TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐỖ THỊ NINH
QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA TRẦM VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
HÀ NỘI – 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
ĐỖ THỊ NINH
QUẦN THỂ DI TÍCH CHÙA TRẦM VỚI
VIỆC PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Việt Nam học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
TS. BÙI MINH ĐỨC
HÀ NỘI – 2015
VH - TT
Văn hóa – Thông tin
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 3
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................ 5
7. Bố cục của khóa luận ................................................................................. 5
NỘI DUNG ....................................................................................................... 6
CHƢƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA QUẦN THỂ .......... 6
DI TÍCH CHÙA TRẦM ................................................................................... 6
1.1. Quần thể di tích chùa Trầm ..................................................................... 6
1.1.1. Vị trí địa lý và tên gọi “quần thể di tích chùa Trầm” ....................... 6
1.1.2. Khu chùa Trầm ................................................................................ 7
1.1.3. Khu chùa Hang .............................................................................. 10
1.1.4. Khu chùa Vô Vi .............................................................................. 12
1.1.5. Thắng cảnh núi Trầm - thắng cảnh đẹp bậc nhất xung quanh chùa
Trầm .......................................................................................................... 14
1.2.Đánh giá về các giá trị văn hóa tâm linh, lịch sử, kinh tế của quần thể di
tích chùa Trầm ............................................................................................. 18
1.2.1.Giá trị văn hóa tâm linh ................................................................... 18
1.2.2.Giá trị lịch sử ................................................................................... 22
1.2.3.Giá trị kinh tế ................................................................................... 24
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay phát triển du lịch đang là xu thế chung của các nƣớc trên thế
giới, nhất là đối với những nƣớc giàu tài nguyên du lịch. Du lịch phát triển,
con ngƣời không những đƣợc đáp ứng nhu cầu về vui chơi giải trí, tham quan,
nghỉ dƣỡng mà còn có cơ hội giao lƣu, tự khẳng định mình, mở rộng vốn hiểu
biết về con ngƣời về những nền văn hoá trên thế giới.
Việt Nam đƣợc đánh giá là quốc gia có tài nguyên du lịch phong phú. Có
những tài nguyên đã và đang đƣợc khai thác phát triển du lịch nhƣng cũng có
những tài nguyên đang ở dạng tiềm ẩn cần đƣợc khám phá và đƣa vào sử
dụng.Tài nguyên du lịch nhân văn ở Việt Nam đang là yếu tố hấp dẫn đối với
khách du lịch trong và ngoài nƣớc. Đây cũng chính là thế mạnh để du lịch
Việt Nam phát triển hiệu quả trên nền tảng của một quốc gia giàu truyền
thống chống giặc ngoại xâm, có một nền văn hoá phong phú đậm đà truyền
thống dân tộc.
Đến với Chƣơng Mỹ là đến với mảnh đất có truyền thống văn hiến,
truyền thống lịch sử quật cƣờng chống giặc ngoại xâm , nơi sản sinh ra nhiều
vị danh nhân anh hùng dân tộc nổi tiếng. Vì vậy, đến nay Chƣơng Mỹ vẫn lƣu
giữ nhiều di sản văn hoá phong phú, đặc sắc có giá trị nhƣ những công trình
kiến trúc nghệ thuật, những di tích lịch sử văn hoá, lễ hội truyền thống, những
làng nghề thủ công đặc sắc. Tất cả những di sản đó đã tạo cho Chƣơng Mỹ
một tiềm năng to lớn để phát triển du lịch văn hoá, một xu hƣớng phát triển
du lịch trên thế giới và là định hƣớng phát triển du lịch hiện tại và tƣơng lai ở
nƣớc ta. Chƣơng Mỹ là mảnh đất có nhiều di tích lịch sử văn hóa vô giá.
Trong đó quần thể di tích chùa Trầm thuộc thôn Long Châu, xã Phụng Châu,
huyện Chƣơng mỹ (tỉnh Hà Tây cũ) nay thuộc Thành phố Hà Nội là một di
sản văn hóa có một vai trò quan trọng góp phần tích cực cho sự nghiệp phát
+ Nguyễn Mạnh Thƣờng(chủ biên) (1999), Đình chùa lăng tẩm nổi tiếng
ở Việt Nam, đã giới thiệu các công trình kiến trúc cổ đƣợc xếp hạng cấp quốc
gia trên phạm vi cả nƣớc.
