Đánh giá ảnh hưởng của các mức bón phân lân đến sự sinh trưởng và phát triển của các giống hoa đồng tiền nhập nội trên đ - Pdf 32

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hoa là một sản phẩm không thể thiếu trong cuộc sống. Từ bao đời nay chơi
hoa đã gắn bó mật thiết và đi vào tiềm thức, thói quen của mọi người, mọi tầng
lớp xã hội. Hoa không những có giá trị về mặt thẩm mỹ mà còn có giá trị về mặt
tinh thần, làm xua tan mệt mỏi sau những giờ làm việc căng thẳng do nó có
hương thơm dịu nhẹ, thanh khiết của hoa cộng với sự hoà quyện của thiên nhiên
đất trời, nó làm mê hoặc lòng người bởi vẻ đẹp vừa tao nhã vừa sặc sỡ của màu
sắc và từ hoa nó cũng tạo nên kết tinh của tình yêu. Xã hội càng phát triển, mức
sống của ngưòi dân càng nâng cao thì nhu cầu về hoa càng tăng cả về số lượng
và chất lượng. Hàng năm nhu cầu hoa cắt cành trên thế giới tăng khoảng 6 - 9%,
tổng giá trị tiêu thụ hoa trên thế giới năm 1995 là 31 tỉ USD (Hoàng Ngọc Thuận,
2006) tăng lên gần 40 tỉ USD năm 1999 (Nguyễn Xuân Linh và cs, 1998).
Nghề trồng hoa ở Việt Nam đã có từ lâu đời nhưng vài chục năm gần đây
có những bước đột phá, công nghệ sản xuất hoa đã được áp dụng và phát triển
với nhiều mức độ khác nhau đáp ứng được nhu cầu chơi hoa của xã hội. Theo đề
án của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nước ta phấn đấu đến năm 2010
có 8000ha hoa, trong đó bao gồm cả hoa cắt và hoa trồng chậu, kim ngạch xuất
khẩu đạt khoảng 60 triệu USD. Để đạt được mục tiêu đó, bên cạnh các vùng
trồng hoa truyền thống như Đà Lạt (Lâm Đồng), SaPa (Lào Cai), Tây Tựu (Hà
Nội), Mê Linh (Vĩnh phúc), Đằng Lâm, Đằng Hải (Hải Phòng), chúng ta cần
phải tập trung nghiên cứu xây dựng các vùng trồng hoa mới có quy mô lớn, áp
dụng công nghệ tiên tiến về giống, phân bón và các trang thiết bị khác. Hiện nay,
một số vùng sản xuất hoa mới như Thái Bình, Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc
Giang, Bắc Ninh, Hà Nam đã tiến hành đầu tư công nghệ cao để phát triển sản
xuất hoa theo hướng xuất khẩu.
Hoa đồng tiền (Gerbera sp) có nguồn gốc từ Nam Phi, được nhập về trồng
đầu tiên khoảng từ những năm 1940, là một trong 10 loài hoa quan trọng nhất
trên thế giới (sau hồng, cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn) (Đặng Văn Đông, 2004).

kiện khí hậu Việt Nam. Vì vậy việc nghiên cứu chọn tạo giống hoa đồng tiền
thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta có ý nghĩa lớn góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất, tăng thu nhập cho người dân và cho quốc gia.


3

Do vậy, công tác nghiên cứu chọn tạo, nhập nội giống, tuyển chọn giống
hoa đồng tiền thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta có ý nghĩa rất quan trọng
góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập cho người dân.
Xuất phát từ thực tế trên, để góp phần vào công tác chọn tạo giống cũng
như hoàn thiện quy trình kỹ thuật thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng và
hiệu quả sản xuất hoa đồng tiền, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh
giá ảnh hưởng của các mức bón phân lân đến sự sinh trưởng và phát triển
của các giống hoa đồng tiền nhập nội trên đất đỏ bazan huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An”.
2. Mục đích và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
- Thông qua kết quả nghiên cứu có thể tìm ra được liều lượng bón thích hợp
của phân Lân đối với các giống hoa đồng tiền trên đất Nghĩa Đàn.
- Xác định được một số giống hoa đồng tiền có năng suất cao, chất lượng
tốt, màu sắc phù hợp thị hiếu tiêu dùng cho hiệu quả kinh tế cao, có khả năng
chống chịu tốt với sâu bệnh và thích ứng với sinh thái của Nghĩa Đàn và phụ cận
để sản xuất.
2.2. Yêu cầu
- Đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện Nghĩa Đàn của 3 giống hoa
đồng tiền nhập nội.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân Lân đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng phát triển của hoa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng phân Lân đến năng suất, chất lượng

