BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
LỜI NÓI ĐẦU
Nói đến vẻ của đẹp thiên nhiên, không thể không nhắc đến hoa. Hoa là sự chắt lọc
kỳ diệu nhất những tinh túy mà thế giới cỏ cây ban tặng cho con người. Mỗi loài hoa ẩn
chứa một vẻ đẹp, một sức quyến rũ riêng mà qua đó con người có thể gửi gắm tâm hồn
mình.
Hoa không chỉ đem lại cho con người sự thư thái thoải mái khi thưởng thức mà
còn đem lại giá trị kinh tế cao cho người sản xuất hoa. So với các lĩnh vực nông nghiệp
khác, nghề trồng hoa kiểng là một ngành kinh tế còn non trẻ nhưng những năm qua đã
phát triển với tốc độ mạnh mẽ nhờ giá trị thiết thực mà nó đem lại, giá trị sản lượng hoa
cây cảnh toàn thế giới năm 1995 đạt 45 tỷ USD nhưng đến năm 2006 đã tăng lên 66 tỷ
USD. Còn ở Việt Nam, so với năm 1995, diện tích hoa cây cảnh năm 2010 đã tăng 4,6
lần, giá trị sản lượng tăng 15,67 lần đạt 3.564 tỷ đồng, trong đó xuất khẩu xấp xỉ 20
triệu USD. Hiện nay, đã có nhiều mô hình trồng hoa, cây cảnh cho thu nhập đạt 600
triệu đến trên 2 tỷ đồng (). Việc nâng cao hiệu quả
kinh tế trên đơn vị diện tích đất nhằm đảm bảo tính ổn định trong sản xuất, góp phần
thúc đẩy kinh tế phát triển là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược phát triển nông nghiệp ở
nước ta hiện nay.
Hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii) là một loại hoa đẹp, hình dáng, màu sắc phong
phú đa dạng từ đỏ, cam, vàng, trắng, phấn hồng, tím…hoa có kích thước to, cánh hoa
cứng nên là hoa lý tưởng để làm bó hoa, lẵng hoa và cắm hoa nghệ thuật được người
tiêu dùng rất ưa chuộng. Hơn nữa hoa có độ bền lâu và đặc biệt là khả năng ra hoa
quanh năm, tỷ lệ hoa thương phẩm cao, kỹ thuật trồng, chăm sóc đơn giản, ít tốn công,
đầu tư một lần có thể cho thu liên tục trong 4 đến 5 năm, hình dáng hoa cân đối, hài hòa,
giá trị thẩm mỹ cao nên hiện nay đang là một trong 10 loại hoa tiêu thụ mạnh nhất thế
giới. Vì thế diện tích trồng hoa đồng tiền ngày càng được mở rộng, lượng tiêu thụ và giá
cả ngày một tăng.
Nhờ những đặc điểm ưu việt trên, hoa đồng tiền đã được thị hiếu người tiêu dùng
rất ưa chuộng và hiện đang là loại hoa có giá trị kinh tế cao. Nắm bắt được thực trạng đó
rất nhiều người làm vườn đã chuyển sang trồng hoa đồng tiền và đã mang lại lợi nhuận
nhất định. Tuy nhiên việc bố trí thí nghiệm để xác định được chế độ dinh dưỡng hợp lý
1.1 SƠ LƯỢC VỀ HOA ĐỒNG TIỀN (Gerbera jamesonii)
1.1.1 Nguồn gốc
Hoa đồng tiền có tên khoa học là Gerbera jamesonii Bolus (còn gọi là hoa Mặt trời
hay hoa Phu Lăng), là một trong 10 loại hoa quan trọng nhất trên thế giới (sau hoa hồng,
cúc, lan, cẩm chướng, lay ơn…). Chi hoa đồng tiền Gerbera là một chi trong tổng số
loài cây cảnh của họ cúc Asteraceae, được Robert Jameson phát hiện lần đầu tiên ở Nam
Phi năm 1697. Nơi đây, hoa đồng tiền mọc tự do ở những nơi râm mát, ở độ cao so với
mặt biển từ 1.100 đến 1.700m và ở vĩ độ 260
o
Nam. Hoa được ông đưa về vườn thực vật
nước Anh. Irwin Lynch là người đầu tiên tiến hành lai tạo giữa các giống đồng tiền với
nhau. Sau đó người Pháp và người Hà Lan cũng tiến hành lai tạo và dần dần hai nước
này trở thành trung tâm lai tạo giống hoa Đồng tiền lớn của thế giới (Theo nguồn thông
tin từ ).