Bên cạnh đó có các tài liệu bổ sung nhƣ các cuốn từ điển: “Địa chỉ tôn
giáo – lễ hội Việt Nam” ( Mai Thanh Hải), xuất bản 2004; “ Từ điển di tích
văn hóa Việt Nam” (Ngô Đức Thọ chủ biên), xuất bản 2003.
Ngoài ra còn có một số công trình nghiên cứu khoa học về địa bàn huyện
Chƣơng Mỹ nói riêng và Hà Tây cũ nay là Thành phố Hà Nội nói chung nhƣ:
+ “ Nghiên cứu phát triển du lịch huyện Chƣơng Mỹ Thành phố Hà Nội”
( Tô Thị Huyền Trang – Khóa luận tốt nghiệp năm 2012).
Các tác phẩm trên đã khai thác dƣới nhiều góc độ: văn hóa, tín
ngƣỡng… Tuy nhiên tìm hiểu hệ thống về “ quần thể di tích Chùa Trầm với
tiềm năng phát triển du lịch ở huyện Chƣơng Mỹ” thì vẫn chƣa có công trình
nào nghiên cứu một cách cụ thể và hệ thống. Song kết quả nghiên cứu của các
nhà khoa học đi trƣớc là những ý kiến gợi mở để sinh viên nghiên cứu hoàn
thành nghiên cứu khóa luận của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quần thể di tích Chùa Trầm - Chƣơng Mỹ nhằm làm khơi
dậy tiếng vang của khu di tích, làm rõ những giá trị nổi bật của quần thể di
tích từ đó mà đánh giá kết qủa khai thác trong hoạt động du lịch, đề xuất
những định hƣớng và giải pháp hữu hiệu để đẩy mạnh việc khai tác du lịch
góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống ngƣời dân địa phƣơng, phát huy giá
trị khu di tích góp phần đƣa ngành du lịch Chƣơng Mỹ phát triển.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Khái quát đƣợc giá trị về tên gọi, giá trị lịch sử, kiến trúc và thực trạng
của quần thể di tích Chùa Trầm. Từ đấy thấy đƣợc tiềm năng du lịch của nó.
tại đây.
4
* Phương pháp thu thập và xử lý số liệu, tài liệu
Đây là phƣơng pháp chủ yếu sử dụng trong quá trình nghiên cứu khoá
luận. Để có đƣợc thông tin đầy đủ về mọi mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, trong
khu vực. Trên cơ sở những tài liệu nhƣ sách báo, tạp chí, bảng báo cáo, mạng
internet Sau đó tiến hành phân tích, xử lý, chọn lọc dữ liệu vào bài viết một
cách phù hợp nhất làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
* Phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê
Phƣơng pháp này có tác dụng hệ thống hoá các giá trị của di tích, cung
cấp cái nhìn khái quát về khi di tích trên các phƣơng diện: kiến trúc, lịch sử,
quy mô, hiện trạng.
6. Đóng góp của khóa luận
- Góp phần đem lại một cái nhìn khá đầy đủ về khu quần thể di tích Chùa
Trầm từ quá khứ, đến hiện tại, khẳng định những giá trị phục vụ cho phát
triển du lịch.
- Những kết quả của việc điều tra nghiên cứu thực trạng hoạt động du
lịch và các giải pháp đƣa ra có thể đƣợc áp dụng một phƣơng diện nào đó,
nhằm thu hút những lƣợng khách, tăng thu nhập và góp phần phát triển kinh
tế văn hoá địa phƣơng.
