thường. Văn hóa tâm linh là mạch ngầm chảy trong lòng nhân loại, nó là chiếc cầu
nối giữa con người và thế giới tự nhiên và ngày nay cùng với sự tiến bộ của loài
người trong lĩnh vực khoa học, văn hóa tâm linh được nhìn nhận dưới góc độ của
ánh sáng khoa học và nền tảng của nó là đạo đức của con người [ .
Văn hoá tâm linh là một mặt hoạt động văn hoá của xã hội con người, được
biểu hiện ra những khía cạnh vật chất hoặc tinh thần, mang những giá trị thiêng
liêng trong cuộc sống thường ngày và trong cuộc sống tín ngưỡng tôn giáo, thể hiện
nhận thức, thái độ của con người. Thể hiện về phương diện giá trị vật chất là những
kiến trúc nghệ thuật, những không gian thiêng liêng như đền đài, đình chùa, miếu
mạo, nhà thờ,...Thể hiện về giá trị văn hoá tinh thần đó là những nghi lễ, những ý
niệm thiêng liêng trong tâm thức con người.
Theo Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005 và có hiệu lực từ
01/01/2006),“Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài
nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải
trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.”6
Đây là hai văn bản pháp lý có ý nghĩa chi phối và áp dụng trên tất cả các lĩnh
vực liên quan đến du lịch tại Việt Nam, ngoài ra còn không ít những định nghĩa mà
trong quá trình nghiên cứu, các chuyên gia đã đưa ra tùy theo góc nhìn và tùy cách
diễn đạt của từng người. Nhìn chung, các định nghĩa đều xoay quanh các vấn đề về
không gian (ra khỏi nơi cư trú của mình), về thời gian (phải kéo dài trong một
khoảng thời gian nhất định), về mục đích (đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải
trí, nghỉ dưỡng),…
Như vậy, có thể hiểu, du lịch là một hoạt động liên quan đến một cá nhân, một
nhóm hay một tổ chức đi ra khỏi nơi cư trú thường xuyên của họ bằng các cuộc
hành trình ngắn ngày hoặc dài ngày ở một nơi khác với mục đích chủ yếu không
phải là kiếm lời. Quá trình đi du lịch của họ được gắn với các hoạt động kinh tế,
các mối quan hệ, hiện tượng ở nơi họ đến.
1.2.2. Nhu cầu du lịch và nhu cầu du lịch tâm linh
1.2.2.1. Nhu cầu du lịch
Từ định nghĩa về du lịch, có thể hiểu nhu cầu du lịch là nhu cầu của con người
đi đến và lưu trú tại một nơi ngoài môi trường thường xuyên của họ nhằm mục đích
nghỉ ngơi, công vụ và các mục đích khác trong một khoảng thời gian nhất định
(không quá một năm). Nhu cầu du lịch gắn liền với nhu cầu tham quan, tìm hiểu,
giải trí, nghỉ dưỡng trong môi trường mà người ta đến. Họ sử dụng và tiêu dùng
5
Pháp lệnh số 11/1999/PL-UBTVQH10 ngày 08/02/1999 của Ủy ban thường vụ quốc hội về du lịch.
Luật số 44/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005 của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về du lịch.
6
nơi lưu trú hay phương tiện vận chuyển cho du khách. Điều này khiến cho khách
cảm thấy an toàn và tăng mức độ muốn đi du lịch nhiều hơn.Như vậy, việc con
người muốn đi du lịch nhằm đến những nơi mà bản thân họ chưa biết, nói như
Dann (1980) là “thích phiêu lưu” hoặc đến những nơi đặc biệt và thuận tiện.
7
/>
8
/>
16
Nhu cầu du lịch được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, là sự cần thiết phải thỏa
mãn nhiều nhu cầu trong cùng một chuyến đi. Vì vậy, trong nhu cầu du lịch, các
chuyên gia về lĩnh vực du lịch đã phân chia thành 3 nhóm bao gồm nhóm nhu cầu
cơ bản (gồm đi lại (vận chuyển), lưu trú, ăn uống), nhóm nhu cầu đặc trưng (nghỉ
ngơi, giải trí, tham quan, tìm hiểu, thưởng thức cái đẹp, tự khẳng định, giao tiếp…)
và nhóm nhu cầu hỗ trợ (thẩm mỹ, làm đẹp, thông tin,…). Các nhóm nhu cầu này
thường được kết hợp lại để đạt nhiều mục đích khác nhau trong cùng một chuyến
đi, và tương ứng với mỗi loại nhu cầu, cần thiết phải có những hoạt động dịch vụ
nhằm đáp ứng và thỏa mãn cho khách du lịch.
