Tài liệu ĐỀ ÁN: “ Ảnh hưởng của vận động hành lang tới vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam” - Pdf 90



LUẬN VĂN TỐT NGHIỆPẢnh hưởng của vận động
hành lang tới vụ kiện cá tra,
cá basa của Việt Nam
MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
Chương 1: Ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa. 4
1.1 Tổng quan về vụ kiện cá tra, cá basa của Mỹ đối với Việt Nam 4
1.2 Quá trình vận động hành lang trong vụ kiện 8
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá
basa. 13
2.1 Khái niêm về vận động hành lang 13
2.1.1 Định nghĩa vận động hành lang 13
2.1.2 Phương thức vận động hành lang trên thị trường Mỹ 13
2.1.3 Tác dụng và ý nghĩa của vận động hành lang 15
2.1.3.1 Tác dụng 15
2.1.3.2 Ý nghĩa 17
2.1.4 Sự cần thiết của vận động hành lang 18
2.2 Vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam 19
2.2.1 Sự vận động hành lang của vụ kiện cá tra, cá basa 19
2.2.2 Ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện 24
2.3 Nguyên nhân, ưu điểm, nhược điểm của Việt Nam trong vụ kiện 26
2.3.1 Ưu điểm 26
2.3.2 Nhược điểm 26
2.3.3 Nguyên nhân 27
Chương 3: Bài học kinh nghiệm và giải pháp về vận động hành lang đối với
chính phủ và các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế 29

điểm và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp còn hạn chế. Mặc dù
các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành công nhưng chúng ta cũng gặp
không ít các thất bại trên thị trường quốc tế mà lí do chính là chúng ta không nắm rõ
luật chơi trên các thị trường này. Một trong các ví dụ điển hình là vụ kiện các doanh
nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa của Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ
(CFA). Trong vụ kiện này CFA đã tận dụng hoạt động Vận động hành lang và đây
là lí do quan trọng để họ giành được chiến thắng.
Vì vậy để làm rõ về vận động hành lang và tác động của vận động hành lang đối
với hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt là đối với các tranh chấp kinh tế quốc tế
tôi xin viết đề án này với đề tài “ Ảnh hưởng của vận động hành lang tới vụ kiện
cá tra, cá basa của Việt Nam”. Do trình độ hạn chế nên đề án còn nhiều thiếu sót,
em rất mong được sự góp ý kiến của thầy cô giáo và bạn bè để nâng cao chất lượng
của đề án này và rút kinh nghiệm cho các bài viết sau.
Xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Tạ Lợi đã giúp đỡ tôi hoàn thành đề án này.

2

CHƯƠNG 1: ẢNH HƯỞNG CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG VỤ
KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA CỦA VIỆT NAM
1.1 TỔNG QUAN VỀ VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA CỦA MỸ ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Việt Nam bắt đầu xuất khẩu cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ vào năm 1996.
Năm 1998, lượng cá lát catfish không xương đông lạnh của Việt Nam xuất sang đây
mới chỉ có 260 tấn. Nhưng đến cuối năm 2001, con số ấy đã vọt lên 7.746 tấn. Với
giá thành rẻ hơn từ 0,08 đến 1USD/pound và chất lượng không thua kém catfish
Mỹ, cá Việt Nam đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêu thụ catfish của Mỹ,
bằng chứng là tổng giá trị catfish bán ra của Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo
Mỹ(CFA) giảm mạnh, từ 446 triệu USD năm 2000 xuống còn 385 triệu USD
năm 2001. Dưới sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ từ các sản phẩm cá của Việt
Nam, CFA đã phải hành động nhằm đánh bật con cá của Việt Nam ra khỏi thị
trường Mỹ.

mà người ta không thể tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá
của Mỹ. Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam đang chiếm tới
20% thị phần và hấp dẫn những nhà hàng, khách sạn, nhưng “ những nhà hàng,
khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý đến chất lượng của sản phẩm”.
Phóng viên Timothy nhận xét một cách khách quan rằng, những người nuôI cá
catfish Mỹ không thể chạy đua về giá với sản phẩm nhập khẩu từ Việt Nam bởi chi
phí đầu vào (đặc biệt là về nhân công và thuế ) quá cao. Trước sức ép của cá da trơn
đến từ Việt Nam, giá catfish Mỹ đã rớt thê thảm, từ 0.74 USD/ pound năm 2000
xuống còn 0.58 USD, thậm chí có lúc chỉ khoảng 0.2 USD/ pound. Theo Phó chủ
tịch Warren: “ Mức giá như vậy không đủ bù cho chi phí sản xuất. ít nhất phải bán
được 65-70 cent/ pound, may ra người nuôi cá mới có thể hoà vốn”.