Chi Gerbera có khoảng 30-100 loài, các loài trong chi này có cụm hoa dạng đầu lớn
với các hoa tia hai môi nổi bật có màu vàng, da cam, trắng, hồng, hay đỏ… cụm hoa
dạng đầu có bề ngoài dường như một bông hoa, trên thực tế là tập hợp của hàng trăm
hoa nhỏ riêng biệt (Nguyễn Văn Hồng, 2009).
Theo Nguyễn Thị Vân (2008) Chi Gerbera rất phổ biến và được trồng làm cây cảnh
trang trí trong các mảnh vườn hay được cắt để cắm. Các giống tồn tại trong vườn chủ
yếu là lai ghép chéo giữa G.jamesonii và một loài hoa khác ở Nam Phi là G.viridifolia,
giống lai ghép chéo này có tên khoa học là Gerbera hybrida.
1.1.2 Phân bố
Hoa đồng tiền được trồng ở nhiều nước trên thế giới điển hình là: Hà Lan, Mỹ, Đức,
Nhật Bản, Trung Quốc Theo thống kê năm 1996 diện tích trồng hoa của Trung Quốc
chiếm 75.000 ha, giá trị sản lượng đạt 600 triệu đôla Mỹ. Trong khi đó tại Hà Lan trồng
8017 ha giá trị sản lượng 3 tỷ 590 triệu đôla Mỹ gấp 56 lần Trung Quốc. Đạt doanh thu
khủng như thế là do Hà Lan đã áp dụng rộng rãi nhu cầu công nghiệp hoá tự động hoá
và trên 80% hoa được trồng trong môi trường không cần đất ().
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Theo nguồn thông tin từ Sở NN & PTNN Lâm Đồng: Cây hoa Đồng tiền thuộc loại
thân thảo. Thân ngầm, không phân cành mà chỉ đẻ nhánh, có chiều cao từ 45 – 63cm, lá
và hoa phát triển từ thân.
1.2.3 Lá
Lá dài khoảng 15-25cm, rộng 5-8cm, xẻ thuỳ nông hoặc sâu (tuỳ thuộc từng loại
giống), mặt dưới lá được bao phủ lớp lông mịn, có khoảng 10 lá trên một cây. Lá mọc
chếch so với mặt đất một góc 15 – 45
o
. Lá có hình lông chim, mặt lưng lá có lớp lông
nhung (Nguyễn Xuân Linh, 1998).
1.2.4 Hoa
Hoa đồng tiền do hai loại hoa nhỏ hình lưỡi và hình ống tạo thành, là loại hoa tự đơn
hình đầu. Hoa hình lưỡi tương đối lớn mọc ở phía ngoài xếp thành một vòng hoặc vài
vòng nhỏ, do sự thay đổi hình thái và màu sắc nên được gọi là mắt hoa hoặc tâm hoa rất
được chú trọng. Trong quá trình hoa nở, hoa hình lưỡi nở trước, hoa hình ống nở theo
thứ tự từ ngoài vào trong, theo từng vòng một (Hà Tiểu Đệ và ctv, 2000).
Hoa đồng tiền thuộc loại hoa lưu niên, ra hoa quanh năm, hoa đẹp, có rất nhiều hoa.
