PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn xây dựng và phát triển
dân sinh, kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng.
Trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với sự hội
nhập nền kinh tế toàn cầu thì đất đai ngày càng có giá trị và khan hiếm. Chính
vì lẽ đó mà việc sử dụng đất đúng mục đích, hợp lý, hiệu quả là vấn đề cấp
thiết hiện nay.
Xã Hương Bình nằm ở phía Tây Nam của huyện Hương Trà, là một xã
nông nghiệp miền núi nên cây trồng chủ yếu là cây lâm nghiệp và cây công
nghiệp lâu năm, đặc biệt những năm gần đây thì cây cao su được trồng rất nhiều
trên địa bàn xã và bước đầu cũng đã mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống cho người dân.
Hàng năm có rất nhiều người di cư đến địa bàn xã Hương Bình, nguyên
nhân chủ yếu là vấn đề mở rộng diện tích trồng cao su và đây cũng là hướng giải
quyết chính cho những người dân bản địa. Hiện nay, trên địa bàn xã đang có rất
nhiều chính sách khuyến khích việc phát triển cây cao su như: cấp sổ đỏ cho diện
tích trồng cao su để sử dụng lâu dài, hỗ trợ phân bón, giống cho người trồng cao
su…bên cạnh đó thì giá cao su đang ở mức cao đã làm cho cây cao su trở thành
cây trồng chính trên địa bàn xã.
Cũng bởi vì những lợi ích mang lại như vậy mà diện tích trồng cao su
đang được mở rộng một cách bừa bãi, không có quy hoạch và đánh giá một cách
chính xác nên nó đang ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả và tính bền vững của
người trồng cao su.
Bên cạnh những thuận lợi thì người trồng cao su cũng đang đứng trước
những khó khăn không nhỏ đặc biệt: cây cao su phát triển chậm do trồng trên đất
không phù hợp, bị các loại bệnh như rụng lá vào mùa mưa, xì mủ…giá phân bón
cao, giá cao su lúc cao nhất đạt 14.000 – 15.000đ/kg nhưng những tháng cuối
năm 2008 đầu năm 2009 thì giá cao su giảm mạnh chỉ còn 1.500 - 2.000đ/kg làm
1.2.2 Yêu cầu:
- Nghiên cứu, tìm hiểu được các yêu cầu về sinh thái của cây cao su.
- Thông qua các tài liệu thu thập được, sẽ nắm rõ điều kiện tự nhiên, kinh
tế - xã hội của xã Hương Bình.
- Nắm được công tác đánh giá đất, quy trình chung của các phương pháp
đánh giá đất trên thế giới, đặc biệt là phương pháp đánh giá đất theo FAO.
- Phân tích được các chỉ tiêu cần nghiên cứu như: pH, độ phì, hàm lượng
mùn…có trong đất.
- Sử dụng thành thạo các phần mềm để xây dựng và chồng ghép bản đồ,
trong đó chủ yếu là phần mềm MapInfo 9.0.
- Đề xuất được các giải pháp hợp lý, hiệu quả, khoa học và khả thi để phát
triển cây cao su trên địa bàn xã Hương Bình.
3
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1 Khái niệm đánh giá đất (Land Evaluate – LE)
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về đánh giá đất,
cụ thể như sau:
- Thứ nhất: Đánh giá đất là so sánh, đánh giá khả năng của đất theo từng
khoanh đất dựa vào độ màu mỡ và khả năng sản xuất của đất.
- Theo Sôbôlev: Đánh giá đất đai là học thuyết về sự đánh giá có tính chất
so sánh chất lượng đất của các vùng đất khác nhau mà ở đó thực vật sinh trưởng
và phát triển.
- Theo định nghĩa thứ ba thì: Đánh giá đất đai là sự phân chia có tính chất
chuyên canh về hiệu suất của đất do những dấu hiệu khách quan (khí hậu, thời
tiết, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, hệ động vật tự nhiên…) và thuộc tính của
chính đất đai tạo nên.
- Theo FAO (1976) Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đối chiếu những
tính chất vốn có của vạt / khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà
gồm: một hợp phần đất đai và một hợp phần sử dụng đất đai.