4
Ngày 28/6/2002, CFA đã đệ đơn kiện lên Uỷ ban hiệp thương Quốc tế Mỹ (ITC).
Họ đã tính toán rất kĩ lưỡng trong cuộc đi kiện lần này, bằng chứng được thể hiện
ngay từ cách nộp đơn kiện của họ: nộp đơn vào đúng lúc 4 giờ chiều ngày làm việc
cuối cùng trong tuần (thứ 6, ngày 28/6). Theo luật Mỹchỉ sau 20 ngày nhận đơn
kiện, bên bị kiện sẽ phải điều trần trước ITC. Như vậy, phía Việt Nam đã mất đI 3
ngày để chuẩn bị. Là đơn kiện nhưng khối lượng rất đồ sộ với hơn 200 trang kèm
theo 37 phụ lục, trong đó phân tích chi tiết về tình hình thị trường cá nheo Mỹ, thị
phần cá da trơn filê đông lạnh của Việt Nam tại Mỹ cũng như ảnh hưởng của sản
phẩm “rẻ tiền” (theo cách gọi của CFA) đối với ngành sản xuất trong nước.
Chưa dừng lại ở đó, CFA tiếp tục chiến dịch của mình bằng cách nộp đơn lên Bộ
Thương mại Mỹ (DOC) cho rằng, đã xuất hiện “tình trạng khẩn cấp”.để chứng minh
điều đó CFA đã đưa ra các luận điểm:
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam biết cá tra, cá basa filê đông lạnh bị bán phá giá.
+ Các nhà xuất khẩu có thông tin về việc áp thuế chống phá giá đối với công ty
của mình với mức 25% hoặc cao hơn nữa trong giai đoạn điều tra ban đầu của DOC.
+ Các nhà xuất khẩu Việt Nam đã tăng số lượng hàng sang Mỹ sau khi CFA nộp
đơn yêu cầu điều tra chống phá giá .

tình hình sản xuất cá tra, cá basa tại các tỉnh vùng DBSCL của Việt Nam để xác
định lần cuối mức thuế xuất chống bán phá giá. Các doanh nghiệp Việt Nam đã đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu của đoàn điều tra và chứng minh năng lực cạnh tranh dựa
trên quy trình tổng hợp khép kín, từ sản xuất con giống, nuôi cá thương phẩm, đến
chế biến và xuất khẩu các sản phẩm cá tra, cá basa. Tuy nhiên, đoàn điều tra của
DOC đã bác bỏ các tài liệu từ phía các doanh nghiệp đưa ra và không công nhận quy
trình khép kín trong việc sản xuất cá tra, cá basa. Họ chỉ chấp nhận tính giá thành
sản phẩm này từ khâu chế biến và đem so sánh nó với nước thứ 3 là Bangladesh một
nước không có quy trình sản xuất khép kín như Việt Nam.
Đầu tháng 5, Bộ Thương mại Mỹ đã gợi ý Bộ Thương mại hai bên sẽ tiến hành
đàm phán “ về một thoả thuận về đình chỉ vụ kiện” này. Từ 2-9/5/2003, hai bên đàm

6
phán, nhưng do quan điểm của hai bên rất khác nhau, cả về phương pháp luận và
mức độ tiếp cận thị trường Mỹ cho mặt hàng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt
Nam nên hai bên đã không đạt được thoả thuận cuối cùng.
Ngày 17/6/2003, ITC mở phiêu điều trần vể vụ kiện cá tra, cá basa . Trong buổi
điều trần này, đại diện của chính phủ Việt Nam và đại diện của VASEP đã phát biểu
trước ITC về vụ kiện này và yêu cầu Mỹ xem xét vụ kiện một cách khách quan. Tuy
nhiên, đến ngày 23/7/2003 ITC đưa ra phán quyết cuối cùng về vụ kiện cá tra, cá
basa. Theo đó, cơ quan này đã khẳng định các doanh nghiệp Việt Nam bán cá tra, cá
basa vào thị trường Mỹ thấp hơn giá thành, gây tổn hại tới ngành sản xuất cá da trơn
của Mỹ và ấn định mức thuế suất bán phá giá rất cao, từ 36.84-63.88%.Cụ thể như
sau:
Tên công ty Mức thuế
Agifish 44,76%
Cataco 45,55%
Nam Việt 52,90%
Vĩnh Hoàn 36,84%
Các công ty khác