7. Bố cục của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, khóa luận gồm các
chƣơng sau:
CHƢƠNG 1: TIỀM NĂNG DU LỊCH VĂN HÓA CỦA QUẦN THỂ
DI TÍCH CHÙA TRẦM
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH VĂN HÓA Ở QUẦN THỂ
DI TÍCH CHÙA TRẦM
quần thể di tích chùa Trầm là một địa chỉ văn hóa - lịch sử thu hút ngày càng
nhiều du khách gần xa đến vãn cảnh trong mùa lễ hội cũng nhƣ những dịp
cuối tuần. Không ít câu thơ ngợi ca danh thắng quần thể di tích chùa Trầm:
6
“Nhờ ai tô điểm nên linh tích
Nức tiếng danh thơm núi Lạc Hồng”.
1.1.2. Khu chùa Trầm
1.1.2.1. Nguồn gốc lịch sử
Chùa Trầm (tên chữ là Long Tiên tự) đƣợc xây dựng trên đất sát núi
Trầm, đối diện với núi Bút Kình Thiên (núi này hiện nay đã không còn nữa).
Chùa đƣợc làm vào thời Cảnh Trị (1662-1670). Là một trong bốn ngôi chùa
thiêng đẹp tuyệt xứ Đoài - Hà Nội: chùa Trầm, chùa Thầy, chùa Trăm Gian,
chùa Tây Phƣơng.
Chùa Trầm nguyên bản có là chùa Hang. Chùa Hang đƣợc xây dựng
năm 1536 trong động Long Tiên dƣới chân Tử Trầm Sơn với những pho
tƣợng đá, văn bia khắc trên vách động, trống đá, khánh đá... Tuy nhiên về sau,
năm 1893, khi Thống đốc Hà Đông Hoàng Trọng Phu xin danh thắng này về
quản lý đã cùng Trần Thị Thọ đƣa một phần của chùa Hang lên sƣờn núi xây
dựng lại gọi là chùa Trầm. Ngôi chùa mang tên ngọn núi mà nó dựa vào “Tử
Trầm sơn” có năm ngọn. Tƣơng truyền ngày xƣa, ở trên đỉnh núi này có một
cây trầm rất to, thân cây nhiều ngƣời ôm không xuể, toả hƣơng thơm khắp
vùng. Sau này dù cây không còn nữa nhƣng ngƣời ta vẫn gọi là núi Trầm hay
núi Tử Trầm.
Toàn bộ khu núi Trầm này xƣa kia cũng là nơi vua Lê, chúa Trịnh đặt
hành cung để thƣởng ngoạn cảnh đẹp bởi phong cảnh u nhàn, thanh nhã và đã
cho xây nhiều công trình mà nay vẫn còn dấu tích. Nơi đây khung cảnh kì thú,
xinh đẹp từng đƣợc không ít văn nhân đến thăm và đề thơ. Chùa Trầm nhỏ,
chịu. Trên sân chùa là những tƣợng ghê đá, đại bàng đá đã từ lâu trở thành
những vật linh thiêng. Trên lối vào Tam bảo, có hai con chim và nghê làm
bằng nhũ đá. Bậc thềm trên cùng trạm hình hai con thằn.
8
Kiến trúc chùa Trầm đƣợc xây dựng theo lối kiến trúc hình chữ “Công”
(I). Chùa có nhà chính điện và bái đƣờng song song với nhau, đƣợc nối với
nhau bằng một ngôi nhà thiên hƣơng, nơi các nhà sƣ làm lễ. Có nơi gọi gian
nhà nối chùa bái đƣờng với Phật điện này là ống muống.
Nhà tăng đƣờng
Nhà
Nhà
Chính điện
hành
lang
hành
lang
Nhà Bái đƣờng
Sơ đồ 1 mặt bằng chữ Công của chùa Trầm
(nguồn tƣ liệu điền dã)
Bái đường
Qua cổng vào sân sẽ tới lớp kiến trúc đầu tiên là bái đƣờng ( hay còn gọi
là nhà tiền đƣờng, tiền tế) nhà tiền đƣờng có bậc bƣớc lên là nơi dành cho các
thờ Bà Chúa Liễu Hạnh đƣợc Bộ Văn hóa xếp hạng cấp quốc gia.