1.2.2.2. Nhu cầu du lịch văn hóa tâm linh
Động lực dẫn đến du lịch là mong muốn được trải nghiệm nhiều nền văn hóa
khác nhau và gần gũi với thiên nhiên. Tuy nhiên, ngày nay, khi du lịch và văn hóa
tâm linh là hai nhu cầu ngày càng quen thuộc và cần thiết thì kết hợp giữa hai nhu
cầu này trở nên dễ hiểu và hiển nhiên. Dallen và Gallagher lập luận rằng tôn giáo
và tâm linh vẫn là động cơ phổ biến nhất cho du lịch và nhiều điểm đến du lịch
chính đã phát triển chủ yếu dựa theo sự liên kết của họ với những con người, địa
đến sự bình an, an lạc cho những người xung quanh.9
Nhìn chung, du lịch tâm linh hiện nay được thể hiện trên nhiều cung bậc,
nhiều dạng. Dạng thứ nhất, đó là những hoạt động tham quan, vãn cảnh tại các cơ
sở tôn giáo, tín ngưỡng. Đây là dạng hẹp nhất, chưa thể hiện được ý nghĩa của hoạt
động du lịch này nhưng lại là hoạt động phổ biến nhất hiện nay; Dạng thứ hai được
mở rộng hơn với cách hiểu là tìm đến các địa điểm, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo bên
cạnh tham quan vãn cảnh thì còn để cúng bái, cầu nguyện. Dạng này có mở rộng
hơn nhưng mới chỉ phù hợp với những đối tượng có theo tôn giáo, tín ngưỡng;
Dạng thứ ba có mục đích chính là tìm hiểu các triết lý, giáo pháp khiến cho con
người trầm tĩnh, để tâm hồn thư thái, cải thiện sức khỏe và cảm nhận chính bản
thân mình.
Những dạng thức trên là những cách hiểu rộng - hẹp khác nhau về du lịch văn
hóa tâm linh, đồng thời cũng là những hình thức biểu hiện của du lịch tâm linh.
Nếu hiểu một cách toàn diện thì du lịch tâm linh bao gồm tất cả các dạng thức nói
trên. Đó là loại hình du lịch tham quan, tham dự, tĩnh dưỡng và hoàn thiện cả thể
chất và tinh thần thông qua các hoạt động hòa mình với thiên nhiên, với đất trời,
với giáo pháp để tìm về bản thân.
Du lịch văn hóa tâm linh liên quan, gắn bó chặt chẽ với tôn giáo và tín
ngưỡng. Với tôn giáo, nổi bật lên là hoạt động hành hương. Theo Smith [ , du lịch
và hành hương giống nhau ở chỗ là cùng chia sẻ yêu cầu chủ yếu để thực hiện cuộc
hành trình, chủ yếu là thời gian, nguồn lực tài chính và xử phạt xã hội. Ngày nay,
người ta kết hợp giữa hành hương và du lịch nhằm thực hiện những hành trình đến
những địa điểm thiêng liêng, có ý nghĩa tôn giáo và tín ngưỡng. Du lịch hành
hương là đến thăm những chùa chiền, thánh đường hoặc những thánh tích mà du
9
/>
18
2. CÁC MÔ HÌNH DU LỊCH TÂM LINH TRÊN THẾ GIỚI
Mặc dầu có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch tâm linh, tuy nhiên, có thể
khái quát rằng du lịch tâm linh là loại hình du lịch mà trong đó, du khách được trải
nghiệm, được tìm về với tâm hồn, về bên trong con người mình. Xuất phát từ cách
19
hiểu chung đó, có thể thấy, trên thế giới hiện nay có một số mô hình du lịch tâm
linh như sau:
2.1. Mô hình du lịch tôn giáo (hay mô hình hành hƣơng)
Tín ngưỡng, tôn giáo có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của con
người, vì thế các vùng thánh địa luôn có sức cuốn hút đối với các tín đồ, nguyện
vọng hành hương về các vùng đất thánh linh thiêng là một sự gợi mở cho việc hình
thành nên mô hình du lịch hành hương. Các vùng đất thánh phổ biến ở Trung Quốc
mà du lịch hành hương thường nhắm đến để xác lập vai trò hạt nhân của chuyến du
lịch thường là Khổng Miếu, Khổng Lâm (khu lăng mộ của Khổng Tử) ở Sơn Đông,
nhà thờ Sophia ở Cáp Nhĩ Tân, hang đá Vân Cương ở Sơn Tây, hang đá Mạc Cao
Đôn Hoàng ở Cam Túc, chùa Thiếu Lâm Tung Sơn ở Hà Nam, chùa Huyền Không
ở Sơn Tây, lăng mộ Thành Cát Tư Hãn ở Nội Mông v.v.