Trong sản xuất nông nghiệp, hợp phần đất đai của hệ thống sử dụng đất là
các đặc tính đất đai của đơn vị bản đồ đất đai như: thời vụ cây trồng, độ dốc,
thành phần cơ giới đất…Hợp phần sử dụng đất của hệ thống sử dụng đất là sự
mô tả loại hình sử dụng đất với các thuộc tính của nó.
* Yếu tố đánh giá đất (Evaluate Factor For Land)
Yếu tố đánh giá đất là các tính chất lý học, hóa học và các dấu hiệu khác
của đất…mà nó tương quan với cây trồng.
Nguồn [ 2 ].
2.1.3 Lịch sử phát triển đánh giá đất trên thế giới:
Như chúng ta đã biết, đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, nó đóng vai
trò rất quan trọng và không thể thay thế trong sản xuất cũng như trong đời sống
của con người. Chính vì vậy, các nghiên cứu về đất trên thế giới xuất hiện khá
sớm. Cách đây hơn bốn nghìn năm, người Trung Quốc đã có sơ đồ thổ nhưỡng
và đã biết sử dụng để làm cơ sở cho việc đánh thuế (NycleC. Brady, 1974).
Trong triết học cổ điển Hy Lạp cũng có đề cập đến sự phân loại đất. Nhưng mãi
5
đến thế kỷ 14 sau công nguyên, việc đánh giá đất mới được đi sâu nghiên cứu và
ứng dụng ở nhiều nước châu Âu. Đến giữa thế kỷ 19, Đôcutraiev đã đưa ra cơ sở
phân hạng đất theo quan điểm phát sinh, từ đó nhiều nhà thổ nhưỡng học trên thế
giới tiếp tục nghiên cứu và đã đưa ra nhiều quan điểm cũng như nhiều phương
pháp đánh giá đất khác nhau.
Ngay từ khi mới hình thành, mỗi quốc gia trên thế giới đều áp dụng những
phương pháp đánh giá đất riêng. Để tìm ra một phương pháp đánh giá đất chung
đồng thời để trao đổi ý kiến, học hỏi kinh nghiệm giữa các nước thì vào năm
1978 một tổ chức thuộc hội đồng chuyên ngành Công nghệ về đất của Hội đồng
khoa học quốc tế ra đời, nhằm giải quyết những hạn chế, khó khăn mà công tác
đánh giá đất trên thế giới thường gặp phải.
Nguồn [ 2 ].
2.1.4 Các luận điểm về đánh giá đất trên thế giới:
cây trồng là do:
+ Trình độ thâm canh khác nhau.
+ Trong quá trình sản xuất, tiềm năng của đất chưa có điều kiện thuận lợi
để biểu hiện cụ thể bằng năng suất.
Nguồn [ 2 ].
c. Luận điểm đánh giá đất của Pháp
Theo Đôlômông, khả năng của đất ảnh hưởng rất lớn đến đặt tính dinh
dưỡng của cây trồng và ở mức độ nhất định, sinh trưởng, phát triển và khả năng
cho năng suất của cây trồng đã thể hiện được tính chất đất.
Theo luận điểm này, có thể lập được một thang năng suất biểu thị tương
quan sơ bộ với đặc tính đất đai và với đánh giá đất theo độ phì đất dựa trên
nguyên tắc thống kê năng suất cây trồng nhiều năm.
Đây là luận điểm đánh giá đất theo độ phì đất. Tuy nhiên, đánh giá đất
theo luận điểm này có một số bất cập sau:
* Không thể chỉ dựa vào một loại cây trồng để làm tiêu chuẩn đánh giá
đất có giá trị mà cần phải thống kê năng suất của các loại cây trồng trong hệ
thống luân canh.
* Đánh giá đất theo năng suất cây trồng ở mức độ nhất định cũng thể hiện
trình độ của người sử dụng đất, bởi vì kết quả tổng hợp của tất cả các biện pháp
kỹ thuật tác động là tiền đề để tăng độ màu mở của đất.
7
* Độ phì nhiêu của đất phụ thuộc nhiều vào hình thái phẫu diện đất, nhưng
độ phì đất chỉ đạt mức độ tối đa khi lượng dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng
đạt mức tối ưu.