1.1.3. Khu chùa Hang
1.1.3.1. Nguồn gốc lịch sử
Chùa Hang (tên chữ là Long Tiên động) đƣợc xây dựng trong động Long
Tiên dƣới chân Tử Trầm Sơn cách chùa chính về bên trái có niên đại Chính
Hòa 17 (1696). Chùa Long Tiên là một ngôi chùa rất độc đáo - chùa trong
hang động cách chùa chính về bên trái.
1.1.3.2. Kiến trúc và những dấu tích trong chùa
Bề ngang cửa hang chỉ hơn 7 mét, chiều cao trên 3 mét nhƣng bên trong
là một hệ thống hang động liên hoàn cao rộng hiếm thấy. Nhờ ánh sáng tự
10
nhiên chiếu qua một số khe nhỏ bên sƣờn núi và trên đỉnh núi, ta có thể chiêm
ngƣỡng vô vàn nhũ đá với nhiều hình thù, màu sắc kỳ lạ nhƣ: mái tóc tiên,
khánh đá, chuông đá, hình rồng, hình chim, hoa sen đá...
Trƣớc động có nhiều cây cao bóng cả, làm tăng thêm vẻ trầm tịch của
chùa. Bên cửa động lại có đài kỷ niệm Tiếng Nói Việt Nam.
Trƣớc hang là một mỏm đá có cây si rễ xoắn trùm lên và một con rùa
đá nổi lên nhƣng cái mai đằng ngoài đƣợc gọt vát đi một mảng tạo thành hình
một cái khánh, trên có một bài minh. Nhƣng cái chân bên kia còn nguyên
móng rất sắc.
Ngay vách đá đối diện cửa chùa Hang là tƣợng thờ Tuyết sơn trong am.
Năm Chính Hoà thứ 17 (1696), vua Lê Huy Tông sai thợ đục tạc 48 pho
tƣợng đá để thờ trong hang động đặt ở hai bên: một là dãy tƣợng thập diêm
vƣơng và một dãy là tƣợng La Hán. Tiếp đến là tƣợng thờ Kim cƣơng có
khánh đá treo bên cạnh và tƣợng Kim cƣơng ngồi trên con sƣ tử tạc bằng khối
đá lớn. Điểm đặc biệt là các bức tƣợng này đều đƣợc tạc bằng đá tinh xảo,
trƣờng tồn qua hàng trăm nay qua. Trong khoảng không gian rộng lớn nhất
Chùa Vô Vi tọa lạc trên một diện tích chỉ trên dƣới năm chục mét vuông.
Đỉnh Vô Vi là một núi đá nhỏ còn gọi là núi con rồng mà Vô Vi đƣợc ví nhƣ
viên ngọc, nằm chênh vênh giữa trời đất là đỉnh núi cao nhất của Tử Trầm
Sơn. Từ đỉnh cao nhất của núi, ta thỏa sức phóng tầm mắt ra bốn phƣơng tám
hƣớng ngắm cảnh đồng quê trù phú một vùng ven sông Đáy.
Đến nay ngôi cổ tự này đã trải qua gần 500 năm tƣợng Phật cũng không
có nhiều nhƣng kiến trúc chùa vẫn còn nguyên nét kiến trúc thế kỷ XVI.
Vì nằm trên đỉnh núi nên chùa không rộng, chỉ chừng hơn 10m2. Chùa
không có qui mô lớn, một ngôi điện thờ Tam Bảo trên cao, lƣng chừng vách
núi có điện thờ Thánh Mẫu mới xây sau này. Trong chùa những hình vẽ kể về
kiếp luôn hồi, về quả báo trong kiếp ngƣời. Những bức vẽ về kiếp luôn hồi
trong đời ngƣời nhằm răn dạy chúng sinh biết sống thiện tránh ác. Ban thờ có
12
bốn chân cột chạm khắc hoa lửa hóa long thờ A di đà và Quán Thế Âm. Bƣớc
lên mấy chục bậc đá, ở một chặng dừng nghỉ, ta bắt gặp tấm bia đá lớn phía
bên trái, khắc bài thơ của Trần Văn Tăng viết bằng chữ Nôm: Trùng phảng
Vô Vi Tự (Thăm lại chùa Vô Vi):
“Sơn Đông chi bằng Vô Vi phật tự
Thùy kỳ huyền sƣ đạo sĩ
Bên này Thiên Trúc nọ Bồng Lai
Đem cảnh thanh u đặt giữa trời
Trang điểm đã nhờ ơn đạo sĩ
Độ đời còn độ Đức Nhƣ Lai
Mƣợn nền đá phẳng đề dăm bận
Sẵn quả chuông kêu đấm mấy hồi
Cảnh vị vị ngƣời, ngƣời lai lại
Đã vô vi khéo cũng lôi thôi”.
