KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
==========
TRẦN THANH BẮC
DI TÍCH LỊCH SỬ
THÀNH ĐIỆN LAM KINH VÀ LỄ HỘI
LAM KINH VỚI VIỆC PHÁT TRIỂN
DU LỊCH VĂN HOÁ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH: VIỆT NAM HỌC
HÀ NỘI - 2010
- 1 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình triển khai thực hiện khoá luận, người viết đã thường
xuyên nhận được sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo trong khoa
Ngữ văn và các thầy cô trong tổ Phương pháp dạy học Ngữ văn, đặc biệt là
ThS. GVC. Vũ Ngọc Doanh – người trực tiếp hướng dẫn.
Tác giả khoá luận xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy cô
giáo và các bạn sinh viên đã giúp đỡ, chỉ bảo tận tình cũng như tạo mọi điều
kiện để người viết hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này.
Hà Nội, ngày 18 tháng 5 năm 2010
TÁC GIẢ KHOÁ LUẬN
Trần Thanh Bắc
- 3 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung mà tôi trình bày trong Khoá luận tốt
:
Giáo sư
UBND
:
Uỷ Ban Nhân dân
NXB
:
Nhà xuất bản
VHTT
:
Văn hoá Thông tin
TP
:
Thành phố
HDV
5 Đối tượng nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
7 Phương pháp nghiên cứu
8 Đóng góp của khoá luân
9 Bố cục của khoá luận
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Du lịch văn hoá
1.1.1. Khái niệm du lịch
1.1.2. Khái niệm văn hoá
1.1.3. Mối quan hệ giữa du lịch và văn hoá
1.1.4. Khái niệm du lịch văn hoá
1.1.5. Các loại hình du lịch văn hoá
1.1.6. Du lịch văn hóa di tích lịch sử và lễ hội
1.1.7. Vị trí và vai trò của du lịch văn hoá di tích lịch sử, lễ hội
trong giai đoạn hiện nay
Chương 2. PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ TẠI KHU DI
TÍCH LỊCH SỬ, LỄ HỘI LAM KINH – THANH HOÁ
2.1. Tổng quan về Thanh Hoá
2.2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hoá di tích lịch sử, lễ
hội Lam Kinh
2.2.1. Không gian môi trường tự nhiên đất Lam Sơn
2.2.2. Không gian môi trường văn hoá đất Lam Sơn
2.2.3. Di tích lịch sử Lam Kinh
- 6 -
1
1
2
3
2.2.4. Lễ hội Lam Kinh
49
2.2.4.1. Bối cảnh của Lễ hội Lam Kinh
2.2.4.2. Phần Lễ
2.2.4.3. Phần hội
2.2.4.4. Sự kết hợp độc đáo giữa di tích lịch sử Lam Kinh và lễ
hội Lam Kinh
2.3. Các điều kiện phát triển du lịch văn hoá di tích lịch sử
Lam Kinh và lễ hội Lam Kinh
2.3.1. Điều kiện kinh tế
49
50
51
2.3.2. Điều kiện An ninh, Chính trị và an toàn xã hội tại di tích
lịch sử Lam Kinh
2.4. Thực trạng phát triển du lịch văn hoá tại di tích lịch sử
Lam Kinh và lễ hội Lam Kinh
53
54
54
58
58
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
- Cơ sở lý luận :
Trong xu thế toàn cầu và thực hiện công ước quốc tế hiện nay, việc
khảo cứu, bảo tồn và phát triển các di tích văn hóa, lễ hội đóng một vai trò
quan trọng. Nó góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, làm thay đổi
nhận thức và lối sống của mỗi người dân. Đặc biệt, đối với những nước đang
phát triển như Việt Nam, vấn đề phát triển du lịch văn hóa còn là một chiến
lược sống còn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các giá trị lịch sử.
- Cơ sở thực tiễn :
Trong những năm gần đây thói quen du lịch và nhu cầu du lịch của du
khách trong và ngoài nước đã có những thay đổi đáng kể. Nhu cầu du lịch văn
hoá, tâm linh ngày càng trở thành xu hướng cơ bản và là sự lựa chọn của
nhiều đối tượng khách du lịch.