Cây hoa có thể trồng ở vườn, ngoài ruộng, trong chậu, sử dụng để cắm lọ hoa, cắm
châm trên bát, đĩa… Hoa đồng tiền được chia ra các nhóm sau:
- Hoa kép: cánh hoa gồm nhiều tầng, cánh dày, bông to, đường kính có thể đạt tới
12-15cm, hoa tụ lại thành bông nằm ở đầu trục chính, cuống hoa dài từ 20-60cm (tùy
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
5
Hình 1.1 Hoa đồng tiền (Gerbera jamesonill) màu cam ĐT.03
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
theo giống và điều kiện trồng trọt), hoa bền, màu sắc phong phú vì vậy hoa đồng tiền
kép được ưa chuộng hơn cả. Điển hình là các chủng loại: kép đỏ, kép trắng, kép tím,
kép hồng, kép vàng gạch, kép vàng
- Hoa đơn: cánh hoa có một tầng hoặc 2 tầng xếp xen kẽ, mỏng và yếu, yếu hơn so
trong khi đó một lượng lớn chất hữu cơ chiếm đến 90,08%. Trong thành phần các oxit
kim loại thì SiO
2
chiếm 99,17% về khối lượng. Nhờ vào các thành phần trên mà tro trấu
có nhiều ưu điểm nhất định: có thể dùng làm phân bón rất tốt, dùng làm giá thể cho cây
trồng, khi phối trộn giá thể tro trấu vào đất sẽ tạo được độ thông thoáng trong đất, làm
cho đất tơi xốp, giúp thoát nước tốt, thoáng khí chính vì thế làm tăng khả năng tiếp xúc
giữa diện tích đất, giá thể và rễ cây, giúp rễ cây ăn sâu và lan nhanh trên tầng đất mặt
một cách dễ dàng (Ngô Bảo Khuyên, 2011).
1.3.3.2 Mụn dừa
Theo Nguyễn Ngọc Cao Thư, (2010) mụn dừa có nhiều ưu điểm: Tơi xốp, thoáng
khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi
cho đất, không có kim loại nặng, có thể dùng để sản xuất phân hữu cơ sinh hóa và là
nguyên liệu thể không thiếu trong việc trồng hoa đồng tiền. Tuy nhiên nó cũng không ít
những khuyết điểm cần khắc phục: là dễ mọc rêu, dễ mục nên phải phun thuốc ngừa sâu
bệnh hay thuốc trừ nấm thường xuyên.
Một trong những thuộc tính của mụn dừa là tính năng giữ ẩm, không giống với than
bùn khi điều kiện khô hạn thì khó khôi phục lại ẩm độ. Mụn dừa có tính ưa nước ngay
cả khi không khí khô hạn, đặc điểm này ảnh hưởng đến việc sử dụng nước và phân bón
một cách có hiệu quả. Đồng thời tính ưa nước của mụn dừa cũng ảnh hưởng đến chất
lượng và phẩm chất của cây (Nguyễn Thanh Tùng, 2011).
Việc bổ sung mụn dừa vào môi trường còn góp phần giúp cho sự phát triển của cây
con. Ta có thể sử dụng mụn dừa phối trộn chung với đất thịt và tro trấu, nhưng phải qua
xử lí bằng cách ngâm nước và xả cho hết độ mặn và giảm nồng độ của các độc tố, sẽ
không ảnh hưởng đến sự phát triển của bộ rễ sau này (Đỗ Lãng, 2004).
1.3.4 Nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự sinh trưởng,
phát triển, nở hoa và chất lượng hoa đồng tiền. Đa số các giống đồng tiền được trồng
hiện nay đều ưa khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 15 – 25
O
phụ thuộc vào thành phần quang phổ của ánh sáng, cường độ chiếu sáng và chất lượng
ánh sáng. Song khi cường độ ánh sáng vượt quá chỉ số tới hạn thì cường độ quang hợp
bắt đầu giảm, nắm bắt được đặc điểm trên, trong trồng trọt người ta có thể trồng
đồng tiền vào mùa nằng nóng bằng cách che lưới đen để giảm bớt cường độ ánh
sáng, giúp cho đồng tiền sinh trưởng, phát triển tốt phục vụ mục đích thương mại (Mai
Thu Hương 2006).
1.3.7. Đất
Đồng tiền không đòi hỏi khắt khe về đất, thích hợp với đất tơi xốp, màu mỡ, nhiều
mùn, thoáng khí, độ pH từ 6 - 6,5 phù hợp với đất thịt pha cát. Đất trồng cần thoát nước
tốt, mực nước ngầm thấp và ổn định, hết sức tránh trồng đồng tiền ở những nơi đất
trũng (Đặng Văn Đông và ctv, 2003).