1.1.5. Thắng cảnh núi Trầm - thắng cảnh đẹp bậc nhất xung quanh chùa
Trầm
Nguyên xƣa Tử Trầm sơn gồm 5 đỉnh lớn nhƣ 5 con phƣợng hoàng
khổng lồ nhô đầu lên, vì vậy còn gọi là Ngũ Nhạc sơn. Đến thời Lý - Trần,
đổi tên theo truyền thuyết là Tử Trầm sơn.
Ngày xƣa trên trời cao có một ngôi sao màu đỏ tía xuống khắp trần gian,
làm cho đâu đâu cũng sáng sủa vui vẻ. Thế rồi, một ngày kia, sao đâm sầm
xuống đất, hoá thành năm ngọn núi đá lớn, đó là Tử Trầm Sơn, tên tự là ngũ
Nhạc Sơn. Núi trầm là một núi đá lớn. Từ xa nhìn núi có năm ngọn giống
năm con Phƣợng Hoàng từ trên trời sà xuống đất, đang nhô đầu lên cao. Nằm
giữa một vùng đồng bằng trù phú, núi Tử Trầm là một món quà qúy của thiên
nhiên ban tặng cho con ngƣời, đứng trên đỉnh núi có thể nhìn thấy bức tranh
nƣớc non hữu tình đã hiện ra với dải núi xanh biếc uốn lƣợn theo sông, toàn
cảnh vùng đất So Sở và các danh thắng kề cận nhƣ chùa Vô Vi, chùa Trăm
14
Gian ... Năm 1516, vua Lê Chiêu Tông đã cho dựng hành cung rồi sai đào
sông, khai suối quanh núi để du ngoạn mỗi khi nhàn rỗi.
Dãy núi Trầm có hang động kỳ thú gọi là động Long Tiên rộng và đẹp,
Long Tiên động là thắng cảnh bậc nhất ở Tử Trầm Sơn. Thời Lê và thời
Nguyễn đều biết dựa vào địa hình đẹp và thơ mộng để xây dựng danh lam cổ
tích. Long Tiên động có lỗ thông thoáng từ trên đỉnh núi chiếu sáng tự nhiên
vào các pho tƣợng phật tạo nên không gian ba chiều huyền ảo. Phía trên của
hang đƣợc khắc ba chữ Hán khá to "Long Tiên động". Cửa động rất rộng, làm
cho bề cao nhƣ bị kéo xuống hơi thấp mặc dù mái đá còn cao hơn đầu ngƣời
đứng rất nhiều. Động có thể chứa hàng ngàn ngƣời. Vách động phía bên trái
bằng phẳng, cao. Các tao nhân, mặc khách xƣa đã cho khắc tại đây 15 bài thơ
Hán và một bài Nôm để nói lên tình cảm của mình với núi non, phong cảnh ở
Núi Bút, núi Vô Vi, núi Cung là ba hòn núi nhỏ, nằm chìa ra ngoài cánh
đồng, cách khối núi Trầm chỉ vài trăm mét. Núi Cung và núi Bút liền nhau.
Trƣớc kia ở đây có một khối đã khổng lồ dựng đứng lên trời mà ngƣời xƣa
gọi là Kình Thiên bút tức bút chống trời. Gần đây, do phá đá, bút Kình Thiên
đã đổ sập. Hàng ngàn tấn đá từ trên cao đổ sập ầm ầm. Các khối đá đổ hiện
còn nhiều ở chân núi, nơi có những thửa ruộng sâu. Vòng theo ngọn Phƣợng
Hoàng ta qua hang Bảy Cửa. Hang này ngóc ngách, đi sâu vào trong không
biết bao nhiêu đƣờng. Qua hang Bảy Cửa một đoạn, có đƣờng lên Bến Tám.