lớn thứ 3 ở Mỹ, sau Mississipi và Alabama) yêu cầu các hãng bán buôn không chỉ
xác định rõ xuất xứ của cá basa Việt Nam, mà còn gắn cho sản phẩm này mác “basa
Mekong”, “cá trê” hoặc “cá trê basa” để phân biệt với cái mà họ gọi là cá basa Mỹ
“thứ thiệt”. Hạ nghị sĩ Berry đã theo đuổi vấn đề này với giới chức thương mại của
Tổng thống Mỹ và cũng có dịp đề cập với các quan chức Việt Nam. Ông Berry
tuyên bố, sẽ tìm cách đưa các điều khoản trên vào dự luật khi nó được trình trước
Hạ viện hoặc được đưa ra thảo luận tại Thượng viện Mỹ tới đây. Duới sự tác động
mạnh mẽ của lobby, tháng 9/2001 các đại biểu miền Nam nước Mỹ đã trình lên
Quốc hội để tránh dùng từ catfish cho việc mua bán cá tra, cá basa trên thị trường
Mỹ. Không những thế, chính quyền liên bang còn quyết định chi 6 triệu USD để
mua catfish cho chương trình ăn trưa ở các trường học, chiêu bài này đã làm tăng
hình ảnh về thương hiệu catfish cho cá da trơn của Mỹ. Đến tháng 12/2001 Quốc
hội Mỹ thông qua lệnh cấm tạm thời, theo đó, chỉ có catfish của Mỹ mới được gọi là

8
catfish, còn cá của Việt Nam phải được gọi bằng tên basa hay tra. Vậy do đâu lại có
lệnh cấm oái ăm về tên gọi như vậy? Các nhà vận động hành lang cho ngư dân Mỹ
lập luận rằng, cá của Việt Nam không hẳn là catfish và người Việt Nam đang lợi
dụng thành quả tiếp thị của những người nuôi cá Mỹ.
Tuy nhiên, sau khi lệnh cấm trên có hiệu lực, cá tra, cá basa của Việt Nam xuất
khẩu sang thị trường Mỹ vẫn được người tiêu dùng chấp nhận, điều đó chứng tỏ
rằng sản phẩm này vẫn được người dân Mỹ chấp nhận và cũng khẳng định rằng cá
Việt Nam không “lợi dụng thành quả tiếp thị của các nhà nuôi cá Mỹ”, cá của Việt
Nam được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận là do có lợi thế về giá cả và chất lượng.
Lo ngại trước tình hình đó, CFA lại bắt đầu một chiến dịch chống cá tra, basa filê
đông lạnh của Việt Nam bằng cách kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá sản
phẩm này sang thị trường Mỹ. Chiến dịch được khơi mào ở thành phố Indianola
(bang Mississipi, nơi đóng đô của CFA và chiếm tới 94% sản phẩm catfish của toàn
bộ miền Nam nước Mỹ). Nhóm ngư dân này sẽ thuê hẳn một vài chuyên gia tầm cỡ
từ Washington hỗ trợ cho các

chu trình khép kín như các doanh nghiệp tại Việt Nam, nên giá thành sản xuất được
tính từ giai đoạn chế biến. Tại sao họ lại đưa ra quyết định trái ngược lại với những
gì họ đã khẳng định? Đó chính là do áp lực của các lobby của các tập đoàn nuôi cá
da trơn Mỹ.
Cuối tháng 4/2003, Bộ Thương mại Mỹ đã gợi ý Bộ Thương mại hai bên sẽ tiến
hành đàm phán “ về một thoả thuận đình chỉ vụ kiện” này. Từ ngày 2-9/5/2003, hai
bên đã tiến hành đàm phán nhưng do quan điểm rất khác nhau nên cuộc đàm phán
đã không đạt được thoả thuận cuối cùng. Mỹ đã đưa ra hạn mức xuất khẩu cá tra,
basa filê đông lạnh của Việt Nam vào Mỹ với mức rất thấp và ấn định giá bán xuất
khẩu rất cao, không thực tế nhằm cản trở việc nhập khẩu sản phẩm cá tra, basa của
Việt Nam. Trong cuộc đàm phán này, Việt Nam dựa vào chu trình sản xuất khép kín
đối với loại sản phẩm này và đề xuất áp dụng hạn ngạch đối với cá tra, cá basa ở các
mức: năm 2003 bằng 90%; năm 2004 bằng 95%; năm 2005 bằng 100% mức năm