Du lịch tôn giáo bản thân nó không phải là du lịch tâm linh nhưng có mối quan
hệ chặt chẽ với du lịch tâm linh. Ở đây, cần có xác định rõ nội hàm của du lịch tôn
giáo, đó là loại hình du lịch tham quan các cơ sở tôn giáo, cụ thể là đến các địa
điểm tôn giáo để tham quan, vãn cảnh, để nghe thuyết pháp,... Với nghĩa như thế
này, có chỉ dừng lại là du lịch tôn giáo, chưa phải là du lịch tâm linh.
Du lịch tôn giáo là du lịch tâm linh với điều kiện là khi đến các cơ sở tôn giáo
đó, con người được trải nghiệm, hướng đến tâm linh. Bởi vì đặc điểm của du lịch
tâm linh là phải “mang tính cá nhân sâu sắc” nhằm tìm kiếm các giá trị tâm linh tốt
đẹp và tìm kiếm chính mình thông qua con đường nội tâm riêng của chính mình.
Khách du lịch tâm linh có mục đích chính là vượt qua các khuôn phép tôn giáo một
cách có ý thức để tìm kiếm các giá trị về tâm linh và các cảm nhận tốt đẹp về con
giống nhau, đó là sự bình an của thể xác và tâm hồn.
Đặc điểm của mô hình:
- Mô hình này khá phổ biến ở các quốc gia trên thế giới. Bởi vì trước hết, nó
gắn bó chặt chẽ với loại hình du lịch khác, nó khá tương tự như du lịch di sản ở chỗ
là đến các cơ sở tôn giáo (chùa chiền, nhà thờ) để tham quan. Đó là hành trình tham
quan các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa, vườn cảnh, hay cảm thụ âm
nhạc… tại các địa điểm tín ngưỡng tôn giáo. Nó hơi thiêng về nhu cầu tìm hiểu văn
hóa - lịch sử, thưởng thức nghệ thuật và cảm giác lĩnh hội tính thần bí tâm linh chỉ
là một phần rất nhỏ.
- Thời lượng dành cho một điểm tham quan thường không kéo dài để dàn trải
cho những điểm tham quan khác trong lịch trình.
- Với mô hình này, độ thẩm thấu về mặt tâm linh của du khách đối với địa
điểm tham quan chủ yếu phụ thuộc sự hứng thú của họ với điểm đến, phụ thuộc
vào niềm tin, sự quan sát, cũng như cảm nhận của từng du khách trong hành trình.
- Mô hình du lịch này đặt du khách vào trong một không gian thấm đẫm tính
tâm linh để mỗi cá nhân tự chiêm nghiệm, cảm nhận tính tâm linh huyền bí, tự tạo
ra cho mình những cảm giác thú vị sau chuyến hành trình.
21
2.2. Mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện tôn giáo
Bên cạnh hành hương, đến tham quan các cơ sở tôn giáo tín ngưỡng thì việc
tham quan, tham dự các sự kiện tôn giáo cũng là một mô hình của du lịch tâm linh.
Bao gồm các hoạt động du lịch liên quan đến phong tục tập quán dân gian, du lịch
lễ hội tôn giáo, du lịch lễ hội và tín ngưỡng dân gian. Mô hình này đặc biệt chú ý
đến hoạt động mang tính thế tục hóa tôn giáo. Phong tục tín ngưỡng dân gian là
một khía cạnh quan trọng của thế tục hóa tôn giáo nên các hoạt động du lịch liên
quan mảng này được chú ý khai thác.
Chẳng hạn ở Côn Minh (Trung Quốc), tận dụng vào thế mạnh đa dân tộc,
hàng năm Cục Du lịch Trung Quốc đều khuyến khích tổ chức các hoạt động lễ tiết
và du lịch thể nghiệm tâm linh. Mô hình này là sản phẩm của sự kết hợp cao độ
giữa hai phương diện tín ngưỡng tôn giáo và du lịch.
Không giống như khách du lịch tôn giáo hay khách du lịch tham gia, tham dự
sự kiện, khách du lịch tâm linh không nhất thiết phải đến cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng
mà có thể đến các điểm du lịch thông thường như nghĩa trang hay đài tưởng niệm
chiến tranh, nơi sinh sống của những người nổi tiếng có ý nghĩa tâm linh và là trải
nghiệm tâm linh đối với nhiều người. Họ có thể đến các danh lam thắng cảnh tự
nhiên, nơi cũng có thể đem lại các trải nghiệm tâm linh. Khách du lịch tâm linh
cũng có thể thử theo những niềm tin, triết lý tôn giáo khác ngoài phạm vi văn hóa
của họ nhằm khám phá chính mình, ví dụ như tín ngưỡng thổ dân Canada hay
Ashrams ở Ấn Độ khi họ muốn tăng cường sức khỏe thể chất, cảm xúc và tinh
thần.