Nguồn [ 2 ].
d. Luận điểm đánh giá đất của Anh
Theo Ruanell, nhà thổ nhưỡng học người Anh thì: “Đánh giá đất theo
năng suất cây trồng gặp rất nhiều khó khăn vì năng suất cây trồng biểu hiện cả sự
hiểu biết của người sử dụng đất”. Bởi vậy, đánh giá đất theo năng suất chỉ được
sử dụng để sơ bộ đánh giá độ phì của các loại đất khác nhau.
Nguồn [ 2 ].
9
Loại sử dụng đất
Loại sử dụng đất chủ
yếu hay loại sử dụng đất
cụ thể
Yêu cầu giới hạn
của việc sử dụng
Khảo sát tài nguyên
Đơn vị bản đồ đất đai
Tính chất và chất
lượng đất
So sánh sử dụng đất với
điều kiện đất đai
a. Đối chiếu
b. Tác động môi trường
c. Phân tích kinh tế - xã hội
Phân loại khả năng thích
nghi của đất
KHỞI ĐẦU
a. Mục tiêu
b. Số liệu và giả thiết
c. Lập kế hoạch đánh
giá
Cải tạo đất
Trình bày kết quả
2.1.5 Công tác đánh giá đất ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về đánh giá đất cũng được xuất hiện từ rất
sớm. Người ta tìm thấy các kiến thức về đất liên quan đến cây trồng trong Dư
địa chí của Nguyễn Trãi. Từ thời xa xưa, nông dân ta dựa vào kinh nghiệm
- Đánh giá đất theo định tính – chủ yếu dựa vào sự mô tả và xét đoán.
- Đánh giá đất theo phương pháp thông số.
- Đánh giá đất theo định lượng.
Nguồn [ 2 ].
* Phương pháp đánh giá đất đai theo Đôcutraiev:
Theo Đôcutraiev, đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên của đất là
dựa vào quy luật tương quan giữa các phần tử cấu thành đất, giữa đất và năng
suất cây trồng trên đất đó. Tùy thuộc vào mục đích đặt ra mà có thể lựa chọn
phương pháp đánh giá đất thích hợp cũng như lựa chọn yếu tố, chỉ tiêu và tiêu
chuẩn đánh giá đất trong điều kiện cụ thể của từng quốc gia, vùng lãnh thổ, khu
vực, địa phương.
Đôcutraiev sử dụng độ phì đất là phương pháp duy nhất được thực hiện để
xác định giá trị tương đối của đất.
Nguồn [ 2 ].
* Phương pháp đánh giá đất theo Koetưtrev:
Theo Koetưtrev, đánh giá đất phải dựa trên tính chất hóa học đất, loại đất
phát sinh đặc tính của loại cây trồng trên loại đất mà chúng sinh trưởng, phát
triển, vị trí, độ dày và chất lượng tầng đá mẹ.
Nguồn [ 2 ].
* Đánh giá đất ở Liên Xô (cũ)
Phương pháp này thường được thực hiện theo hai hướng: đánh giá đất
chung và riêng (theo hiệu suất cây ngũ cốc và cây họ đậu). Đơn vị đánh giá đất
là các chủng đất được quy định cho cây có tưới, đất được tiêu úng, đất trồng cây
lâu năm, đất đồng cỏ…
Nguồn [ 2 ].
* Đánh giá đất ở Mỹ:
Ở Mỹ, ứng dụng rộng rãi hai phương pháp đánh giá đất đó là:
- Phương pháp tổng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu
chuẩn và chú ý vào việc phân hạng đất đai cho từng cây trồng chính.
11
- Hoàn thành các bản đồ chuyên đề khác: Kiểm tra và lựa chọn các yếu tố
của các loại bản đồ đơn tính phục vụ lập bản đồ đơn vị đất đai.
12
- Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất: Điều tra, phỏng vấn trực tiếp
nông dân và các cán bộ địa phương về hiệu quả kinh tế sử dụng đất.
- Thu thập các tài liệu và mẫu vật cần thiết khác có liên quan.