Trên “Con đường di sản Miền Trung” và “Hành trình 1000 năm các
Kinh đô nước Việt Thanh Hoá là vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hoá
lâu đời được gọi là “địa linh, nhân kiệt”. Đây là nơi phát tích của các triều
Tiền Lê, Hậu Lê, nhà Hồ, chúa Trịnh, chúa Nguyễn, nơi để lại nhiều di tích
lịch sử và lễ hội có ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc phát triển du lịch văn
hoá.
Với ý nghĩa đó, việc khai thác các giá trị từ di tích lịch sử lễ hội Lam
Kinh đóng một vai trò quan trọng. Nó không chỉ giúp bảo tồn, giáo dục về
lịch sử truyền thống mà còn có vị trí không nhỏ trong chiến lược phát triển du
tướng nhà Lê đã có công giành độc lập, xây dựng đất nước phồn vinh.
Nhiều nhà nghiên cứu đã dày công tìm tòi, khảo sát những giá trị về
lịch sử, văn hoá thời Lê sơ. Nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả được
công bố:
Lê Xuân Giang (2008), Kỷ niệm 590 năm khởi nghĩa Lam Sơn, Sở Văn
hoá, Thể Thao và Du lịch Thanh Hoá, Thanh Hoá.
Phùng Nguyên (2007), Bí mật về mộ Lê Lợi và mộ Ngọc Hân công
chúa. Sở Văn hoá, Thể Thao và Du lịch Thanh Hoá, Thanh Hoá.
Ban biên tập Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (2008), Chính điện Lam
Kinh. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Hà Nội.
- 9 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
Đỗ Như Chung(2007), Lễ hội Lam Kinh- từ lễ hội cung đình đến lễ hội
dân gian, Sở Văn hoá, Thể Thao và Du lịch Thanh Hoá.
Đỗ Thị Thanh Ngân (2008), Di tích lịch sử Lam Kinh,Ban quản lý di
tích lịch sử Lam Kinh, Thanh Hoá.
Thực tế cho thấy, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu đề cập tới
việc khảo cứu, đi sâu vào các giá trị lịch sử văn hoá mà chưa có sự định
hướng nghiên cứu rõ ràng và cụ thể đến việc phát triển du lịch văn hoá tại di
tích lịch sử, lễ hội Lam Kinh – Thanh Hoá.
Đề tài tập trung nghiên cứu về du lịch văn hoá di tích lịch sử, lễ hội
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn hiện nay.
Đối tượng cụ thể trong nghiên cứu là các giá trị lịch sử, văn hoá tại khu
di tích lịch sử thành điện Lam Kinh và lễ hội Lam Kinh - Thanh Hoá với việc
phát triển du lịch văn hoá.
6. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đề tài tập trung khảo sát di tích lịch sử, lễ hội Lam Kinh - Thanh Hoá
nhằm mục đích bảo tồn, khai thác và đề xuất hướng phát triển Du lịch văn hoá
cho địa danh và lễ hội này.
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện dựa trên một số các phương pháp như: Tổng hợp
đa ngành và liên ngành các vấn đề về Việt Nam học, du lịch; phương pháp
phân tích, tổng hợp các dữ liệu; phương pháp thư viện; phương pháp truy vấn
thông tin qua Internet, qua các công trình nghiên cứu, đồng thời kết hợp với
việc áp dụng phương pháp khảo sát, nghiên cứu thực địa tại di tích lịch sử, lễ
hội Lam Kinh.
8. ĐÓNG GÓP CỦA KHOÁ LUẬN
Trên cơ sở tìm hiểu các vấn đề về lý luận và thực tiễn, nghiên cứu đưa
ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch văn hoá di tích lịch sử
thành điện Lam Kinh – Thanh Hoá trong hiện tại và tương lai.
9. CẤU TRÚC KHOÁ LUẬN
Khoá luận gồm 3 phần : mở đầu, nội dung và kết luận.
Phần 1. PHẦN MỞ ĐẦU
Phần 2. PHẦN NỘI DUNG
- 11 -
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Du lịch văn hoá
Ngày nay, loại hình du lịch văn hoá được rất nhiều quốc gia và vùng
lãnh thổ quan tâm đồng thời là xu hướng chung trong chiến lược phát triển du
lịch của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Du lịch văn hoá được
xem là một sản phẩm đặc thù, quyết định sự tăng trưởng và sự hấp dẫn bền
lâu của du lịch nước nhà. Việc hoạch định và tập trung vào việc phát triển Du
lịch văn hoá ở Việt Nam sẽ góp phần không nhỏ trong việc phát triển nền
kinh tế, văn hoá thời kì hội nhập.
