Đề tài nghiên cứu khoa học
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
GIS ngày nay là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong nhiều hoạt động
kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới thông qua
các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn, phân tích và tích hợp các thông
tin được gắn với một nền hình học (bản đồ) nhất quán trên cơ sở tọa độ
của các dữ liệu đầu vào.
Trong lĩnh vực du lịch, việc kết hợp công nghệ GIS cùng với các
thông tin chi tiết các vùng miền du lịch, các thông tin cần thiết gắn kết
với hệ thống bản đồ tạo ra một hệ thống cho phép người dùng có cái nhìn
trực quan và toàn diện về vùng miền được cung cấp. Việc xây dựng và
phát triển hệ thống tra cứu thông tin trên GIS phục vụ quản lý và khai
thác du lịch trở thành một nhu cầu không thể thiếu được cho phát triển
ngành du lịch.
Quảng Trị - mảnh đất chịu nhiều thiệt hại trong chiến tranh chống
Mỹ, là giới tuyến giữa hai miền Bắc – Nam. Nơi đây hiện còn lưu lại rất
nhiều chiến tích của cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước của quân và
dân Quảng Trị nói riêng và nước nhà nói chung. Bên cạnh đó, đây cũng là
nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc miền Trung. Với nền kinh tế
thuần nông, nền công nghiệp của tỉnh nhà còn hết sức non trẻ. Trong
những năm qua, tỉnh đã có nhiều chính sách, biện pháp hỗ trợ để bảo tồn
và phát triển các ngành nghề truyền thống như dệt, sản xuất ruốc bột, rèn
nghề, rượu, chế biến nước mắm…
Đây là những điều kiện thuận lợi cho khai thác, phát triển du lịch
của tỉnh nhà. Tuy nhiên, trong những năm qua du lịch Quảng Trị phát
triển chưa tương xứng với tiềm năng của mình, do Quảng Trị là một tỉnh
nghèo, hạ tầng cơ sở chậm phát triển, chưa có điều kiện để quảng bá thu
hút khách du lịch. Chính vì vậy, hệ thống GIS được coi là phương tiện
hữu hiệu để quy hoạch và giới thiệu về các làng nghề, các cụm tiểu thủ
1
2
Đề tài nghiên cứu khoa học
` - Về thời gian: Từ tháng 1/2010 đến tháng 12/2010.
5. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.1. Quan điểm lịch sử
Mọi sự vật, hiện tượng đều có nguồn gốc hình thành và quá trình
phát triển xác định. Sự hình thành của các cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề truyền thống không nằm ngoài quy luật đó. Vì vậy,
khi nghiên cứu đối tượng trên cần đặt chúng trong xu hướng chung của
địa phương, trong nước và thế giới. Có như vậy chúng ta mới có cái nhìn
khách quan, đánh giá chính xác và dự báo hướng phát triển một cách
khoa học nhất.
5.1.2. Quan điểm tổng hợp
Đây là quan điểm đặc trưng của khoa học địa lý nên khi nghiên
cứu đề tài cần xác định phạm vi, giới hạn và liên kết lãnh thổ. Trong mỗi
lãnh thổ,các thực thể bên trong tồn tại có mối quan hệ chặt chẽ với các
yếu tíi bên ngoài. Do đó, việc phát triển các cơ sở sản xuất tiểu thủ công
nghiệp và làng nghề truyền thống phục vụ du lịch phải đặt trong mối quan
hệ với các yếu tố môi trường văn hoá, xã hội và các yếu tố tự nhiên, kinh
tế - xã hội về mặt không gian phục vụ phát triển du lịch của địa phương.
5.1.3. Quan điểm hệ thống
Tự nhiên và văn hoá là những hệ thống tổng hợp hoàn chỉnh,
được tạo lập từ các hợp phần khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau. Nghiên cứu cơ cở sản cuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề
truyền thống với tư cách là một tài nguyên du lịch nhân văn trong tổng
thể hệ thống các tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch tỉnh Quảng
Trị.
5.1.4. Quan điểm phát triển bền vững
Quan điểm này ngày càng được áp dụng nhiều trong nghiên cứu
làng nghề truyền thống. Công tác này giúp ta tìm hiểu rõ hơn về lãnh thổ
và đưa ra những kiến nghị, đề xuất khách quan.