1.3.8. Nước tưới
Quá trình sinh trưởng của thực vật đặc biệt nhạy cảm với sự thiếu nước. Giảm hàm
lượng nước cung cấp, tất yếu sẽ làm giảm lượng nước trong cây và điều đó lại gây ức
chế quá trình sinh trưởng. Sự phân bào và đặc biệt pha sinh trưởng kéo dài bị ngừng trệ.
Các quá trình sinh lí khác nhau cần có độ no nước cũng khác nhau. Quá trình sinh
trưởng đòi hỏi có độ no nước lớn nhất. Tế bào chỉ có thể sinh trưởng được trong trường
hợp nếu độ no nước không thấp hơn 95%. Để duy trì độ no nước ở các điểm sinh trưởng
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
8
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
của các cơ quan trên mặt đất của cây phải được các lớp lá có lớp cutin dày bảo vệ. Điểm
sinh trưởng của rễ không có sự bảo vệ tương tự vì vậy đòi hỏi độ ẩm đất cao để sinh
trưởng (Mai Thu Hương, 2006).
Theo Đặng Văn Đông và ctv (2000) và Phạm Thị Lịnh (2011): Đối với đồng tiền
không nên tưới phun mạnh lên khắp mặt đất vì vi sinh vật hại bắn lên cây, gây hại cho
cây. Nên lắp hệ thống tưới nhỏ giọt vào từng gốc cây hoặc tưới rãnh cho ngấm lên trên.
Nếu không có các điều kiện đó thì tưới nhẹ vào giữa hai hàng cây tránh làm đất bắn lên
lá. Đồng tiền không ưa ẩm quá, chúng dễ bị ngập úng vì vậy 2-3 ngày tưới một lần tuỳ
theo điều kiện thời tiết .
thường; thiếu canxi cuống hoa mềm không đứng lên được. Canxi giúp cho cây tăng khả
năng chịu nhiệt, hạn chế được tác dụng độc của các axit hữu cơ. Ngoài ra canxi còn có
tác dụng giảm chua.
- Phân hữu cơ: Chứa hầu hết các nguyên tố đa lượng và vi lượng mà cây hoa đồng
tiền cần, nó tạo sự cân đối về dinh dưỡng cho cây, đồng thời cải tạo đất (tăng độ mùn và
độ tơi xốp). Phân hữu cơ thường được bón lót (phân phải được ủ hoai mục).
- Các nguyên tố vi lượng: Rất cần cho đồng tiền. Triệu chứng thiếu vi lượng:
+ Thiếu Mg: Lá giòn, cong queo, có khi chuyển sang màu đỏ; lá ra ít, cuống lá dài,
nhỏ, gân lá non cứng và gồ ghề lên. Sự hình thành hoa bị ức chế, hoa nhỏ.
+ Thiếu Fe: Phiến lá vàng nhạt, gân lá trắng, cây ngừng sinh trưởng.
+ Thiếu Cu: Lá non cong, cây bắt đầu khô từ đỉnh ngọn, sau đó cả cây bị chết.
1.3.9.1 Phân qua rễ
Các loại phân bón qua rễ đều gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của
cây hoa đồng tiền.
* Phân NPK 16-16-8
Đóng vai trò qua trọng trong việc điều hòa dinh dưỡng cây trồng, giúp cây phát triển
tốt, tăng khả năng sinh trưởng, phát triển của cây, chống chịu sâu bệnh, tăng năng suất,
chất lượng nông sản, tăng lợi nhuận, duy trì và cải thiện độ phì nhiêu của đất
().
* Phân NPK 20-20-15
Giảm thất thoát phân bón, giảm lượng bón, tăng hiệu quả kinh tế, cây trồng sinh
trưởng phát triển mạnh, tăng đề kháng sâu bệnh, tăng năng suất, chất lượng nông sản và
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
10
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
độ phì đất, giảm ô nhiễm nguồn đất và nước, bảo vệ môi trường sinh thái
(www.phanbonmyviet.com.vn).