1.1.1. Khái niệm Du lịch
Thực tế cho thấy, thuật ngữ du lịch đã trở nên thông dụng trên toàn thế
giới. Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hi lạp với ý nghĩa là đi một vòng.
Sau này, nó được Latinh hoá thành tornus rồi thành touriste (theo tiếng Pháp),
tourism (theo tiếng Anh). Học giả người Anh - Robert Lanquar cho biết: “từ
touriste lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800.” Như
vậy, có thể thấy rằng thuật ngữ du lịch đã xuất hiện từ rất sớm.
Trong Tiếng Việt, thuật ngữ touriste được dịch thông qua tiếng Hán.
Du: có nghĩa là đi chơi; lịch: có nghĩa là từng trải. Theo Từ điển Tiếng Việt
của Viện Ngôn ngữ 2006, NXB Đà Nẵng thì: Du lịch là “đi xa cho biết xứ lạ
khác với nơi mình ở”.[13.246]
Liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International Union of
Official Travel Oragnization: IUOTO) định nghĩa: “Du lịch được hiểu là hành
động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình
nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay
- 13 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài nơi cư trú
thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần,
nâng cao trình độ nhận thức văn hoá hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ
những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hoá”.[11,6]
- 14 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
==
TRẦN THANH BẮC
Như vậy, trong lịch sử đã có rất nhiều các khái niệm và quan điểm khác
nhau về du lịch, các khái niệm, quan điểm này có sự thay đổi theo thời gian
song cơ bản và tóm lại, cái gốc của du lịch vẫn là tìm đến những không gian
khác với nơi mình sinh sống để hưởng thụ các giá trị vật chất, tinh thần, từ đó
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống.
Khái niệm du lịch sẽ càng rõ ràng hơn khi nhìn nhận ở các góc độ khác
nhau.
Nhìn từ góc độ nhu cầu của du khách, du lịch là một sản phẩm tất yếu
của sự phát triển kinh tế - xã hội loài người đến một giai đoạn phát triển nhất
định. Chỉ trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, gia tăng thu nhập bình
quân đầu người, tăng thời gian rỗi do tiến bộ của khoa học – công nghệ,
phương tiện giao thông và thông tin ngày càng phát triển, làm phát sinh nhu
cầu nghỉ ngơi, tham quan du lịch của con người. Như vậy, du lịch là du ngoạn
để cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần có tính chất văn hoá cao.
có một khái niệm mang tính chuyên dùng về văn hoá cũng như cấu trúc của
nó. Thực tế cho thấy, có rất nhiều định nghĩa văn hoá khác nhau, song giới
nghiên cứu văn hoá trong và ngoài nước vẫn chưa có một khái niệm thống
nhất về thuật ngữ này. Nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã thống kê được
hàng trăm ngàn khái niệm văn hoá khác nhau và đi đến kết luận rằng: Khái
niệm văn hoá được dùng rất tuỳ tiện. Cho đến nay, vẫn chưa có một sự nhất
trí và cũng chưa có định nghĩa nào thỏa mãn được cả về định tính và định
lượng.
Trong Hội nghị Chính phủ về các chính sách văn hoá họp năm 1970 tại
Venise (Áo), ông Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO đưa ra khái
niệm: “Đối với một số người, văn hoá chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời
trong các lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hoá bao
gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản
phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống
và lao động”.[25] Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có
sự phân biệt văn hoá dân tộc lớn, dân tộc bé, văn hoá dân tộc này cao, dân tộc
kia thấp, văn hoá dân tộc này văn minh, văn hoá dân tộc kia lạc hậu. Khái
niệm trên còn thể hiện ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định văn hoá
mỗi dân tộc với những bản sắc riêng.
Tại Mêhicô ngày từ 26/7 đến 6/8 năm 1982, Hội nghị quốc tế về văn
hoá bắt đầu cho thập kỷ văn hoá UNESCO đã diễn ra. Tới dự có hơn một
nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia. Sau nhiều ngày
- 16 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
- 17 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
Trong phạm vi nghiên cứu về vấn đề du lịch văn hoá, chúng tôi cho
rằng: chúng ta nên hiểu và xét định nghĩa văn hoá ở hai góc độ là văn hoá
theo nghĩa rộng và văn hoá theo nghĩa hẹp của UNESCO.