* Bước nội nghiệp:
- Xây dựng các loại bản đồ chuyên đề: Bản đồ đất, hiện trạng sử dụng đất,
phân hạng thích nghi và đề xuất sử dụng đất.
- Xử lý và tổng hợp các loại bản đồ chuyên đề khác.
- Xác định chính thức các yếu tố và các chỉ tiêu sử dụng xây dựng bản đồ
đơn vị đất đai và phân hạng thích nghi.
- Xây dựng bản đồ đơn vị đất đai theo phương pháp chồng xếp các bản
đồ chuyên đề.
- Xây dựng bản đồ phân hạng thích nghi và đề xuất sử dụng đất.
- Tổng hợp các số liệu thống kê diện tích và các số liệu về sử dụng đất.
- Viết báo cáo đánh giá đất.
Nguồn [ 6 ].
2.1.7.2 Bộ tài liệu đánh giá đất đai.
* Bản đồ:
- Bản đồ thể hiện kết quả đánh giá đất đai gồm có:
+ Bản đồ đất.
+ Bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
+ Bản đồ đơn vị đất đai.
+ Bản đồ phân hạng thích nghi hiện tại.
+ Bản đồ phân hạng thích nghi tương lai.
+ Bản đồ đề xuất sử dụng.
- Các bản đồ chuyên đề được xây dựng để phục vụ lập bản đồ đánh giá đất
được xây dựng và sử dụng trong quá trình đánh giá đất theo yêu cầu của dự án.
* Tài liệu:
Phương pháp song song
Các bước đánh giá đất theo điều kiện tự nhiên cùng đồng thời với phân
tích các điều kiện kinh tế - xã hội. Ưu điểm của phương pháp này là các nhóm
cán bộ đa ngành cùng làm việc và đưa ra các nhận xét. Phương pháp này thường
được sử dụng để đánh giá đất chi tiết và bán chi tiết.
Nguồn [ 2 ].
14
Sơ đồ 02: Các phương pháp đánh giá đất theo FAO
Nguồn [ 2 ].
15
Tham khảo
ban đầu
Điều tra cơ bản
Phân hạng thích
nghi đất theo
định tính và bán
định lượng
Phân hạng đất
đai theo định
tính
Phân tích kinh
tế - xã hội
Phân hạng thích
nghi đất theo định
tính và định lượng
Quyết định
quy hoạch
Phân tích
kinh tế - xã
hội
* Kinh tế - xã
hội
Nghiên cứu hệ thống
nông nghiệp và canh
tác
* Các đơn vị
bản đồ đất đai
* Các đặc tính
của đơn vị bản
đồ đất đai
Yêu cầu sinh lý của
loại đất được lựa
chọn
Các đặc tính
của đất được
lựa chọn (yếu
tố chẩn đoán )
So sánh, đối chiếu
Thích nghi đất theo yếu tố sinh học
Thích nghi đất theo kinh tế
Đánh giá tác động môi trường
Quy hoạch sử dụng đất
Nghiên cứu tiếp hoặc quyết định
HỘP B
HỘP A
Sơ đồ 04: Mô tả tiến trình kỹ thuật thực hiện đánh giá đất
Nguồn [ 5 ].
17
KHỞI ĐẦU
XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU
- Các bản đồ
gốc
- Số liệu đánh
giá hiệu quả sử
dụng đất
- Tập bản đồ, số
liệu
- Báo cáo kết
quả đánh giá đất
Xây dựng các
bản đồ chính
thức
Sử dụng phần
mềm chuyên
dụng và hệ thống
thông tin địa lý
(GIS )
Hoàn thành
Chuẩn bị
Khảo sát
sơ bộ
Khảo sát
thực địa
Nội nghiệp
Để thực hiện được các nội dung theo tiến trình trên công tác đánh giá đất đai
đều phải tiến hành theo 3 giai đoạn: Chuẩn bị, điều tra dã ngoại và nội nghiệp.
2.1.9 Tổng quan về hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System – GIS).
2.1.9.1 Định nghĩa về GIS.
Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về GIS.
* Định nghĩa của dự án The Geographer’s Craft, Khoa Địa lý,
- Phần mềm tin học.
- Phần cứng tin học.
- Phương pháp (chính sách và cách thức quản lý).