Đặc điểm của mô hình:
- Du lịch tâm linh theo mô hình này thường kết hợp với du lịch sinh thái, du
lịch nghỉ dưỡng.
- Địa điểm để thực hiện du lịch tâm linh theo mô hình này là không gian yên ả,
thanh tịnh, giúp cho con người có được cảm giác thư giãn, thoải mái, có điều kiện
để tìm về con người của mình. Chính vì vậy, du lịch tâm lịnh còn được xem là du
lịch sinh thái tâm linh, là sản phẩm của quá trình kết hợp đầy đủ yếu tố du lịch tâm
linh và yếu tố du lịch nghỉ dưỡng. Thông qua việc tổ chức tham quan các điểm du
lịch sinh thái liên quan đến các yếu tố tôn giáo, tâm linh nhằm hướng đến mục đích
“trong cái không gian thuần khiết của thiên nhiên ấy gợi mở cho du khách hiểu
hơn về tín ngưỡng, tâm linh, hiểu hơn về vẻ đẹp các không gian sinh thái linh
thiêng ấy”.
- So với hai mô hình trên, mô hình thiền là mô hình du lịch tâm linh có khả
năng giúp du khách đạt được mức độ thẩm thấu về tâm linh, đạt được sự cảm nhận
về bản thân, sự an vui… nhiều nhất.
Ở Trung Quốc, các địa điểm hạt nhân thường được ưu tiên đưa vào các tour
tham quan như theo mô hình này khu vườn hoàng gia Hạ Cung, Tứ đại Phật giáo
23
2.4. Mô hình du lịch mua sắm các sản phẩm tâm linh
Bên cạnh những mô hình du lịch trên, trên thế giới còn có một hình thức du
lịch liên quan đến tâm linh nhưng hướng đến việc mua sắm các sản phẩm lưu niệm
mang tính tâm linh, tôn giáo, và các hoạt động vui chơi giải trí liên quan đến tâm
linh, tôn giáo. Tiểu biểu cho hình thức này là ở Trung Quốc. Tại đây, giới làm du
lịch quan niệm mua sắm là một trong sáu yếu tố quan trọng của du lịch, trong một
24
chuyến du lịch hành hương thì việc mua một sản phẩm lưu niệm có ý nghĩa là điều
mà du khách khó có thể tránh khỏi. Có những trường hợp việc mua sắm một sản
phẩm có ý nghĩa tâm linh thậm chí trở thành mục đích chính của chuyến du lịch.
Có những tín đồ không ngại vượt qua một hành trình dài để đến các điểm du lịch
tâm linh, sau đó cung thỉnh các bức tượng đã khai quang, mua pháp khí về thờ tự,
hoặc tìm mua các linh vật, các vật trang sức mang ý nghĩa may mắn, an lành; hoặc
chỉ đơn giản là đến để thưởng thức các món chay của nhà chùa, hay tham dự các
bữa cơm thánh ở các giáo đường…
3. VẬN DỤNG LÍ LUẬN VÀ MÔ HÌNH DU DỊCH TÂM LINH VÀ SỰ
PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH TỈNH QUẢNG TRỊ
3.1. Một số đặc điểm về văn hóa lịch sử tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị là vùng đất mang đậm bản sắc dân tộc và có dấu ấn riêng của mảnh
đất miền Trung “gió Lào - cát trắng” gian truân.
Nơi đây có nhiều lễ hội dân gian truyền thống như lễ hội Cầu Ngư, lễ hội
Rước kiệu Đức Mẹ La Vang, Lễ Vu Lan, Lễ hội Tổ đình Sắc Tứ, lễ hội Chợ đình
Bích La… và các lễ hội cách mạng lịch sử cũng đang được hình thành, phát triển
thể hiện truyền thống như: Thả hoa trên sông Thạch Hãn, Đêm Thành Cổ; Huyền
thoại cõi Trường sơn; lễ hội Thống nhất non sông… Ngoài các lễ hội trên, ở
Quảng Trị còn có các trò chơi dân gian thường diễn ra trong Tết Nguyên Đán như:
Chạy cù, đánh đu, đánh bài chòi, đua ghe, hát bội…; có các di sản văn hóa phi vật
thể độc đáo khác như: Tuồng Chợ Cạn, hò Như Lệ, hát trống quân Triệu Cao,
trong việc xây dựng mô hình du lịch đặc trưng cho Quảng Trị, đặc biệt là du lịch
hồi tưởng, du lịch tâm linh, góp phần thúc đẩy Quảng Trị trở thành một điểm đến
hấp dẫn của khách du lịch trong cả nước.
3.2. Định hƣớng vận dụng
Có thể thấy rằng, nếu so sánh với vùng đất bên cạnh là tỉnh Thừa Thiên - Huế
hay các tỉnh phía Bắc của đất nước thì Quảng Trị không phải là vùng đất tôn giáo.