Văn hoá theo nghĩa rộng: “Là tổng thể những nét riêng biệt về tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay của một nhóm người trong
xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật, văn chương, những lối sống, những hệ
thống các giá trị lịch sử văn hoá, những tập tục và tín ngưỡng những quyền cơ
bản của con người”.[25] Khái niệm này đề cập đến văn hoá vật chất và văn hóa
tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên những nét riêng biệt về
văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội.
Văn hoá theo nghĩa hẹp: “Là hệ thống bao gồm những khái niệm gắn từ
“văn hoá” với một chuyên ngành nào đó”. Ví dụ: văn hoá tôn giáo, văn hoá
dân gian, văn hoá xã hội, địa văn hoá, nhân học văn hoá, xã hội học văn hoá,
du lịch văn hoá… Để sẽ chiếm vị trí chính yếu trong khái niệm đó. Ví dụ khái
niệm “Địa văn hóa” nói đến điều kiện địa lí, khí hậu trong một không gian
nhất định ảnh hưởng đến một nền văn hoá nào đó; khái niệm “văn hoá nghệ
thuật” hay “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hoá gắn với việc sáng tạo,
hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hoá nghệ thuật như âm nhạc,
mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… và tương tự, khái niệm du lịch văn hoá cũng
1.1.4. Khái niệm Du lịch văn hóa
Phát triển du lịch văn hoá là xu hướng chủ đạo của các nước đang phát
triển. Nó đem lại giá trị kinh tế – xã hội lớn không chỉ cho cộng đồng xã hội
mà còn đối với việc quảng bá hình ảnh từng địa phương, đất nước. Điều này
cũng đã trở thành nội dung chính của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch Đông Á Thái Bình Dương với trên 150 đại diện của các nước ở khu vực Châu Á, bao
gồm Bộ trưởng và lãnh đạo các cơ quan du lịch quốc gia họp vào ngày 11/ 06/
2009 tại thành phố Huế, dưới sự chủ trì của Tổ chức Du lịch quốc tế và Tổng
cục Du lịch Việt Nam. Hội nghị đã nhấn mạnh: “bên cạnh những loại hình du
lịch như du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch mạo hiểm, du lịch giáo
dục… gần đây du lịch văn hoá được xem là loại sản phẩm đặc thù của các
nước đang phát triển”.
Một quan chức của vụ Hợp tác quốc tế thuộc Tổng cục Du lịch phát biểu: “
Du lịch văn hoá là xu hướng chung của nhiều nước. Loại hình này rất phù hợp
với bối cảnh của Việt Nam, vì vậy phải được xem là hướng phát triển của
ngành du lịch Việt Nam”.[15]
- 19 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
Như vậy, Du lịch văn hoá là khai thác các nhóm tài nguyên nhân văn có
nguồn gốc nhân tạo mang giá trị vật chất, tinh thần có giá trị về lịch sử, văn
hoá tiêu biểu… do con người sáng tạo ra mang đặc trưng của một địa phương,
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
==
TRẦN THANH BẮC
duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người. Đặc tính riêng biệt này
của nghề và làng nghề truyền thống chính là sức hút đối với khách du lịch
trong và ngoài nước.
Thứ tư, loại hình du lịch văn hoá mà đối tượng gắn với dân tộc học: thể
hiện trong những điều kiện sinh sống, những đặc điểm văn hoá, phong tục tập
quán, hoạt động sản xuất với những sắc thái riêng của các dân tộc trên địa bàn
cư trú của mình.
Thứ năm, loại hình du lịch văn hoá là các đối tượng văn hoá, thể thao
hay những hoạt động có tính sự kiện: là những đối tượng văn hoá như các
trung tâm khoa học, các trường đại học, các thư viện lớn, các bảo tàng…
Những hoạt động mang tính sự kiện như các giải thể thao lớn, các cuộc triển
lãm, hội chợ, festival, các tour du lịch thành phố (city tour), các hoạt động văn
hoá… đều có sức thu hút khách tới tham quan du lịch và nghiên cứu.