Nguồn [ 3 ].
2.1.9.3 Các chức năng cơ bản của GIS.
Chức năng của GIS được phân chia thành 5 loại sau:
* Thu thập dữ liệu:
Thu thập dữ liệu là tiến trình thu nhận dữ liệu theo khuôn mẫu áp dụng được
cho GIS. Mức độ đơn giản nhất của thu thập dữ liệu là chuyển đổi khuôn mẫu dữ
liệu có sẵn từ các nguồn bên ngoài thành dạng số để sử dụng trong hệ thống.
* Xử lý dữ liệu thô:
Hai khía cạnh chính của xử lý dữ liệu thô bao gồm:
- Phát sinh dữ liệu có cấu trúc tôpô.
- Trường hợp dữ liệu ảnh vệ tinh thì phải phân lớp các đặc trưng trong ảnh
thành các hiện tượng quan tâm.
* Lưu trữ và truy cập dữ liệu:
Chức năng lưu trữ dữ liệu trong GIS liên quan đến tạo lập cơ sở dữ liệu
không gian. Nội dung của cơ sở dữ liệu này có thể bao gồm tổ hợp dữ liệu
vectơ hoặc / và dữ liệu raster, dữ liệu thuộc tính để nhận danh hiện tượng tham
chiếu không gian. Thông thường dữ liệu thuộc tính của GIS trên cơ sở đối
tượng được lưu trong bảng (tệp), chúng chứa chỉ danh duy nhất, tương ứng với
đối tượng không gian.
Để đáp ứng nhu cầu khai thác thông tin trên cơ sở vị trí nên cơ sở dữ liệu
không gian thường bao gồm phương pháp chỉ số không gian đặc biệt. Khai thác
dữ liệu trên cơ sở vị trí hay quan hệ không gian được xem như nền tảng quá
trình xâm nhập cơ sở dữ liệu của hệ thống thông tin địa lý.
19
* Tìm kiếm và phân tích không gian:
Việc thu thập, lưu trữ dữ liệu trong GIS là để nhằm sử dụng vào giải quyết
các vấn đề hay lập quyết định liên quan tới ứng dụng cụ thể. Rất nhiều hệ GIS
0
N (Nguyễn Khoa Chi,
1985). Theo Nguyễn Thị Huệ (1997), phạm vi phân bố của cao su hoang dại chỉ
trong khoảng vĩ độ 5
0
Bắc và Nam.
20
Cây cao su được phát hiện vào cuối thế kỷ XV. Christophe colomb (1451
– 1506) có lẽ là người châu Âu đầu tiên đã tìm thấy và sử dụng nhựa cao su. Mãi
đến thế kỷ XVII mới có những công trình nghiên cứu về cây cao su như: năm
1839 Charler goodycas đã phát minh về chế biến cao su bằng cách sử dụng lưu
huỳnh để cải tiến độ bền và độ đàn hồi của cao su, nhưng đến cuối thế kỷ XIX
cao su mới thực sự trở thành hàng hóa.
Trước năm 1900 cao su thiên nhiên được lấy từ cao su mọc hoang dại
trong rừng ở Braxin và các nước lân cận (C.N.Williams, 1975). Wiclkham
đã chọn lựa những hạt cao su ở Braxin mang đến trồng ở Đông Nam Á
(Mc-Eadvean, 1944). Từ Nam Mỹ cao su phát triển sang vùng Đông Nam
Á, châu Phi và trở lại châu Mỹ, trong đó Đông Nam Á hiện nay là trung
tâm chính cung cấp cao su thiên nhiên trên thế giới.
Sản lượng cao su xuất khẩu trên thế giới vào năm 1900 là 50.000 tấn.
Braxin luôn giữ thế độc quyền về sản phẩm của cây này trong suốt thế kỷ XIX.
Những năm cuối thế kỷ XX, nhờ có sự hỗ trợ của Hiệp hội cao su thế giới
(IRRDB) có hơn 15.800 cây đầu dòng đã được thu thập từ khắp lưu vực sông
Amazon (1974 – 1982) đã làm phong phú thêm nguồn gen phục vụ cho công tác
tạo giống sau này.