Tuy nhiên, Quảng Trị có nhiều là vùng đất cách mạng, gắn với yếu tố tâm linh sâu
sắc như nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường Chín… và khu di tích Thành
Cổ. Bên cạnh đó, tỉnh còn có Trung tâm hành hương Đức mẹ La Vang là nơi hành
hương của các tín đồ Công giáo.
Với điều kiện như vậy, trên cơ sở lí luận và các mô hình như đã phân tích ở
trên, thiết nghĩa, nên tập trung thực hiện theo hai mô hình:
- Vận dụng theo mô hình du lịch tôn giáo
+ Du lịch hành hương đối với trường hợp Trung tâm hành hương Đức mẹ La
Vang. La Vang là thánh địa hành hương quan trọng nhất của người Công giáo Việt
Nam. Với lợi thế đó, từ trước đến nay, đây là nơi đã được chú trọng để phát triển
du lịch. Hàng năm có hơn nửa triệu người về hành hương. Thông thường, du khách
đến đây bên cạnh việc hành hương là để cầu xin những ơn lành mà người theo đạo
Công giáo tin rằng Đức Bà sẽ ban ơn như ý.
26
+ Du lịch thờ tự đối với các cơ sở chùa chiềng Phật giáo trên địa bàn tỉnh. Tuy
nhiên, vận dụng theo mô hình này, cần tạo điều kiện hơn nữa cho du khách có điều
kiện để thẩm thấu yếu tố tâm linh, có điều kiện để tìm về chính mình, tìm được sự
an nhiên, bình thản, tươi vui,… sau chuyến đi.
- Vận dụng theo mô hình du lịch tham quan, tham dự sự kiện đối với trường
hợp các di tích lịch sử như nghĩa trang Trường Sơn, nghĩa trang Đường Chín. Theo
mô hình này, du khách sẽ được đưa đến tham quan, tham dự các ngày lễ tưởng
niệm. Không khí của những ngày lễ này là điều kiện để du khách hồi tưởng, hoài
đến bờ biển giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cạnh phía đông bắc là bờ biển tỉnh Quảng
Trị. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 4.745,7 km2 (chiếm tỷ lệ 1,4% diện tích toàn
quốc).
1. TIỀM NĂNG TÀI NGUYÊN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH Ở QUẢNG
TRỊ
Đi lên từ chiến tranh, việc phát triển kinh tế - xã hội của Quảng Trị cũng gặp
không ít khó khăn. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây nền kinh tế của tỉnh đã có
những phát triển, đặc biệt là ngành du lịch. Theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể
thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, trong 9 tháng đầu năm 2014, tổng lượng khách đến
Quảng Trị ước đạt 1.398.000 lượt khách, tăng 28% so với cùng kỳ năm 2013.
Khách nội địa là 1.240.000 lượt (tăng 31% so với cùng kỳ năm 2013) và khách
quốc tế 158.000 lượt (tăng 8% so với cùng kỳ năm 2013). Trong đó, khách lưu trú
tại khách sạn chuyên ngành: 647.567 lượt tăng trên 10% so với cùng kỳ năm 2013.
(Khách nội địa là 565.065lượt, khách quốc tế là 92.035 lượt). Tổng doanh thu kinh
doanh du lịch xã hội 1.009 tỷ đồng (tăng 11% so với năm 2013). Trong đó doanh
thu lưu trú và lữ hành 256 tỷ (tăng 20% so với cùng kỳ năm 2013). Đặc biệt, loại
hình du lịch tham quan di tích lịch sử, hoài niệm, tâm linh, du lịch biển tiếp tục
phát triển, lượng khách nội địa đến tham quan tăng mạnh trong các ngày lễ 30-4,
01-5, ngày Thương binh Liệt sỹ 27-7, đặc biệt dịp lễ kiệu La Vang khách du lịch và
giáo dân hành hương về dự lễ kiệu La Vang rất đông. Sự phát triển du lịch của tỉnh
28
Quảng Trị là do những tiềm năng và thế mạnh của mình, trong đó có những thuận
lợi về giao thông, hệ thống di tích tôn giáo tín ngưỡng và lịch sử cách mạng, cũng
như những lễ hội có liên quan, là điều kiện để du lịch tâm linh ngày càng phát triển.
1.1. Hệ thống giao thông thuận lợi
Quảng Trị nằm ở điểm phát khởi của Quốc lộ 9 (còn gọi là đường 9 - điểm
đầu mối của trục Hành lang kinh tế Đông Tây), đây là con đường thượng đạo
xuyên Trường Sơn ngày xưa và là con đường Xuyên Á ngày nay - con đường lịch
Nông nghiệp đóng vai trò quan trọng, sự phát triển của công nghiệp còn hạn chế.