4
Đề tài nghiên cứu khoa học
5.1.4. Phương pháp điều tra xã hội học
Để có được thông tin một cách chính xác và khách quan, đề tài đã
tiến hành lập phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp các nghệ nhân, các thợ
thủ công ở các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền
thống đang hoạt động để tìm hiểu về tình hình hoạt động của các cơ sở
sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề truyền thống phục vụ phát
triển du lịch.
5
Đề tài nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1.ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG
ĐẾN SỰ PHÂN BỐ VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN
XUẤT TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP VÀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN
THÔNG Ở TỈNH QUẢNG TRỊ
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
a. Vị trí địa lý
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam.
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế,
phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Đông giáp
biển Đông. Nơi đây có sông Bến Hải - cầu Hiền Lương, giới tuyến chia
cắt hai miền Nam - Bắc Việt Nam trong suốt 20 năm (1954 – 1975). Vị trí
mang tính lịch sử như vậy đã để lại cho Quảng Trị những di tích lịch sử,
địa điểm du lịch mang tính nhân văn cao thu hút khách du lịch.
Tuy với một diện tích không rộng, người không đông nhưng do
nằm ở vị trí chiến lược quan trọng nên Quảng Trị đã và đang giữ vai trò
trọng yếu trong việc bảo vệ và khai thác biển Đông, giao lưu giữa hai
yếu ở các cửa sông như: Cửa Việt, cửa Ô Giang. Ngoài ao hồ tự nhiên ra
phải kể đến ao hồ nhân tạo có được nhờ xây dựng thuỷ lợi, thuỷ điện.
Tổng diện tích ao hồ trên 7000 ha, các hồ chính là: Hồ Thượng Hà
(250ha); Hồ Kinh Môn (300ha) ở huyện Gio Linh; Hồ La Ngà (350ha) ở
Vĩnh Linh; Hồ Tân Đô (500ha) ở huyện Hướng Hoá, và còn có 10 hồ
chứa khác sẽ được quy hoạch diện tích từ 100 - 600ha.
- Nước ngầm trong các tầng trầm tích và phong hóa phát triển các
địa hình núi thấp ven sông. Đây là nguồn cung cấp nước khá quan trọng
cho sản xuất và sinh hoạt. Nước trong tầng đất đỏ phong hóa từ đá bazan
có chất lượng tốt theo các chỉ tiêu hóa học ... Nguồn nước này rất có giá
trị đối với nhân dân vùng miền núi. Hình thức khai thác hiện nay chủ yếu
là các giếng đào theo quy mô hộ gia đình với lưu lượng thấp .
7
Đề tài nghiên cứu khoa học
Sản xuất TTCN và làng nghề thường sử dụng nước tại địa phương
vì vậy với hệ thống sông ngòi dày đặc đã cung cấp một lượng nước đáng
kể cho sản xuất.
c. Khí hậu
Quảng Trị nằm ở phía Nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu
vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu.
Miền khí hậu phía Bắc có mùa đông lạnh và phía Nam nóng ẩm quanh
năm. Ở vùng này khí hậu khắc nghiệt, chịu hậu quả nặng nề của gió Tây
Nam khô nóng, bão, mưa lớn, khí hậu biến động mạnh, thời tiết diễn biến
thất thường. Vì vậy, trong sản xuất và đời sống nhân dân gặp không ít
khó khăn.
Do nằm trọn vẹn trong nội chí tuyến bắc bán cầu, hàng năm có hai
lần mặt trời đi qua đỉnh (tháng V và tháng III), nền bức xạ cao (Cực đại
vào tháng V, cực tiểu vào tháng XII). Tổng lượng cán cân bức xạ cả năm
ở Quảng Trị dao động trong khoảng 70-80 Kcalo/cm
2
C và ở vùng núi thấp 34-35
o
C. Nhiệt độ
thấp nhất trong năm có thể xuống tới 8-10
o
C ở vùng đồng bằng và 3-5
o
C
ở vùng núi cao.
9
Đề tài nghiên cứu khoa học
Hình 1.2. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm 2009
Lượng mưa: Mùa mưa diễn ra từ tháng IX đến tháng I, lượng mưa
khoảng 75-85% tổng lượng mưa cả năm. Các tháng mưa kéo dài, lớn là
tháng IX - XI (khoảng 600 mm). Tháng ít mưa nhất là tháng II - VII (thấp
nhất là 14,1mm/tháng). Tổng lượng mưa cả năm dao động khoảng 2000-
2700 mm, số ngày mưa 130-180 ngày.