Xƣa kia, mỗi lần về chơi vùng Trầm, vua chúa thƣờng lên núi tắm tại một nơi
nƣớc trong núi đọng thành hồ nhỏ trong suốt. Hồ nƣớc này nay đã cạn.
Đi tiếp về đầu xóm San, ta gặp hang Sƣ. Hang Sƣ là một hang lớn, cửa
hang rộng và cao, nên hang rất sáng. Phía ngoài hang Sƣ nền đất hơi cao, phía
trong nền hang hơi thấp và trần hang phía trong cũng thấp dần xuống. Hang
Sƣ đã sáng và khô ráo, mƣa gió và nƣớc không thể tràn vào.
Rời hang Sƣ di tiếp theo chân núi, ta đến hang Nƣớc. Bên ngoài hang
Nƣớc cũng to, rộng và sáng nhƣng đi sâu vào cuối hang, trần hang thấp
16
xuống, nên hang sâu xuống thành một bậc hang thứ hai sâu hơn ngoài cửa
hang và phía dƣới có nƣớc. Nƣớc ở hang thông với những hang động ở trong
núi nên không bao giờ cạn. Tƣơng truyền hang này thông với hồ bán nguyệt ở
chân đền Mẫu Thƣợng và cá từ đây đi qua núi sang hồ.
Giữa ba ngọn núi trên cao, có một chỗ bằng phẳng rất rộng. Có một
ngách động rất đặc biệt đƣợc ngƣời dân gọi là “thung lũng tình yêu”, hẹp, dài
và trắc trở nhƣ những thử thách cho những đôi yêu nhau chinh phục. Ngƣời ta
tin rằng, vƣợt qua đƣợc động là có đƣợc tình yêu bền vững. Tại thung lũng
tình yêu, các hòn đá rải ra rất bằng phẳng. Ra khỏi động rồi, du khách có thể
“luyện tập” một chút sự dẻo dai bằng việc leo núi Tử Trầm. Điều khích lệ du
hội con ngƣời mang tính thiêng liêng, đƣợc biểu hiện qua những khía cạnh vật
chất và tinh thần, trong quá trình lịch sử, và còn tồn tại lâu dài cùng với con
ngƣời” [16, 31]
Quần thể di tích chùa Trầm là một quần thể kiến trúc văn hóa tâm linh
kết hợp hài hòa giữa kiến trúc chùa Bắc Bộ và núi, hang tự nhiên. Quần thể
chùa nhỏ nhƣng lại mang vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm. Ba cụm công trình
chùa trong quần thể di tích gồm: Chùa Trầm và chùa Hang và chùa Vô Vi đã
đạt đến sự hài hòa cao độ giữa núi non và chùa chiền, tạo cảm giác tự nhiên,
thanh tịnh. Sự kết hợp hài hoà giữa cảnh núi non cùng chùa chiền đã tạo nên
một vẻ đẹp độc đáo của khu di tích. Từ xa ngắm nhìn, Tử Trầm Sơn có hình
dáng tựa nhƣ những con phƣợng hoàng đang nhô cao đầu lên bầu trời. Chẳng
thế mà, từ xa xƣa, khu danh thắng núi Trầm đã đƣợc học giả Phan Huy Chú
ca ngợi là nơi có “Phong cảnh đậm đà đẹp nhất trong các núi Sơn Tây”. Ngôi
chùa nhỏ mang vẻ đẹp cổ kính, cùng với khoảng sân rộng đƣợc những cây đại
thụ vây quanh chào đón khách thập phƣơng bằng không gian tĩnh lặng chỉ
văng vẳng tiếng chim.
Trong cuộc sống xa xƣa đến nay dù trong điều kiện hoàn cảnh nào thì
ngƣời ta cũng đều tìm đến một tín ngƣỡng, tôn giáo riêng, đó cũng là một nhu
18