Chính vì vậy, sự ra đời của Hành lang kinh tế Đông Tây sẽ đem lại lợi ích thiết
thực và lâu dài cho các quốc gia thành viên.
Quảng Trị là một tỉnh nằm trên Hành lang kinh tế Đông Tây là cơ hội thuận
lợi cho Quảng Trị phát triển kinh tế về mọi mặt, đặc biệt là phát triển du lịch - dịch
vụ, đồng thời phát huy được thế mạnh về du lịch văn hóa tâm linh trước sự cạnh
tranh mạnh mẽ của những tỉnh/thành phố trong khu vực.
Với lợi thế này, những tuor du lịch sẽ được hình thành nhằm kết nối giữa
Quảng Bình - Quảng Trị - Huế - Đà Nẵng - Hội An. Đồng thời, thông qua cửa khẩu
Lao Bảo những tuyến du lịch liên kết hai nước Việt - Lào cũng được hình thành và
phát triển.
1.2. Các cơ sở tôn giáo tín ngƣỡng đã hiện diện lâu đời
Quảng Trị không những là mảnh đất chứa đựng trong mình nhiều di tích tín
ngưỡng tôn giáo và lịch sử cách mạng, có giá trị đặc biệt không chỉ của quốc gia
mà để lại dấu ấn trong lòng bè bạn trên thế giới. Những di tích này đã chứng kiến
biết bao thăng trầm của lịch sử dân tộc trên cuộc hành trình tiến về phương Nam
mỡ cõi của các bậc tiền nhân, cũng như trong công cuộc chiến đấu, bảo vệ chủ
quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Ngày nay, những di tích đó là những bằng
chứng trung thực và hào hùng nhất về truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc
ta, là nơi để du khách trong nước và quốc tế đến thăm quan, vãn cảnh, nghiên
cứu,… và còn có ý nghĩa cầu nguyện cho cuộc sống được tốt đẹp hơn và tránh
những rủi ro về mặt tinh thần.
Do đặc điểm về vị trí địa lý cũng như nằm trong dòng chảy lịch sử nên
Quảng Trị là một trong những tỉnh, thành ở khu vực miền Trung có điều kiện trong
mối giao lưu với các vùng, miền trong nước và các quốc gia trên thế giới, nên
Quảng Trị cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập, phát sinh, phát triển của các
luồng văn hóa, tư tưởng và các tôn giáo. Bởi vậy, ở Quảng Trị, những tôn giáo có
nguồn gốc từ phương Đông như: Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; các tôn giáo có
nguồn gốc từ phương Tây như: Công giáo, Tin lành,... đã được du nhập, truyền bá,
ngày càng phát triển và hoạt động ổn định. Sự tồn tại, hoạt động của mỗi tín
triều dùng làm quân hầu. Trong số các quan triều ấy có một vị tăng lục, tức là vị
quan coi về việc truyền bá Phật pháp. Một hôm vị tăng lục đi đâu về, bỗng thấy bản
Ngữ lục của mình sao chép bị người tù binh Chiêm Thành sửa chữa nhiều đoạn.
Ngài thất kinh đem việc ấy tâu vua. Vua liền đòi tên tù binh vào hỏi thì y ứng đối
rất thông, luận về những kinh điển nhà Phật rất xác đáng. Hỏi ra mới biết đó là một
vị thiền sư người Trung Hoa qua Chiêm Thành hành đạo, chẳng may bị bắt làm tù
binh. Vị thiền sư ấy hiệu là Thảo Đường, đệ tử của ngài Tuyết Đậu Minh Giác bên
Trung Hoa.11 Sự hiện diện của Thiền sư Thảo Đường trong hàng ngũ tù binh
Chiêm Thành đã cho biết đạo Phật đã được truyền bá ở vùng đất này lâu rồi.
11
Onishi Kazuhiko. “Câu chuyện nhà sư Phật Triết người Chămpa tại Nhật Bản”. Kỷ yếu Hội thảo: Lịch sử
và triển vọng mối quan hệ Việt Nam - Nhật Bản nhìn từ miền Trung. Đà Nẵng, 2013.