Do có nền nhiệt cao và khí hâu khô nóng, tháng mùa hè gấp 2 lần
tháng mùa đông nên đây là điều kiện để sản xuất thuận tiện và bảo quản
10
Đề tài nghiên cứu khoa học
sản phẩm vì đa số hoạt động của các LNTT và CSSX TTCN đa số cần
nhiệt độ cao,… Mặt khác, mùa mưa diễn ra tập trung nên người dân có
thể chủ động được thời gian sản xuất.
d. Sinh vật
Rừng ở Quảng Trị đa dạng và phong phú. Rừng tự nhiên là
101467,76ha, rừng trồng 38832,85 ha. Rừng Quảng Trị chủ yếu là rừng
kín thường xanh, mưa ẩm nhiệt đới với hàng trăm loài thực vật, trong đó
gian lao động. Lực lượng lao động đông nhưng chưa khai thác hết tiềm
năng, phần lao động thất nghiệp ở nông thôn đã bổ sung lực lượng lao
động tại gia cho các gia đình làm nghề truyền thống như đan lát, làm
nón…
b. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật
* Mạng lưới giao thông
- Đường bộ
Mạng lưới đường bộ phát triển tương đối toàn diện với tuyến chính là
quốc lộ 1A dài 75 km đi qua địa bàn tỉnh. Quốc lộ 15, quốc lộ 9 tạo điều
kiện thuận lợi cho giao thông trong tỉnh, đặc biệt là quốc lộ 9 dài 85 km còn
gắn với đường xuyên Á và là cửa ngõ giao thương với Lào, Thái Lan và các
nước lân cận.
Mạng lưới tỉnh lộ có các tuyến đường 7, 8, 64, 68, 70, 74, 76 nối
các vùng ven biển, đồng bằng và trung du miền núi với nhau.
- Đường sắt
Đường sắt Bắc Nam chạy suốt chiều dài của tỉnh. Trong định
hướng phát triển của tỉnh còn có tuyến đường sắt xuyên Á chạy qua cửa
khẩu Lao Bảo nối liền Quảng Trị với các nước Singapore, Thái Lan,
Trung Quốc ...
- Đường thuỷ
Quảng Trị có nhiều thuận lợi cho hệ thống giao thông đường thuỷ,
đặc biệt là 2 tuyến theo sông Mỹ Chánh và sông Bến Hải.
Ngoài ra, Quảng Trị còn có cảng Cửa Việt. Cảng này đang được
đầu tư để nâng công suất từ 200.000 tấn/ năm lên 1.000.000 tấn/năm.
Cảng Đông Hà cũng là 1 cảng lớn và là vệ tinh của cảng Cửa Việt, góp
12
Đề tài nghiên cứu khoa học
phần nâng cao hệ thống chuyên chở hàng hoá bằng đường thuỷ, giao
thương với các tỉnh thành trong cả nước và quốc tế.
- Đường hàng không
số. Từ năm 2005 đến năm 2009 đã xây dựng và phát triển thêm 83,51 km
đường dây điện áp 22 đến 35 KV; 115,72 km đường dây 0,4 KV; 123
trạm biến áp phụ tải với tổng dung lượng 29.786 KVA. Tiến hành đại tu,
cải tạo sửa chữa thường xuyên các đường dây cao hạ thế và các trạm biến
áp, góp phần cải thiện chất lượng điện năng, giảm tổn thất và sự cố lưới
điện,đảm bảo an toàn trong quá trình quản lý vận hành. Công trình thủy
lợi – thủy điện Rào Quán đã vận hành làm tăng thêm năng lực và ổn định
điện của mạng lưới quốc gia đảm bảo cho việc sinh hoạt và sản xuất, kinh
doanh của nhân dân.