Tiềm năng, thế mạnh từ những loại hình du lịch văn hoá ở nước ta là vô
cùng đa dạng, phong phú mang giá trị cao tạo sức hút lớn đối với khách du
lịch. Trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII đã nêu rõ: “Phát triển du
lịch tương xứng với tiềm năng du lịch to lớn của đất nước theo hướng du lịch
văn hoá, du lịch sinh thái, môi trường xây dựng các chương trình và các điểm
hấp dẫn du lịch về văn hoá, di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh”. Du lịch
văn hoá đang phát triển mạnh ở nước ta, cần phải xem đây là loại hình du lịch
mũi nhọn của chiến lược phát triển du lịch nước ta trong thời kì CNH, HĐH
đất nước và toàn cầu hoá kinh tế.
Như vậy, mục đích cao nhất của việc phát triển du lịch văn hoá là thu lợi về
kinh tế, nâng cao vai trò, vị trí xã hội từ việc biết khai thác, phát huy tối đa
bằng chứng độc đáo trong tiến trình lịch sử, mang tính nghệ thuật, kiến trúc
đặc trưng. Di tích lịch sử luôn gắn liền với tư tưởng, tín ngưỡng và có ý nghĩa
phổ biến, ẩn sâu trong các di tích đó là dấu ấn lịch sử với những trang sử bi
hùng trở thành những giá trị nhân văn vô cùng to lớn. Đó là điển hình nổi bật
của một lối sống truyền thống đại diện cho một thời kì lịch sử, văn hoá của
dân tộc, quốc gia và vùng lãnh thổ.
Việt Nam là đất nước có chiều sâu về lịch sử dựng nước và giữ nước,
giàu về bản sắc văn hoá dân tộc. Do vậy, hệ thống các di tích lịch sử, văn hoá
là rất đa dạng, độc đáo phủ rộng trên toàn lãnh thổ. Việc khảo cứu, phục dựng
các di tích lịch sử với mục đích phát triển du lịch văn hoá là một hướng đi
đúng đắn, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử văn hoá, nâng cao ý thức
- 22 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TRẦN THANH BẮC
==
cộng đồng, mang lợi ích cho cộng đồng đó trong việc phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội.
Du lịch văn hóa lễ hội
Lễ hội là một trong những tiềm năng du lịch văn hoá hết sức độc đáo
của Việt Nam. Lễ hội - một hình thái tín ngưỡng sinh hoạt văn hoá dân gian
nguyên hợp mang tính cộng đồng cao của nông dân hay thị dân, diễn ra trong
TRẦN THANH BẮC
có, địa phương nào cũng sở hữu riêng ít nhất một lễ hội đặc trưng và ở khắp
miền đất nước, mùa nào có loại hình lễ hội đó, tất cả đan dày quanh năm
nhưng không lễ hội nào trùng lặp với lễ hội nào và lễ hội nào cũng khác: lễ
hội dân gian, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo, lễ hội phong tục... Đây chính là
kho tàng phong phú cho hoạt động du lịch văn hoá của từng địa phương, vùng
miền trong cả nước.
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi tập trung vào nét riêng của lễ hội
lịch sử. Phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng
nhớ người có công với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các
trò vui chơi ở lễ hội thường mang tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như:
bắn nỏ, đấu vật, luyện võ… Đây là hoạt động lễ hội gắn liền với con người,
tài năng biểu diễn, tái tạo bản thân của con người hiện tại làm sống lại lịch sử
trong cả tính toàn vẹn, tính hình tượng, cụ thể, sinh động của nó…
Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, lễ hội diễn ra sôi động bằng những
sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ
hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương,
đất nước của mình. Đặc biệt, lễ hội nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, gắn
với mỗi vùng đất như một thành tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng,
người vật.
Như vậy, điều này đã tạo nên một môi trường du lịch độc đáo, sự hấp
dẫn kỳ thú đối với du khách. Lễ hội Lam Kinh là một lễ hội quy mô hoành
tráng, mang màu sắc lịch sử. Sự phong phú và độc đáo của lễ hội Việt Nam
nói chung và lễ hội Lam Kinh nói riêng vừa là nét đẹp văn hoá dân tộc nhưng
cũng vừa là một trong những đối tượng du lịch hấp dẫn du khách trong và
ngoài nước.
- 24 -
tích lịch sử, lễ hội cần có hoạch định rõ ràng và chú trọng đầu tư cho phát
triển loại hình du lịch văn hoá.
- 25 -
CHUYÊN NGÀNH VIỆT NAM HỌC