quốc và đến năm 1910 đã phát triển trở thành hoa thương mại phổ biến tại Pháp.
Bắc Phi và nhiều nước khác… Có nguồn gốc ở Nam Phi, được phát hiện bởi
Robert Jamerson, người Scotsland.
Vào năm 1880 khi đang làm ở bãi khai thác vàng gần Bardedton vùng
Trausval ở Nam Phi. Ông đã tặng cây này cho vườn thực vật Dururrdan và người
phụ trách khu vườn thực vật Hoàng Gia Anh để phân loại và nhận biết, ông đề
nghị đặt tên khoa học cho loài này là Gerbera Jamesonii. Năm 1890, Kichard
Irwin Lynch (người Anh) bắt đầu thực hiện một chương trình tạo giống và đã tạo
ra rất nhiều giống cải tiến [19].
Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, hoa đồng tiền chưa được sản xuất ở Bắc
Mỹ, nhưng sau đó việc nhân giống được tiến hành rộng rãi ở California trong
suốt những năm 70
Ở Việt Nam hoa đồng tiền đơn được người Pháp đưa vào từ đầu thế kỷ XX
và được phát triển cho đến ngày nay. Tuy nhiên chủ yếu vẫn là các giống đồng
tiền đơn, hoa nhỏ. Hoa Đồng Tiền kép mới chỉ được du nhập vào Việt Nam một
vài năm gần đây, (Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc, 2004) [2].
1.2. Phân loại và đặc điểm thực vật của cây hoa Đồng Tiền
1.2.1. Phân loại
Trong hệ thống phân loại thực vật cây hoa Đồng Tiền thuộc lớp 2 lá mầm,
phân lớp cúc (Asteridae), bộ cúc (Asterales), họ cúc (Asteraceae), chi Gerbera
(Trần Hợp, 1999) [12].


6

Chi Gerbera rất phổ biến, (khoảng 40 loài) được trồng làm cây trang trí trong
các mảnh vườn hoặc được cắt để cắm. Các giống trồng phổ biến ngày nay chủ
yếu là lai ghép chéo giữa G. Jamesonni với G. Viridifilia Schult. Bip hoặc các
giống lai tự nhiên. Ở Nam Phi các giống lai chéo này có tên khoa học là Gerbera
hybrida. Hiện nay tồn tại hàng trăm giống khác nhau, chúng dao động mạnh từ

phát triển, nở hoa và chất lượng của hoa đồng tiền. Nhiệt độ thích hợp cho sự
phát triển hệ thống rễ hoa là khoảng 20oC trong 3-4 tuần đầu, sau đó giảm xuống
dưới 20oC vào ban đêm. Nếu nhiệt độ < 12oC hoặc > 35oC, cây sẽ phát triển kém,
mầu sắc hoa nhợt nhạt đẫn đến chất lượng hoa xấu. Tốt nhất trong thời kỳ ra hoa
cần đảm bảo nhiệt độ thích hợp 15 -17oC vào ban đêm và từ 21 – 23oC vào ban
ngày thì hoa sẽ to và đẹp [23].
1.3.2. Ánh sáng
Đồng tiền yêu cầu ánh sáng cao cho sinh trưởng, phát triển và phát triển mầm
hoa, chúng có thể ra hoa cả mùa hè và mùa đông, nhưng số lượng lớn nhất tập
trung vào mùa xuân, đồng tiền chỉ phản ứng rất nhẹ với quang chu kỳ, ngày ngắn
ra hoa nhanh, ngày dài ra hoa chậm. Người ta có thể trồng đồng tiền vào mùa
nắng nóng bằng cách dùng lưới đen che để giảm bớt cường độ ánh sáng, giúp cho
đồng tiền sinh trưởng tôt, phục vụ cho mục đích thương mại [2].
1.3.3. Ẩm độ
Đồng tiền là cây trồng cạn không chịu được ứng nhưng đồng thời có sinh
khối lớn, bộ lá to, tiêu hao nước nhiều, do vậy cũng kém chịu hạn. Độ ẩm đất từ
60- 70%, độ ẩm không khí 55- 65% thuận lợi cho đồng tiền sinh trưởng. Đặc biệt
vào thời gian thu hoạch cần độ ẩm vừa phải để tránh nước đọng trên các vết cắt.
gây thối hoa và sâu bệnh phát sinh phát triển, chất lượng hoa giảm sút. Trong quá
trình sinh trưởng tuỳ theo thời tiết mà luôn phải cung cấp đủ lượng nước cho
đồng tiền bằng các biện pháp tưới nhỏ giọt hoặc bơm tưới cho cây [2].
1.3.4. Đất
Hoa đồng tiền không đòi hỏi khắt khe về đất, thích hợp với đất tơi xốp nhiều
mùn, độ pH từ 6- 6,5 đất thịt pha cát, ở vùng đất kiềm cần bón phân mang tính
chua để cải tạo, cũng có thể bón phân chứa lưu huỳnh để giảm thấp độ pH. Ở