* Hệ thống bưu chính viễn thông
Bưu chính viễn thông, thông tin, báo chí được phát triển nhanh
bằng nhiều nguồn lực. Trên toàn tỉnh có 09 bưu điện huyện, thị xã, 33
bưu cục khu vực, 112 bưu điện- văn hoá xã, 44 tổng đài điện thoại, 11
máy điện báo, 110 thiết bị VIBA-VIBA equipment, 15 máy vô tuyến
điện, 100% số xã có điện thoại. Mạng điện thoại vô tuyến đầu tư liên kết
giữa các công ty trong nước và nước ngoài đã phủ sóng hầu hết trên địa
bàn toàn tỉnh đảm bảo cho sự thông suốt thông tin một cách kịp thời. Chất
lượng hoạt động thông tin báo chí ngày càng được nâng lên đáp ứng được
nhu cầu người dân, diện phủ sóng phát thanh đạt trên 90%, truyền hình
đạt trên 70% địa bàn dân cư .
* Hệ thống cấp nước sinh hoạt
Ở địa bàn Quảng Trị những năm qua, Trung tâm nước sinh hoạt và
vệ sinh môi trường nông thôn đã nỗ lực tìm kiếm nguồn vốn, tranh thủ sự
hợp tác của cộng đồng để triển khai các chương trình cấp nước về vùng
nông thôn, đặc biệt ưu tiên vùng núi cao và hay ngập lụt, nơi có nguồn
nước bị chua phèn, nhiễm mặn nên đã nâng tỷ lệ người nông thôn được
14
Đề tài nghiên cứu khoa học
dùng nước sạch lên 307.800 người (bình quân hàng năm, tỷ lệ người nông
thôn được dùng nước sạch tăng 2,64%).
Tổ chức lập quy hoạch chi tiết xây dựng làng nghề, các ngành nghề
nông thôn phù hợp nhằm khai thác, phát huy ngành nghề lợi thế của từng
vùng và địa phương. Tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch các cụm, điểm công
nghiệp làng nghề của các huyện, thị, thành phố trong địa bàn tỉnh để có
định hướng đầu tư phát triển trong thời gian đến một cách cụ thể.
Đồng thời có kế hoạch và quan tâm hỗ trợ kinh phí để bảo tồn và
phát triển các ngành nghề truyền thống; tìm chọn, du nhập những ngành
nghề mới phù hợp với trình độ, năng lực sản xuất của người lao động để
hình thành các làng nghề mới. Xây dựng danh mục ngành nghề ưu tiên
khuyến khích đầu tư ở nông thôn để vận dụng chính sách hỗ trợ và định
hướng kêu gọi thu hút đầu tư. Xây dựng hệ thống tiêu chí để công nhận
làng nghề, nghệ nhân làng nghề…
Thứ hai, về nguồn kinh phí để phát triển các ngành nghề nông
thôn: Cần quan tâm hơn nữa việc hỗ trợ nguồn vốn từ ngân sách để phát
triển các ngành nghề nông thôn; xây dựng cơ sở hạ tầng các cụm, điểm
công nghiệp làng nghề hiện có theo hướng đồng bộ, đồng thời chú trọng
khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng làng
nghề.
Gắn chặt công tác quy hoạch, xây dựng kết cấu hạ tầng với việc
ban hành và thực hiện tốt các chính sách về thu hút đầu tư như mặt bằng
sản xuất, ưu đãi đầu tư, tín dụng, thuế… Chú trọng việc hỗ trợ chính sách
phát triển thị trường; hỗ trợ về thiết kế sản phẩm, lựa chọn và chuyển
giao công nghệ, hỗ trợ xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản các quy
trình, thủ tục hành chính, tạo môi trường thông thoáng trong đầu tư.
Thứ ba, về thu hút kêu gọi đầu tư phát triển ngành nghề nông thôn,
có chính sách kêu gọi các tổ chức, doanh nghiệp về đầu tư xây dựng các
cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn để thu hút lao động tại địa phương.
Ưu tiên phát triển các ngành nghề truyền thống, các ngành nghề khai thác
16
17
Đề tài nghiên cứu khoa học
Tiêu chí công nhận làng nghề
Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động
ngành nghề nông thôn;
Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến
thời điểm đề nghị công nhận;
Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Đối với những làng chưa đạt tiêu chuẩn thứ 1 và 2 của tiêu chí
công nhận làng nghề nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công
nhận theo quy định của Thông tư này thì cũng được công nhận là làng
nghề truyền thống.