31
Tiếp đến khi phần đất tỉnh Quảng Trị thuộc về Đại Việt (1075), vua Lý Nhân
Tông (trị vì: 1072 - 1127) kêu gọi dân chúng ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ di cư
vào vùng đất mới. Cho đến nay, tuy trong sử sách không nói rõ nhưng chúng ta có
thể đoán biết đạo Phật đã theo gót chân của những lớp di dân đầu tiên ấy vào ba
châu mới, trong đó có châu Ma Linh là nửa phần đất thuộc phía bắc của tỉnh Quảng
Trị ngày nay, vì nước ta dưới triều Lý, các vua rất sùng đạo Phật, nhất là dưới các
triều vua Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông lại có rất nhiều nhà sư chân chính, tu
hành đắc đạo. Giả dụ như trong cuộc Nam tiến này, nếu không có chỉ dụ của vua cử
các nhà sư đi theo đoàn di dân ấy thì chắc có lẽ các thiền sư cũng cử đệ tử của mình
đi theo để lo về việc hoằng pháp, hoặc ít ra trong số quan chức và quân lính đưa
đoàn dân di cư cũng có nhiều người theo đạo Phật, có trình độ học vấn và là cư sĩ
tại gia, không khỏi không lo dựng lên những Niệm Phật Đường làm nơi tụng kinh,
niệm Phật?
nhiệm của tiên thánh là trách nhiệm của mình, giáo lý của Đức Phật là giáo lý của
chính mình ư!”.13
Rõ ràng, khi viết như thế vua Trần Thái Tông đã đưa ra quan điểm của mình
đối với vấn đề vì sao sử dụng Nho giáo như một công cụ để truyền bá Phật giáo,
cho nên dưới đời nhà Trần, Phật giáo nước ta rất hưng thịnh và phát triển mạnh mẽ
không thua kém gì đời nhà Lý. Do đó, đến năm 1307, làn sóng Phật giáo không
khỏi không lan theo làn sóng di dân ấy vào vùng đất Quảng Trị.
Khi nước ta bị nhà Minh (Trung Quốc) xâm lược, do chính sách đồng hóa,
chúng ra lệnh tịch thu hết tất cả các loại sách vở của ta đem về Trung Quốc, trong
đó có các loại kinh sách do các thiền sư biên soạn, cốt làm cho dân ta quên gốc văn
hóa truyền thống của mình để tuân theo văn hóa của kẻ thống trị. Nhưng chúng biết
dân ta mộ đạo Phật và đạo Lão nên chúng cho chở sang các loại kinh kệ, ngữ lục do
các thiền sư Trung Hoa biên soạn và lập ra Tăng cang ty để trông nom việc truyền
bá đạo Phật, cũng như lập ra Đạo kỳ ty để truyền bá đạo Lão. Như vậy, dù ít dù
nhiều thì trong suốt 14 năm nằm dưới ách đô hộ của nhà Minh, dân chúng ở vùng
Thuận Hóa, trong đó có vùng đất Quảng Trị, cũng phần nào đã chịu ảnh hưởng của
chủ trương truyền bá ấy, nghĩa là đạo Phật vẫn được tiếp tục sinh hoạt ở đây.
Đến đời Hậu Lê (1427 - 1789), nước nhà được độc lập nhưng Phật giáo có
phần sút kém hơn so với hai triều Lý, Trần. Vì giai đoạn này, Nho học cực thịnh,
giới trí thức chạy theo cái học khoa cử để được ra làm quan, vinh thân phì gia, xa
dần Phật pháp.
Sau khi vào trấn thủ Thuận Hóa rồi cả hai xứ Thuận, Quảng của Đàng Trong
(1558), từ chúa Nguyễn Hoàng (trị vì: 1569 - 1613) đến các chúa kế nghiệp để
củng cố, giữ vững, lâu dài quyền thống trị của mình, chống lại với chúa Trịnh ở
phía Bắc, các chúa Nguyễn đều ra sức đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, quân
sự, chính trị... Trong đó có cả việc dùng đạo Phật và hết lòng ủng hộ Phật giáo phát
triển bởi Phật giáo vốn rất gần gũi và ảnh hưởng sâu sắc đối với tín ngưỡng dân
gian, nhất là trong cảnh chiến tranh loạn lạc (chiến tranh Trịnh - Nguyễn), cảnh di
dân đến một vùng đất mới với bao khắc nghiệt. Đặc biệt đây phải chăng cũng là
một chủ trương chính trị nhằm củng cố tinh thần và tâm lý của cộng đồng cư dân
cao tăng đức độ được lưu truyền trong sử sách.
Đến nay, hơn một thế kỷ trôi qua, Phật giáo đã hiện diện trên mảnh đất
Quảng Trị và chứng kiến biết bao cuộc đổi thay dâu bể, những hạnh phúc lẫn đau
thương tang tóc mà mảnh đất này hứng chịu trong suốt các cuộc nội chiến dưới thời
nhà nước phong kiến, cũng như cả sau này. Biết bao người đã ngã xuống để mảnh
đất này được hồi sinh, đã biết bao cuộc chia lìa đẫm đầy nước mắt,… Nhưng trong
hang khổ đau đó, Phật giáo vẫn là chỗ dựa tinh thần ấm áp tình thương yêu vô bờ
bến, hướng chúng sinh gạt bỏ Tham - Sân - Si, hướng đến những giá trị tốt đẹp của
con người Chân - Thiện - Mĩ.