1.3.9.2 Phân bón lá
Cũng như bón qua rễ, phân bón lá cũng ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của cây.
11
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Sâu non và trưởng thành chích hút hoa. Cánh hoa bị hại có chấm trắng, cong lại.
Con trưởng thành có chiều dài 1mm, con cái màu nâu, con đực màu trắng vàng, có viền,
cánh trước và cánh sau xếp thành hàng, con non không có cánh. Bọ trĩ phát triển quanh
năm, vòng đời 33-65 ngày, có nhiều lứa khác nhau, thích điều kiện khô hạn và nhiệt độ
trên 23
o
C, có thể phun phòng trừ bằng thuốc Bassa 50EC (15-20ml/bình 8 lít),
Suprathion 40EC (15-20ml/bình 8 lít) (Đặng Văn Đông và ctv, 2003).
* Bệnh hại
Nguồn bệnh là mối nguy hại lớn nhất với tất cả các loại cây trồng trong đó có cây
hoa đồng tiền, nguồn bệnh chủ yếu do nấm gây ra các bệnh như: mốc tro, bệnh khuẩn
hạch, bệnh thối gốc, trong đó thối gốc là loại bệnh chủ yếu.
Bệnh thối gốc (Fusarium sp)
Thời kỳ đầu triệu chứng biểu hiện là lá cong cuộn lại, héo vàng, sau đó biến thành
màu đỏ tím, lá khô và chết. Gốc cổ rễ bị thối có màu nâu, vỏ long ra khi nhổ cây rễ
trong đất long ra. Nguồn lây bệnh là một loại nấm hình lưỡi liềm, cây sau khi nhiễm
bệnh thường khoảng sau 10-15 ngày thì chết. Nhiệt độ thấp và thời kỳ cây con bị bệnh
nhẹ, khi cây ra nụ bệnh thường phát sinh rất mạnh. Bệnh này khi đã phát sinh thành
dịch thì rất khó chữa nên chủ yếu phòng là chính, cách phòng bệnh như sau:
- Tiêu độc đất bằng Formol công nghiệp 37% làm loãng 30 lần, phun vào đất rồi
dùng nilon phủ đất 10-15 ngày, sau đó xới đất cho thuốc bốc hơi lên hết rồi trồng cây.
- Vệ sinh thường xuyên.
- Trong quá trình sinh trưởng của cây định kỳ rắc bột lưu huỳnh vào đất. Sử dụng
một số loại thuốc hóa học trừ bệnh: Benlate C (15-20g/bình 8lít), Validamycin 50SC
(10-20ml/bình 8lít phun 2 bình/ sào bắc bộ) (Đặng Văn Đông và ctv, 2003).
Bệnh đốm lá (Cercospora sp)
Giá thể: Mụn dừa, tro trấu, đất thịt tỉ lệ: 1:1:1.
Phân vô cơ:
- Bón qua rễ:
+ NPK 16-16-8: Gồm: N: 16%, P
2
O
5
: 16%, K
2
O: 8%, S: 13%, SiO
2
, CaO, MgO, Cu,
Zn, Fe: 0,7%.
+ NPK 20-20-15: Gồm: N: 20%, P
2
O
5
: 20%, K
2
O: 15%, CaO: 0,03%, MgO: 0,02%,
và các nguyên tố vi lượng khác: Cu, Zn, Fe, Mn, Bo, Mo, Co…
- Phun qua lá:
+ NPK 30-10-10: Gồm: N: 30%, P
2
O
5
: 10%. K
2
O: 10%, Ca: 0,05%, Mg: 0,1%, S:
0,2%, B: 0,02%, Fe: 0,1%, Zn: 0,05%, Cu: 0,05%.
IV
3
II
1
II
2
III
3
I
2
IV
1
I
3
IV
2
II
3
III
1
Trong đó: I, II, III, IV: Số NT
1, 2, 3: Số lần lặp lại/NT
Các nghiệm thức bao gồm:
Nghiệm thức 1 (NT1): bón 0,5g NPK 16-16-8/chậu.
Nghiệm thức 2 (NT2): bón 1g NPK 16-16-8/chậu.