8

vùng đất chua có thể bón bổ sung vôi để điều tiết độ chua, ở nơi đất thịt nặng bón

0,5
3,2
0,5
0,2
62
17
2
19
19

Cây đẻ nhánh

Cây ra hoa

2,5
3,0
0,5
0,5
3,2
3,8
0,5
1,3
0,4
0,6
62
132
30
82
2
4

Có thể sử dụng kali ở dạng phân hoá học như sunphat kali, clorua kali hay ở
dạng tro bếp. Chú ý rằng nếu dùng sunphat kali thì phải bón thêm vôi bột để khắc
phục đất chua. Lượng kali nguyên chấtch o 1 ha đồng tiền từ 120- 140kg/ năm,
trong đó bón lót là chủ yếu còn lại dùng để bón thúc với phân đạm và lân.
- Canxi: Canxi giúp cho đồng tiền tăng khả năng chịu nhiệt, hạn chế được
tác dụng độc của các axit hữu cơ, ngoài ra canxi còn có tác dụng giảm chua, tăng
độ phì của đất tạo điều kiện cho đồng tiền phát triển tốt hơn. Canxi được bón cho


10

đồng tiền thông qua vôi bột, tuỳ theo từng loại đất mà sử dụng liều lượng khác
nhau. Thông thường lượng vôi bột cần để bón lót cho 1ha đất trồng đồng tiền là
300- 400kg.
- Ngoài các yếu tố đa lượng chính kể trên còn một số nguyên tố vi lượng khác
như: Mg, Fe, Cu, Na… cũng rất cần cho đồng tiền, những nguyên tố này được bổ
sung bằng phân hữu cơ hoặc phân vi sinh có chứa vi lượng [2].
- Qua đó trước khi bón phân chúng ta cần phải hiểu rõ đặc điểm sinh học của cây
và thành phần dinh dưỡng trong đất như thế nào
1.4. Giá trị sử dụng và giá trị kinh tế
Với đặc điểm màu sắc tươi sáng, phong phú, đa dạng với đủ các loại
màu,trên một hoa có thể có một màu đơn hoặc nhiều màu xen kẽ, hoa to, cứng,
nên hoa đồng tiền là một loại lý tưởng để làm hoa bó, lẵng hoa và cắm hoa nghệ
thuật…Ngoài ra đồng tiền cũng có thể được trồng trong chậu để chơi cả chậu
trong suốt một thời gian dài, đặt trong phòng làm việc, phòng khách rất phù hợp.
Hoa đồng tiền là loại hoa có sản lượng và giá trị cao. Ở điều kiện thích
hợp có thể ra hoa quanh năm. Tỷ lệ cành cắt và tỷ lệ hoa thương phẩm đều cao,
kỹ thuật trồng trọt và chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một lần có thể cho
thu hoạch liên tục từ 4- 5 năm [2].
Hiện nay trong các loài hoa đã được chú ý phát triển ở Việt Nam, hoa

Bản lại tạo giống có xu hướng cho trồng hoa cắt.
Từ năm 1975 Ilorist De Kwakel B.V đã tiến hành chọn tạo giống và nhân
giống hoa đồng tiền cho sản xuất cắt tại Hà Lan. Tiếp theo bà đã chọn lọc và tạo
giống hoa đồng tiền trồng chậu. Qua nhiều năm chọn tạo giống cho trồng chậu đã
tảo ra rất nhiều giống hoa trồng chậu ưu thế lai F1 đáp ứng nhu cầu thị hiếu của
thị trường. Những đặc điểm các giống hoa đồng tiền ưu thế lai tập trung vào 5
nhóm chủ yếu:
• Đồng nhất về màu hoa
• Tập tính nở
• Số hoa trên cây
• Chất lượng hoa
• Thời gian sinh trưởng ngắn