14
Chúa Nguyễn Hoàng được dân chúng tôn xưng là chúa Tiên (hiền như Tiên, Bụt). Chúa Phúc Nguyên là
Chúa Sãi (thầy chùa). Chúa Phúc Tần là chúa Hiền (hiền như Bụt). Chúa Phúc Chu, biệt danh là cư sĩ Hưng Long,
pháp hiệu Thiên Túng Đạo nhân. Chúa Phúc Trú, pháp hiệu Vân Tuyền Đạo nhân. Chúa Nguyễn Phúc Thuần pháp
hiệu Khánh Phụ Đạo nhân.
34
Ngày nay trên mảnh đất Quảng Trị, những ngôi chùa được dựng lên từ xưa
có ngôi còn ngôi mất, nhưng đều là chỗ dựa tinh thần của con người tìm về sau
chặng đường dài mệt mỏi lao vào công cuộc mưu sinh.
Một số ngôi chùa tiêu biểu ở Quảng Trị:
* Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang
Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang hiện này thuộc thị trấn Ái Tử, xã Triệu Ái, huyện
Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Chùa được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích
cấp Quốc gia theo Quyết định số 2009/QĐ-BVHTT ngày 15 tháng 11 năm 1991.
Chùa được tạo lập vào những năm niên hiệu Vĩnh Hựu nhà Lê (khoảng 1735
- 1739), ban đầu có tên là Am Tịnh Độ. Năm Kỷ sửu (1739), chúa Võ Vương
Nguyễn Phúc Khoát (1738 - 1765) trong một lần ngự giá ra Quảng Trị, cảm khái
Đến nay, dù không còn một tư liệu thành văn nào cho biết rõ về buổi ban sơ
của chùa Diên Thọ cũng như thời gian tạo dựng, nhưng có thể suy đoán rằng, chùa
Diên Thọ ngày nay ra đời trong khoảng thế kỷ XIV - XV khi cư dân Đại Việt đến
khai phá vùng đất này. Hiện nay, chùa tọa lạc ở thôn 1, làng Diên Sanh, xã Hải
Thọ, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, cách ngã ba Diên Sanh khoảng 4 km.
Căn cứ vào bức hoành phi gắn ở tiền đường ghi ba chữ Hán “Diên Thọ Tự”
với các dòng lạc khoản: “Tuế tại Kỷ mão quý hạ cốc đán” và “Nội lệnh sử ty Huấn
đạo Nguyễn Ngọc Quỳnh pháp danh Liễu Giác, thê Nguyễn Thị Huyền pháp danh
Liễu Diệu phụng cúng”, cùng những lời tương truyền thì chùa được xây dựng từ
thời chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739 - 1765), đến tháng 6 năm Kỷ mão
(1759 ) thì vợ chồng ông Quỳnh cúng bức Hoành phi ấy.
Chùa được xây dựng trên một đồi cát ở phía đông bắc của làng thuộc giáp
An là một trong bốn giáp: An, Bình, Chính, Phước của làng (vì thế chùa Diên Thọ
còn có tên gọi khác là chùa Diên An). Mặt chùa quay về hướng tây trên một khu
đất rộng với diện tích 5000 m2 và có một cảnh quan lý tưởng theo cách nhìn của
phong thủy học: phía trước chùa là ruộng lúa, hồ sen - một vùng đất trũng luôn
luôn có nước bất kể nắng mưa. Đây có lẽ là “minh đường”. Bên trái chùa là đất
rộng trống, bên phải là rú với cây cối um tùm, đằng sau là khu dân cư đông đúc.
Trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, sự tàn phá của thiên nhiên và con
người, chùa đã bị thiệt hại và thay đổi nhiều về không gian và một số kết cấu kiến
trúc vốn có của nó, đặc biệt là trong cuộc đại trùng tu năm 2002. Tuy vậy, chúng ta
cũng không thể phủ nhận rằng, chùa Diên Thọ hiện nay là một trong số ít những
ngôi chùa làng cổ và đẹp nhất, có phong cách kiến trúc Phật giáo tiêu biểu cho
những ngôi chùa làng ở Quảng Trị nói riêng và vùng đất Thuận Hóa nói chung. Đó
là ngôi chùa được xây dựng trên đồi cao, có địa thế phù hợp, kiến trúc lại không
cao vút, hài hòa với cảnh quan bao quanh. Phần trang trí chạm khắc ở đây - nơi các
tay kèo, xà ngang, tôm ấp quả, đố bảng, cửa bản khoa và các hệ thống con nằm,
con đứng có thể được xem là đỉnh cao về nghệ thuật trang trí của một ngôi chùa
làng mà cho đến nay hiếm có một ngôi chùa nào ở Quảng Trị còn giữ được.
36