Nghiệm thức 3 (NT3): bón 0,5g NPK 20-20-15/chậu.
Nghiệm thức 4 (NT4): bón 1g NPK 20-20-15/chậu.
2.2.2 Thực hiện thí nghiệm
2.2.2.1 Giống
Cây con hoa đồng tiền (Gerbera jamesonii) màu cam ĐT.03 đã ra mô và mua về từ
Hoa đồng tiền rất mẫn cảm với phân bón, bón phân càng đầy đủ hoa càng đẹp, màu
sắc đậm, lâu tàn. Tuy nhiên cần bón cân đối N:P:K theo tỷ lệ: 1:2:2. Nếu bón nhiều
đạm, cành hoa mềm yếu, khi cắt cắm vào lọ hoa dễ bị gục xuống. Định kỳ 30 ngày bón
1 lần, ngoài việc bón phân qua rễ NPK (16-16-8) và NPK (20-20-15), phun thêm phân
bón lá. Các loại phân bón lá có tác dụng kích thích cho cây phát triển tốt: NPK (30-10-
10) và NPK (20-20-20).
Bảng 2.1 Liều lượng phân bón cho cây hoa đồng tiền
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
16
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
* Tỉa lá, tỉa nụ
Để đảm bảo cho nụ phát dục bình thường và ra hoa cần phải có 5 lá công năng cung
cấp chất dinh dưỡng. Để cây sinh trưởng tốt thường xuyên ngắt bỏ lá già úa, lá sâu,
bệnh. Tỉa lá để cây đủ thông thoáng, đủ ánh sáng, giảm sâu bệnh.
Hoa quá nhiều cây không đủ dinh dưỡng nuôi hoa nên hoa nhỏ, cuống ngắn, số hoa
bị dị dạng nhiều, tỷ lệ hoa thương phẩm ít. Do vậy khi thấy số nụ nhiều quá nên tỉa bớt.
* Phòng trừ sâu bệnh
Trên cây hoa đồng tiền thường xuất hiện một số sâu bệnh hại: sâu đất cắn phá lúc
cây còn nhỏ; sâu xanh cắn phá thân, lá, hoa, rầy, rệp, nhện…bám chích hút lá, hoa, bệnh
sương mai, bệnh đốm lá, bệnh chết rũ…để phòng trừ sâu bệnh: Thường xuyên vệ sinh
dọn sạch cỏ dại xung quanh, thu gom lá già, lá bị sâu bệnh, bón phân đầy đủ, cân đối N,
P, K. Vào mùa mưa tăng cường bón kali. Định kì 10 ngày/lần phun thuốc ngừa bệnh cho
cây.
* Thu hoạch
Sau khi trồng 50-60 ngày là có thể thu hoạch (). Thời
gian thu hái hoa có ảnh hưởng rất lớn tới độ bền của hoa, thời điểm thu hái tốt nhất là
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
Nghiệm thức Phân bón Liều lượng Lần bón phân
NT1 NPK 16-16-8 0,5g/chậu 30 ngày/lần
lá và sau đó đọc trị số.
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
18
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
* Chiều dài phiến lá (cm):
Dùng thước đo từ vị trí gốc đầu cuống lá đến chót lá và đọc trị số.
* Chiều rộng lá (cm):
Đặt thước lên bề mặt lá đo từ trái sang phải chổ thiết diện lá lớn nhất.
* Tỷ lệ phần trăm ra hoa (%):
Đếm số cây ra hoa trên tổng số cây quan sát sau đó qui ra tỷ lệ phần trăm.
* Thời điểm ra hoa (ngày):
Ghi nhận sau bao nhiêu ngày xử lí phân nghiệm thức nào nở hoa sớm nhất
* Ngày hoa tàn (ngày):
Ghi nhận sau bao nhiêu ngày xử lí phân nghiệm thức nào hoa tàn muộn nhất
* Chiều dài cuống hoa (cm):
Đo từ vị trí gốc mà phát hoa mọc ra đến đầu cuống hoa và sau đó đọc trị số.