1.2.2. Các điều kiện để làng nghề trở thành một làng nghề du lịch
Theo nhóm tác giả GS.TS. Hoàng Văn Châu để làng nghề có thể
thu hút khách du lịch trở thành làng nghề du lịch thì làng nghề phải có
một số điều kiện sau:
- Giá trị văn hóa làng nghề thể hiện thông qua tính truyền thống
của công nghệ và kỹ thuật sản xuất. Đó là kết quả của một quá trình kết
tinh, truyền tải và tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Giá trị lịch sử làng nghề thể hiện thông qua tuổi của các làng
nghề. Các làng nghề phải có tuổi nghề khá cao, sản phẩm thường gắn với
đời sống vật chất và tinh thần cua nhân dân nên lưu giữ cả những yếu tố
tín ngưỡng, phong tục, tập quán của làng nghề. Bởi vậy, các làng nghề
thường gắn với các lễ hội truyền thống, gắn với cảnh quan thiên nhiên
truyền thống của các làng nghề Việt Nam như cây đa, bến nước, dòng
sông, đình làng…
- Động cơ của khách du lịch khi lựa chọn đến các làng nghề là
được tận mắt chứng kiến quy trình sản xuất và mua sắm sản phẩm thủ
công. Ngoài ra, họ muốn tham gia vào đời sống sinh hoạt thường nhật của
làng quê. Qúa trình này đòi hỏi mức độ tham gia của cộng đồng là rất lớn,
Dữ liệu không gian là những mô tả số của hình ảnh bản đồ, chúng
bao gồm toạ độ, quy luật và các ký hiệu dùng để xác định một hình ảnh
19
Đề tài nghiên cứu khoa học
bản đồ cụ thể trên từng bản đồ. Hệ thống thông tin địa lý dùng các số liệu
không gian để tạo ra một bản đồ hay hình ảnh bản đồ trên màn hình hoặc
trên giấy thông qua thiết bị ngoại vi, …
Dữ liệu phi không gian là những diễn tả đặc tính, số lượng, mối
quan hệ của các hình ảnh bản đồ với vị trí địa lý của chúng. Các số liệu
phi không gian được gọi là dữ liệu thuộc tính, chúng liên quan đến vị trí
địa lý hoặc các đối tượng không gian và liên kết chặt chẽ với chúng trong
hệ thống thông tin địa lý thông qua một cơ chế thống nhất chung.
1.3.3. Chức năng của GIS
Một hệ GIS phải đảm bảo được 6 chức năng cơ bản sau:
- Thu thập dữ liệu: Dữ liệu có thể lấy từ rất nhiều nguồn, có thể là
bản đồ giấy, ảnh chụp, bản đồ số…
- Lưu trữ: Dữ liệu có thể được lưu dưới dạng vector hay raster.
- Truy vấn (tìm kiếm): Người dùng có thể truy vấn thông tin đồ
hoạ hiển thị trên bản đồ.
- Phân tích: Đây là chức năng hộ trợ việc ra quyết định của người
dùng. Xác định những tình huống có thể xảy ra khi bản đồ có sự thay đổi.
- Hiển thị: Hiển thị bản đồ.
- Xuất dữ liệu: Hỗ trợ việc kết xuất dữ liệu bản đồ dưới nhiều định
dạng: giấy in, Web, ảnh, file…
20
Đề tài nghiên cứu khoa học
CHƯƠNG 2. HIỆN TRẠNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ
LIỆU GIS VỀ
CÁC CSSX TTCN VÀ LNTT
2.1. HIỆN TRẠNG CÁC CSSX TTCN và LNTT Ở TỈNH QUẢNG
Hiện nay, tình hình sản xuất bông trong nước đang gặp rất nhiều khó
khăn do cây bông đang nằm trong tình trạng thất thế so với các cây trồng
khác như lúa, khoai mì, bắp, đậu ớt, thuốc lá... Thất thế do giá thu mua
thấp, trong khi việc chăm sóc và thu hoạch lại tốn rất nhiều công sức nên
lãi chẳng còn bao nhiêu. Trong khi đó, diện tích trồng bông của làng rất
nhỏ bé chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường mà hầu hết các sản
phẩm bông đều được nhập khẩu. Chính vì thế, ngành trồng bông của làng
Lập Thạch đã không thể tồn tại được trước những sức ép đó.
b. Nghề làm hương Đông Định
Đông Định là một xóm nhỏ thuộc làng Cam Lộ ngày trước và hôm
nay là một thôn của thị trấn Cam Lộ. Tọa lạc vào vị trí thuận lợi: gần chợ
(chợ Phiên Cam Lộ), gần sông, gần rừng nên cư dân trong làng có điều
kiện mở rộng sản xuất, phát triển ngành nghề - nhất là nghề làm hương.