12

Kết quả các giống hoa được trồng thử nghiệm và cho những kết quả rất
hứa hẹn và bà đã có những chia sẻ đóng góp cho người trồng hoa trên Thế
giới[17].
Đồng tiền rất khó kết hạt, hạt rất nhỏ, sức sống kém nên trước đây đồng tiền
chủ yếu được nhân giống bằng phương pháp tách chồi. Hiện nay công nghệ nuôi
cấy mô tế bào được áp dụng rộng rãi trong việc nhân giống hoa đồng tiền giúp
cải thiện đáng kể trong vấn đề cây giống.
Giống đồng tiền cứng hoa ngắn 6 inch trồng trong chậu được giới thiệu ở
Nhật Bản vào năm 1980, sau đó người ta đá sử dụng công nghệ nuôi cấy mô để
nhân giống. Hiện nay chúng được trồng ở nhiều nước trên Thế giới [19].
Năm 2000, Viện nghiên cứu rau quả quốc tế đã thành công một giống đồng
tiền mới có tên Raon, đây là kết quả của việc lai giữa giống Kippros có màu
vàng, hoa bán kép với giống Rora có màu vàng hoa đơn. Raon là giống trồng để
sản xuất hoa cắt, có đường kính hoa cắt lớn, màu cam sẫm, dạng hoa kép, độ bền

Huang H cho rằng lai gần làm tăng năng suất hoa từ 10,3 lên 28,3 bông/cây [32].
Điều kiện môi trường sống ảnh hưởng đến sinh trưởng và chất lượng hoa
đồng tiền. Điều này được thể hiện trong nghiên cứu của Hahn Eun Joo. Ông đã
tiến hành nghiên cứu 6 giống đồng tiền (Ensophy, Estel, Suset, Rita, Tamara và
beauty) với 2 phương pháp trồng trên giá thể và trồng trực tiếp trên đất. Trên giá
thể cây được trồng trên 4 giá thể khác nhau. Tất cả các cây thí nghiệm được trồng
trong nhà lưới với điều kiện nhiệt độ là 28 oC vào ban ngày và 23oC vào ban đêm.
Kết quả là 2 giống Ensophy và Estel sau trồng 50 ngày trên các loại giá thể đã
cho hoa đầu tiên, còn trồng trực tiếp trên đất thì sau khoảng 63 ngày mới bắt đầu
cho hoa. Số hoa trên cây, chiều cao hoa, đường kính hoa của 2 giống này trồng
trên giá thể tốt hơn trồng trực tiếp trên đất. Trong đó giống Ensophy trồng trên
giá thể là bọt đá có số hoa trên cây, chiều cao cây, trọng lượng cây và đường kính
hoa lớn nhất, còn giống Estel thì không có sự sai khác về các chỉ tiêu đó ở cả 2
phương thức trồng Ensophy và Estel trồng trên xơ dừa cho số hoa trên cây ít hơn.
Ensophy có vết đen trên cánh hoa dưới điều kiện nhiệt độ mùa hè cao, trong khi
các giống khác không có biệu hiện đó.


14

1.5.1.2. Tình hình sản xuất
Hiện nay, trên Thế giới hoa đồng tiền là một loại hoa cắt quan trọng sau
Hồng, Cúc, Lan, Cẩm Chướng…Các nước có sản lượng hoa lớn là Hà Lan.
Colombia, Pháp, Trung Quốc…Ở các nước này đồng tiền được trồng trong nhà
lưới có mái che, có trang bị hệ thống điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, tưới
nước, bón phân bằng chế độ tự động hoặc bán tự động. Do đó năng suất và chất
lượng hoa đồng tiền của các nước này rất cao, đạt 4,8 triệu bông/ ha/ năm [9].
Hà Lan là một nước nghiên cứu và sản xuất về hoa đồng tiền lớn nhất Thế
giới. Theo Hà Tiểu Đệ, Triệu Thống Lợi và Lỗ Kim Vũ (2000), Hà Lan có diện
tích trồng hoa đồng tiền là 8,017 ha, giá trị sản lượn là 3 tỷ 590 triệu USD. Nghề