10
2002. Ngày 23/7/2003, ITC tiến hành bỏ phiếu để đưa ra kết luận, tham gia bỏ phiếu
có 4 thành viên của ITC ( thiếu 2 người) và cả 4 thành viên này đều bỏ phiếu thuận
theo DOC và khẳng định Việt Nam đã bán phá giá cá tra, basa sang thị trường Mỹ.
Về phía Việt Nam, theo luật của Mỹ, công ty đại diện pháp lý không được sử
dụng vận động hành lang, vì vậy, VASEP đã thuê hai công ty nổi tiếng để thực hiện
việc này. Nhờ việc sử dụng vận động hành lang, chúng ta đã có được sự ủng hộ của
6 thượng nghị sĩ, các nghị sĩ này đã yêu cầu Quốc hội Mỹ xem xét lại các quyết định
của mình trong cả cuộc chiến về tên gọi catfish cũng như cuộc chiến chống bán phá
giá, nhưng những yêu cầu này đã bị bác bỏ. Trong thời gian diễn ra vụ kiện có rất
nhiều tờ báo nổi tiếng lên tiếng ủng hộ Việt Nam, và sản phẩm cá tra, cá basa đã
được rất nhiều dư luận Mỹ ủng hộ.
Ngày 7/8/2003, DOC chính thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với
11 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cá tra, cá basa filê đông lạnh sang thị trường
nước này. Sau khi đưa ra quyết định, đã có rất nhiều dư luận trên thế giới phản đối
kết luận này của Mỹ, trong đó có sự chỉ trích của Thủ tướng Malayxia và của Tổng

các vấn đề khi xảy ra tranh chấp nhằm đạt được lợi ích của cộng đồng mà mình đại
diện.
2.1.2
PHƯƠNG THỨC VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ
Mỹ là quê hương của chủ nghĩa lobby(lobbism), không chỉ ở thị trương Mỹ, mà
ngay tại các thị trường khác lobby được coi là một hoạt động bình thường và rất tích
cực. Washington là thủ đô của dân chuyên lobby, gồm 129 cựu nghị sĩ thường
xuyên “lo lắng” của những cộng đồng, chủng tộc khác nhau. Lobby ở Mỹ được
thành lập thành nhóm thường được gọi là “các đại lý có ảnh hưởng”. Các nhóm
lobby ở Washington đạt được rất nhiều hiệu quả, khi mỗi nhóm xuất phát từ quyền
lợi bản thân tiến hành giám định kĩ thuật chi li tỷ mỉ ( và biết rằng các đối thủ cạnh
tranh không hề kém cạnh) và trả giá cho việc này. Theo thống kê, hiện nay có
khoảng 3700 nhóm lợi ích đặc biệt đăng kí vận động hành lang.

12
Việc vận động hành lang được thực hiện ở tất cả các khía cạnh trên đất Mỹ từ
kinh tế, chính trị, pháp luật...Đối với các nghị sĩ Quốc hội Mỹ thì vận động hành
lang là hoạt động cần thiết và không thêt tách rời đối với tiến trình lập pháp của Hoa
Kỳ. Theo thống kê, có hơn 90% nỗ lực của các lobby hướng vào giải quyết các vấn
đề đối nội, tuy nhiên cung có khoảng 600 chuyên gia thường xuyên làm việc với
Quốc hội Mỹ về vấn đề đối ngoại. Đối với tiến trình lập pháp, các lobby thường trực
tiếp đưa ra các dự thảo luật hoặc đóng góp ý kiến của mình cho các dự thảo luật và
vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các nghị sĩ Quốc hội khác nhằm đạt được lợi
ích của nhóm cộng đồng do mình đại diện. Về chính trị, vận động hành lang ảnh
hưởng trực tiếp tới quá trình quá trình bầu cử của một quốc gia, đặc biệt là ở Mỹ bầu
cử theo phổ thông đầu phiếu và Hạ viện phải ra ứng cử định kì hai năm một lần. Các
cử tri có thể thể hiện sự ủng hộ của mình cho một nghị sĩ không chỉ bằng các lá
phiếu mà có thể bằng cả việc đóng góp tiền cho quỹ bầu cử của nhân vật ấy. Từ đó
các nghị sĩ quốc hội nhận ra rằng trách nhiệm của họ là làm hàI lòng các cử chi đã
bỏ phiếu cho họ. Để làm được điều đó, họ phải bỏ lá phiếu lập pháp phản ánh được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status