* Đường kính hoa (cm):
Dùng thước thẳng đặt thước lên hoa từ trái sang phải. Đo đường kính của từng hoa
trên mỗi chậu rồi đọc trị số.
2.2.3.2 Thời gian lấy chỉ tiêu
Định kỳ 15 ngày/lần theo dõi ghi nhận lại các chỉ tiêu.
2.2.3.3 Xử lí số liệu
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
19
Hình 2.3 Chiều dài cuống lá hoa đồng tiền sau 30 ngày theo dõi
Hình 2.4 Chiều dài cuống hoa đồng tiền sau 21 ngày nở hoa
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Số liệu được thu thập và xử lí bằng chương trình MSTAT-C. Phân tích phương sai
(ANOVA) để phát hiện sự khác biệt giữa các nghiệm thức ở mức ý nghĩa 1% và 5%.
CHƯƠNG 3
T
max
(
o
C)
Nhiệt độ
Thấp
nhất
T
min
(
o
C)
Ẩm độ
U (%)
Lượng
mưa
X (mm)
Tổng số
giờ nắng
(h)
2
3
4
5
6
27,0
28,1
28,6
28,0
GVHD: Th.s LÊ THỊ BẢO CHÂU SVTH: VÕ HIẾU NGHĨA
20
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
còn góp phần làm cho màu sắc hoa đẹp, nhiệt độ thích hợp nhất cho sự sinh trưởng,
phát triển của cây hoa từ 15-25
o
C. Qua bảng 3.1 ta thấy các tháng trồng hoa từ tháng
2 đến tháng 6, nhiệt độ nằm trong khoảng 21,3-35,6
o
C nhiệt độ cao hơn nhiệt độ tối
thích, chúng tôi tiến hành di dời những NT đặt dưới tán cây trong nhà lưới để giảm
nhiệt, cũng như bổ xung lượng nước tưới thường xuyên đảm bảo cho cây sinh trưởng
trong điều kiện tốt nhất.
Ẩm độ: là yếu tố quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây hoa đồng
tiên. Ẩm độ của các tháng khảo sát dao động từ 77-84%, ẩm độ không khí quá cao
làm phát sinh nhiều bệnh đặc biệt là bệnh thối gốc, bệnh đốm lá phát sinh, phát triển
mạnh ở thời điểm này.
Lượng mưa, giữa các tháng không đều, cụ thể tháng 2 lượng mưa ít không đủ
đáp ứng nhu cầu của cây vì vậy để cây hoa sinh trưởng, phát triển tốt tiến hành tưới
nước cho cây 2 l ầ n / n g à y nên cây vẫn sinh trưởng, phát triển bình thường,
nhưng đến tháng 3, 4, 5, 6 lượng mưa cao làm phát sinh phát triển nhiều sâu bệnh
hại.
Ánh sáng rất cần thiết cho quá trình quang hợp của cây. Tuy nhiên cây đồng tiền
không ưa ánh sáng trực xạ nên về mùa hè tháng 3, tháng 4 khi cường độ ánh sáng
cao chúng tôi tiến hành di dời vào nhà lưới Bộ môn để giảm bớt cường độ chiếu sáng
tạo điều kiện cho cây sinh trưởng, phát triển tốt, cho năng suất cao.
Trong giai đoạn khảo sát liều lượng NPK 16-16-8 và NPK 20-20-15 trên đối
tượng đồng tiền (Gerbera jamesonill) màu cam ĐT.03 từ 15-90 ngày sau khi theo dõi
chúng tôi thu được kết quả như sau:
Tỷ lệ sống của hoa đồng tiền đạt 100% ở NT2 (NPK 16-16-8 với 1g/chậu) và
năng thích nghi với điều kiện tự nhiên kém hơn so với NT2 và NT4. Thêm vào đó,
trong thời gian thí nghiệm (tháng 3, 4) liên tiếp xuất hiện nhiều cơn mưa lớn làm rách
lá, cây đổ ngã và chết hàng loạt. Ngược lại, hàm lượng dinh dưỡng K và các nguyên tố
vi lượng (Mo, Mg, Cu…) tồn tại trong NPK 16-16-8 (NT2) và NPK 20-20-15 (NT4) và
một phần trong phân qua lá: 20-20-20 và 30-30-10, chúng tham gia vào quá trình trao
đổi chất, hình thành vách tế bào, giúp cây cứng cáp, tăng sức chống chịu với sâu bệnh,
tăng tỷ lệ sống của cây. Hay nói khác hơn, theo Mai Thu Hương (2006): Các nguyên tố
vi lượng giữ vai trò quan trọng trong đời sống thực vật như: tham gia vào các quá trình
oxi hóa khử, quang hợp…tham gia vào các trung tâm hoạt tính các enzyme và vitamin,
tăng tính chống chịu của cây với điều kiện bất lợi của môi trường.