Nguồn [ 7], [ 8 ].
* Giá trị của cây cao su:
Sản phẩm chính của cây cao su là mủ cao su (nhựa). Hiện nay, mủ cao su
trở thành 1 trong 4 nguyện liệu chính của ngành công nghiệp thế giới. Nó đứng
sau gang thép, than đá và dầu mỏ. Những sản phẩm được chế biến từ mủ cao su
0
C. Nhiệt độ
quá thấp (< 18
0
C) hay quá cao (> 40
0
C) đều ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây
và gây trở ngại cho quá trình chảy mủ khi khai thác.
* Lượng mưa và độ ẩm không khí:
Cao su thường được trồng trong những vùng có lượng mưa từ 1800 –
2500 mm/năm. Số ngày mưa thích hợp nhất trong năm từ 100 – 150 ngày. Ẩm
độ không khí bình quân thích hợp cho sinh trưởng của cao su là trên 75 %, ẩm độ
không khí còn thể hiện tương quan thuận với dòng chảy mủ khi khai thác
(Nguyễn Năng, 2001).
Cao su là cây có khả năng chịu hạn tốt hơn cà phê và hồ tiêu nên nó
thường được ưu chuộng hơn tại những vùng mà phương tiện tưới và nguồn nước
tưới không có sẵn.
* Ánh sáng:
Cao su là cây ưa sáng. Thời gian và cường độ chiếu sáng trong ngày càng
lớn thì việc sinh tổng hợp được càng nhiều. Ánh sáng còn ảnh hưởng đến khả
năng đề kháng của cây, nhất là tính chống chịu của cây. Số giờ chiếu sáng thích
hợp trong năm bình quân từ 1800 – 2800 giờ / năm.
22
* Gió:
Mức độ gió thích hợp cho cao su là 1 – 2 m/s. Gió lớn thường gây đỗ ngã,
đứt rễ, tác nhân đầu tiên cho các bệnh về thân cành do đó làm giảm mật độ vườn
cây và giảm năng suất mủ. Gió khô như gió lào sẽ làm giảm mức độ sinh trưởng
của cây đáng kể, cụ thể là tăng vanh chậm và kéo dài thời kỳ hình thành 1 tầng lá.
* Đất đai:
- Độ pH.
trong tổng số 6.354,61 ha tổng diện tích đất tự nhiên. Điều này đồng nghĩa với
sự gắn bó chặt chẽ của đời sống dân cư xã với cây cao su - loại cây trồng đang
được coi là “vàng trắng” ở nhiều địa phương trong cả nước. Việc phát triển bền
vững cây trồng này sẽ góp phần lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của xã.
Tuy nhiên đến nay, hầu như chưa có một nghiên cứu cụ thể và sâu sắc nào về
mức độ thích nghi của đất đai trên địa bàn xã đối với cây cao su, do đó đặt ra yêu
cầu cấp thiết là phải tiến hành đánh giá đất, nhằm đánh giá mức độ thích hợp đất
đai của xã đối với cây cao su, qua đó xây dựng bản đồ thích nghi hiện tại của đất
đai đối với cây cao su. Từ bản đồ thích nghi hiện tại và phân tích những tiêu chí
ảnh hưởng trong tương lai, tiến hành xây dựng bản đồ thích nghi tương lai của
đất đai đối với cây cao su.
Những kết quả thu được sẽ góp phần quan trọng trong việc phân bổ diện
tích trồng và phát triển cây cao su, cụ thể: mở rộng diện tích trồng cây cao su
trên vùng đất thích hợp, xây dựng những biện pháp phát triển cây cao su trên
những vùng đất ít thích hợp và tuyệt đối không trồng trên những vùng đất không
thích hợp để tránh những thiệt hại không đáng có cho người trồng cao su, góp
phần phát triển bền vững cây cao su trên địa bàn xã.
24
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Cây cao su và những yêu cầu sinh thái của nó.
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Hương Bình.
- Hiệu quả mang lại từ trồng cao su.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Toàn bộ phạm vi trong địa giới hành chính của xã
Hương Bình, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được nghiên cứu trong khoảng thời gian 18
tuần từ 05/01/2009 đến ngày 09/05/2009.