sản xuất, quy mô sản xuất thường nhỏ nên không có sản phẩm đứng đầu, đủ sức
cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế. Ví dụ: Ở Tô Châu diện tích
trồng hoa đồng tiền lớn nhất không quá 2 ha, nhỏ thì chỉ trên 1000m 2, sản lượng
hoa hàng ngày rất ít, nên phí thu hái, bao gói, vận chuyển không cân xứng, tiêu
thụ tại chỗ thì thừa, bán ra ngoài thì không kinh tế nên hiệu quả kinh tế thấp.
Trong khi đó ở Colombia có hơn 100 nông trường quy mô từ 20 ha đến 30 ha,
mỗi nông trường chỉ trồng 2 – 3 giống, mỗi giống 8 – 10 ha, tổng diện tích sản
xuất lớn, sản lượng ít, chất lượng kém.
Diện tích trồng trọt được mở rộng nhưng phân tán, lực lưỡng kỹ thuật
không tập trung lại thêm thiết bị sản xuất thấp, chất lượng kém ảnh hưởng
nghiêm trọng đến hiệu quả kinhh tế. Theo thống kê năm 1996 diện tích trồng hoa
của Trung Quốc là 75,000 ha, giá trị 600 triệu đơm Mỹ. Trong khi đó Hà Lan lại
trồng 8017 ha giá trị sản lượng 3 tỷ 590 triệu đôla Mỹ, gấp 56 lần Trung Quốc,
trang thiết bị trồng trọt lạc hậu, hàm lượng kỹ thuật cao ít.
Tỷ lệ thiết bị tiên tiến trong trồng trọt rất nhỏ, cách trồng cổ truyền vẫn
chiếm ưu thế gây nên sản lượng thấp, chất lượng kém, mùa vụ sản xuất không
phù hợp với nhu cầu lúc cần, khả năng cung ứng hoa quanh năm không mạnh do
đó giá cả không ổn định, hiệu quả kinh tế thấp.
Đầu tư cho bao gói cao. Thời gian bảo quản hoa đồng tiền có thể dài, nhưng
cành giòn, dễ gãy, việc bao gói hiện nay vẫn đơn giản nên tỷ lệ tổn thất sau thu
hoạch tương đối cao


16

1.5.2 Tình hình ngiên cứu và sản xuất ở Việt Nam
1.5.2.1. Ttình hình nghiên cứu
 Nghiên cứu nhân giống
Cây hoa đồng tiền ở Việt nam được trồng từ rất lâu đời, song chủ yếu là
những giống hoa đồng tiền đơn cho nên các kết quả nghiên cứu về giống hoa này

- Qua nghiên cứu quy trình nhân nhanh giống hoa đồng tiền bằng kỹ thuật
invittro. Đỗ Năng Vịnh và cs, đã rút ra một số kết luận như sau:
- Sử dụng HgCl2 nồng độ 0,1% với thời gian khử trùng 10 phút là thích hợp
cho hoa đồng tiền tỷ lệ mẫu sống đạt 82%.
- Môi trường tạo Callus và tái sinh chồi: MS + TDZ (0,2mg/l) là tốt nhất để
tạo mẫu chồi invitro.
- Nhân nhanh chồi hiệu quả nhất là môi trường bán lỏng MS + BAP
(1,5mg/l) + 10% nước dừa + B1 (1mg/l) + đường (50g/l) + thạch (3g/l).
- Môi trường tạo rễ thích hợp là: MS + NAA (0,5mg/l) + đường (50g/l) +
thạch (6g/l). Môi trường này đảm bảo tạo cây hoàn chỉnh, khoẻ, có sức sống tốt
khi ra vườn.
- Công thức giá thể thích hợp cho ra cây con ở giai đoạn vườn ươm là: 1 đất
+ 1 cát + 1 trấu hun +1/4 phân vi sinh cho tỷ lệ cây con sống đạt 90% [6].
Theo Lê Kim Hoàn và cs, môi trường tạo Callus MS + 0,1 NAA + 0,25mg/ l
TDZ.
- Môi trường nhân chồi (nhân nhanh): MS + 0,2mg/l Ki + 0,01mg/l NAA +
0,5mg/l BAP.
- Môi trường tạo cây con hoàn chỉnh: ½ MS + 0,1 mg/l IAA
Nên tạo rễ exvitro đối với đồng tiền kép sẽ thu được lượng rễ nhiều hơn,
khoẻ hơn và đặc biệt giá thành cho 1 cây con rẻ hơn so với cho ra rễ invitro. Liều
lượng ra rễ thích hợp đối với đồng tiền kép là 1000ppm IBA.
 Các nghiên cứu khác
Như Viết Cường và cộng sự đã hoàn thiện được quy trình chẩn đoán nhanh
nhậy bệnh nấm hại Phytophthora cryptoge trên cây đồng tiền và Salem ở Việt
Nam có thể sử dụng rộng rãi cho các phòng thí nghiệm nghiên cứu về bệnh cây
hoặc người sản xuất hoa và cây trồng khác [7].