3.2.2 Số lá (lá)
Qua thời gian 90 ngày khảo sát sau khi cho đồng tiền vào chậu chăm sóc và xử lí với
4 liều lượng phân của 2 loại khác nhau. Nhìn chung giữa các nghiệm thức có sự khác
biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 5% và 1%. Chỉ tiêu về số lá có các giá trị
trung bình biến động từ 8,847-19,90 lá (Bảng 3.2).
Ở thời điểm 15 ngày sau khi xử lí phân, giữa các nghiệm thức đã tạo nên khác biệt
5% về ý nghĩa thống kê. NT 2 (NPK 16-16-8 1g/chậu) cho số lá cao nhất đạt 14,03 lá
khác biệt so với NT3 đạt 10,77 lá và NT4 chiếm 8,847 lá, nhưng lại không khác biệt so
với NT1 chiếm 11,70 lá, thấp nhất là NT4.
Bảng 3.2 Số lá hoa đồng tiền sau khi xử lí với 4 công thức phân qua rễ qua các
giai đoạn khảo sát
Nghiệm
thức
Ngày sau khi xử lí phân (16-16-8) và (20-20-15) (ngày)
15 30 45 60 75 90
1 11,70ab 13,40b 14,57ab 15,63ab 16,63ab 17,97ab
2 14,03a 15,73a 16,80a 17,40a 18,60a 19,90a
3 10,77b 11,57bc 12,63b 13,23c 14,03c 15,63b
4 8,847b 11,47c 12,23b 13,50bc 14,60bc 15,90b
Ý nghĩa * ** ** ** ** *
và môi trường.
3.2.3 Chiều dài cuống lá (cm)
Bảng 3.3 Chiều dài cuống lá (cm) hoa đồng tiền sau khi xử lí với 4 công thức
phân qua rễ qua các giai đoạn khảo sát
Nghiệm
thức
Ngày sau khi xử lí phân (16-16-8) và (20-20-15) (ngày)
15 30 45 60 75 90
1 12,17b 12,77b 13,00b 13,70b 14,47b 15,63b
2 8,830c 10,50c
10,87c
11,13c 11,40c 11,60c
3 15,40a 16,03a
17,27a
17,87a 18,07a 19,97a
4 10,63bc 11,07c
11,30c
11,63c 12,07c 12,20c
Ý nghĩa ** ** ** ** ** **
CV(%)
12,92 6,56 5,34 5,42 6,09 6,56
Ghi chú: Các số trong cùng một cột có chữ theo sau giống nhau thì không khác biệt qua
phân tích thống kê
** : Khác biệt qua phân tích thống kê ở mức ý nghĩa 1%
Qua bảng số liệu 3.3 cho thấy, trong trong giai đoạn xử lí phân qua rễ từ 15-90 ngày
giữa các nghiệm thức đã tạo nên khác biệt ý nghĩa thống kê qua phép thử LSD. Xét về
chiều dài cuống lá của hoa đồng tiền ở NT3 (khi phun 0,5 g NPK 20-20-15/chậu) đã tỏ
ra ưu thế vượt trội hơn, trung bình chiều dài cuống tăng từ 15,40-19,97cm suy ra tăng
4,57cm. Từ kết quả trên đã tạo nên khác biệt giữa NT3 với các NT còn lại: NT1 (từ
12,17-15,63cm, tăng 3,46cm), NT2 (từ 8,830-11,60cm, trung bình tăng 2,77cm) và NT4