Nguyên liệu để làm nên cây hương là bột hương và bột trèng - đây là
những cây có sẵn ở núi đồi xung quanh láng Đông Định. Khi đã chuẩn bị
sẵn các nguyên liệu thì tiến hành các thao tác làm hương; phương pháp
22
Đề tài nghiên cứu khoa học
làm hết sức thủ công và đơn giản, không đòi hỏi gì nhiều vốn đầu tư cũng
như các thao tác kỹ thuật. Các thành viên trong gia đình đều có thể tham
gia sản xuất, chủ yếu là tận dụng thời gian nông nhàn và nguồn nguyên
liệu sẵ có ở địa phương. Quy mô và cách thức sản xuất đang còn rất nhỏ
bé, manh mún. Hiện tại nghề nghiệp vẫn chưa tại được cơ hội để mở rộng
phát triển, chưa bắt nhịp được với thị trường nên ngày càng teo tóp và tàn
lụi.
c. Nghề quạt giấy của làng Phương Ngạn
Phương Ngạn là một làng cổ của vùng đồng bằng vựa lúa Triệu
Phong; diện tích sản xuất nông nghiệp nhỏ hẹp, nên từ rất xa xưa cư dân
trong làng phài tìm cho mình một kế sinh nhai từ các loại hình nghề
nghiệp. Nghề làm quạt giấy là một nghề thủ công nổi tiếng ở Phương
thành muộn màng hơn so với các làng xã trong vùng nên không có điều
kiện mở rộng sản xuất, nên hình thành rất nhiều nghề phụ trong đó có 2
nghề truyền thống là nghề sản xuất vôi và làm giấy. Nghề sản xuất vôi
hiện còn tồn tại và phát triển thu hút khá đông lực lượng lao động, tạo
được công ăn việc làm và thu nhập cho người nông dân. Nghề làm giấy
bổi truyền thống của làng đã mất hẳn từ hàng chục năm nay - hình ảnh
thân quen còn giữ lại là tên gọi của chiếc cầu bên nách làng: Cầu Phường
Giấy.
e. Nghề dệt chiếu Lâm Xuân
Lâm Xuân là một làng nông nghiệp có số dân đông, diện tích trồng
lúa hạn hẹp. Xưa đây là vùng hoang hóa, đồng đất lầy lội, chua mặn thích
hợp cho việc trồng năn, trồng cói-nguyên liệu chính cho nghề dệt chiếu.
Tuy nghề dệt chiếu không đồng thời xuất hiện cùng với sự ra đời của làng
nhưng đây là nghề được hình thành rất sớm trên vùng đất Quảng Trị và
nó gắn bó với đời sống người dân từ hàng trăm năm.
Nguyên liệu chính là cây cói được khai thác từ các cánh đồng cói
quanh làng. Nguyên liệu thứ hai là cây đay - dùng để tạo các đường sân
của chiếu, được khai thác từ vùng rừng núi miền tây Gio Linh. Khuôn dệt
24
Đề tài nghiên cứu khoa học
cũng hết sức thô sơ và đơn giản. Chất liệu toàn bằng tre gỗ. Quy trình sản
xuất thủ công, tận dụng được mọi thời gian, mọi lứa tuổi trong gia đình
tham gia.
Ngày trước cả làng có hơn 100 khung dệt, với trên 2/3 số hộ làm
nghề, hằng ngày sản xuất ra hơn 300 chiếc chiếu các khổ cung cấp cho cả
vùng.
Hiện tại trước cơn lốc thị trưòng với sự phát triển ồ ạt của các sản phẩm
chiều với nhiều chất liêu khác nhau. Thêm vào đó, sự cạn kiệt về nguyên
liệu, chiếu lâm Xuân không đủ sức cạnh tranh với các mặt hàng chiếu
ngoại vì thể mà nghề chiếu không còn phát triển như xưa, trong làng chỉ