18



1.5.2.2. Tình hình sản xuất
Ở Việt Nam giống hoa đồng tiền đơn được nhập về trồng đầu tiên từ khoảng
những năm 1940. Đặc điểm của giống hoa đơn này là cây sinh trưởng khoẻ, thích
nghi tốt với điều kiện tự nhiên, nhưng nhược điểm là hoa nhỏ, cánh đơn, màu sắc
đơn điệu vì vậy hiện nay chúng ít được trồng. Từ những năm 1990, một vài công
ty và những nhà trồng hoa Việt Nam đã bắt đầu nhập các giống đồng tiền lai (hoa
kép) từ Đài Loan, Hà Lan, Trung Quốc về trồng. Một số giống tỏ ra có ưu điểm
như hoa to, cánh dày, gồm nhiều tầng hoa xếp lại với nhau, màu sắc phong phú,
hình dáng hoa cân đối, rất đẹp, cho năng suất cao. Vì vậy những giống hoa này
được tiếp nhận và phát triển mạnh mẽ ở khắp các tình thành trên cả nước. Bên
cạnh đó cũng có không ít giống hoa đồng tiền do không thích hợp với điều kiện
khí hậu của Việt Nam cây sinh trưởng, phát triển kém, sâu bệnh phá hại nặng,
gây thiệt hại cho người trồng hoa [2].
Hoa đồng tiền được trồng khá phổ biến tại Đà Lạt trước 1975 với mục đích
cắt cành, có nhiều màu khác nhau, (vàng, cam, đỏ, hồng…), năm 11980 có nhập
thêm một số giống cánh kép từ Hà Nội. Từ 1997 đã nhập nội trên 20 giống của
Hà Lan cho chất lượng cao nhất với nhiều màu khác nhau.
Bảng thị trường hoa qua các thời điểm trong năm 2010
TT

Thời điểm

1

Valentin

Lượng hoa
Bán/ ngày/ cửa
hàng (bông)


800

2,000

3,000

5

Dịp tết âm lịch

300

1,500

2,500

Giá thị trường
(Đồng/ bông)
2,500

6
Ngày thường
200
1,000
2,000
Diện tích hoa đồng tiền của nước ta ngày càng tăng, nhất là vài năm trở lại
đây. Nhìn chung thị trường tiêu thụ hoa đồng tiền cũng ngày càng được mở rộng,
đặc biệt là các ngày lễ.


Nhìn chung công tác nghiên cứu về hoa đồng tiền ở Việt Nam vẫn còn hạn
chế, việc nghiên cứu mới chỉ tập trung chủ yếu vào quy trình kỹ thuật trồng,
chăm sóc, nhân giống, các biện pháp phòng trừ sâu bệnh. Việc nghiên cứu lai tạo
những giống có đặc điểm như mong muốn vẫn còn đang trong giai đoạn tiền
khởi.


21

CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài
2.1.1. Cơ sở khoa học
Có thể ví phân bón là “thức ăn” của cây trồng, để nâng cao hiệu lực của
phân bón, việc bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết định đến năng
suất chất lượng sản phẩm cây trồng, hiệu quả và thu nhập của người sản xuất. Vì
vậy phân bón là một yếu tố đầu tư rất được quan tâm và thường chiếm một tỷ lệ
đáng kể trong tổng chi phí sản xuất của người trồng trọt.
Bên cạnh vai trò của các loại phân thì việc sử dụng cũng phải dựa vào
nguyên lý sử dụng phân bón theo điều kiện thời tiết từng mùa mà việc sử dụng
phân bón cho phù hợp. Nếu bón phân mà không quan tâm đến điều kiện thời tiết
và mùa vụ thì rất dễ bị thất bại do không sử dụng được lợi thế của phân bón theo
mùa hoặc do bón quá nhiều so với khả năng đồng hoá của cây trong mùa đó mà
gây ra lốp đổ giảm năng suất và chật lượng sản phẩm.
Qua đây có thể thấy làm cơ sở khoa học cho việc bón phân cân đối và hợp
lý các yếu tố dinh dưỡng để tạo điều kiện tốt nhất cho cây hoa hấp thu dinh
dưỡng sinh trưởng và phát triển, cho năng suất cao để đạt được hiệu quả kinh tế.
2.1.2. Cơ sở thực tiễn
Việc bón phân thích hợp ngoài tác động tích cực đến kết cấu đất canh tác và
môi trường, nó còn đống vai trò quan trọng hơn khi nguồn tài nguyên thiên nhiên

- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lân đến sinh trưởng phát triển, năng
suất của các giống hoa trên đất đỏ Bazan thuộc xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Đàn,
tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lân đến chất lượng của các giống
hoa trên đất đỏ Bazan thuộc xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của hàm lượng lân đến khả năng chống chịu của
các giống hoa trên đất đỏ Bazan thuộc xã Nghĩa Bình, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh
Nghệ An.
2.2.4. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân 2011: Từ ngày 22/02 đến ngày
22/06
- Thí nghiệm được tiến hành tại xã Nghĩa Bình – nghĩa Đàn – Nghệ An
2.2.5. Vật liệu nghiên cứu thí nghiệm
- Giống hoa đồng tiền nhập nội từ Trung Quốc
+ Đỏ nhị đen- G1
+ Cam kép – G2
+ SX- G3
- Thí nghiệm sử dụng các loại phân bón


Phân chuồng



Phân đạm: Ure (NH2)2CO



Phân lân: Super lân Ca(H2PO4)2


IaG2

IVaG2

IIIaG2

IIaG2

IIaG3

IaG3

IvaG3

IIIaG3

IVbG1

IIIbG1

IIbG1

IbG1

IIIbG2

IbG2

IIbG2


IIIcG3

IVcG3


24

Tổng số ô thí nghiệm: 4 x 3 x 3 = 36 (ô)
Diện tích mỗi ô thí nghiệm: 5 x 2 = 10 (m2)
Tổng diện tích thí nghiệm 360 m2 không kể dãy bảo vệ
- Ghi chú: I, II, III, IV là các công thức thí nghiệm
a, b, c: là các lần nhắc lại
G1: Đỏ nhị đen
G2: Cam kép
G3: SX
2.4. Phương pháp nghiên cứu
+Khảo sát, đánh giá tập đoàn giống hoa nhập nội.
- Khảo sát thời gian sinh trưởng qua các thời kỳ sinh trưởng phát triển.
- Khảo sát đặc điểm hình thái cây
- Khảo sát tình hình sâu bệnh hại
- Khảo sát về số lượng và chất lượng hoa
- Đánh giá thị hiếu tiêu dùng
- Đánh giá, xác định các mẫu giống có triển vọng phục vụ sản xuất
- Đánh giá tính ổn định của các giống
+ Phương pháp thí nghiệm đánh giá
- Các thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng và được bố trí theo phương
pháp theo dõi của Phạm Chí Thành (1998).
- Thí nghiệm được bố trí ở xóm Bình Thành xã Nghĩa Bình – Nghĩa Đàn –
Nghệ An.
- Các thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại, 4 công

- Độ bền hoa cắt (ngày)
+ Thành phần sâu bệnh hại
+ Tỷ lệ cây bị sâu bệnh hại (%)
+ Chỉ số bệnh (%)
+ Hiệu quả kinh tế
- Tổng thu/ 1000m2 (đồng)
- Tổng chi/ 1000m2 (đồng)
- Thu nhập hỗn hợp (đồng) = Tổng thu – Tổng chi phí vật chất (không bao
gồm công lao động là do người lao động tự làm tất cả các công việc)


Trích đoạn Chiều rộng lỏ Ảnh hưởng của cỏc mức bún lõn đến số lỏ cuối cựng. Chiều dài lỏ cuối cựng KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status