BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC .....
KHOA ....
ĐỀ ÁN Ảnh hưởng của vận động
hành lang tới vụ kiện cá
tra, cá basa của Việt Nam
MỤC LỤC
Lời nói đầu 3
Chương 1: Ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá basa. 4
1.1 Tổng quan về vụ kiện cá tra, cá basa của Mỹ đối với Việt Nam 4
1.2 Quá trình vận động hành lang trong vụ kiện 8
Chương 2: Phân tích ảnh hưởng của vận động hành lang trong vụ kiện cá tra, cá
basa. 13
2.1 Khái niêm về vận động hành lang 13
2.1.1 Định nghĩa vận động hành lang 13
2.1.2 Phương thức vận động hành lang trên thị trườ
ng Mỹ 13
2
LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh
chóng thông qua các hiệp định song phương, đa phương giữa các quốc gia. Trong
quá trình này, hợp tác kinh tế quốc tế là khía cạnh quan trọng nhất và giành được sự
ưu tiên nhiều nhất trên các bàn đàm phán.
Cũng giống như các nước khác, Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình
toàn cầu hoá này. Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với khoảng 170 nước trên thế
giới, là thành viên của khu vục mậ
u dịch tự do ASEAN, đã kí kết nhiều hiệp định
song phương với nhiều nước trên thế giới và chúng ta vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh
quá trình hợp tác hoá cả về chất lượng và số lượng, đặc biệt là về kinh tế. Tuy nhiên,
chúng ta mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập chung hoá sang nền kinh tế thị trường
được một thời gian ngắn vì vậy nền kinh tế thị
trường của chúng ta còn nhiều nhược
điểm và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp còn hạn chế. Mặc dù
các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành công nhưng chúng ta cũng gặp
không ít các thất bại trên thị trường quốc tế mà lí do chính là chúng ta không nắm rõ
luật chơi trên các thị trường này. Một trong các ví dụ điển hình là vụ kiện các doanh
nghiệp Việt Nam bán phá giá cá tra, cá basa của Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo Mỹ
(CFA). Trong vụ ki
ện này CFA đã tận dụng hoạt động Vận động hành lang và đây
là lí do quan trọng để họ giành được chiến thắng.
Vì vậy để làm rõ về vận động hành lang và tác động của vận động hành lang đối
với hoạt động kinh doanh quốc tế, đặc biệt là đối với các tranh chấp kinh tế quốc tế
tôi xin viết đề án này với đề tài “ Ảnh hưởng của vận động hành lang tới vụ
kiện
12/2001, bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, Quốc hội Mỹ đã thông qua lệnh
cấm tạm thời (có hiệu lực tới ngày 30/9/2002), theo đó, chỉ có catfish của Mỹ mới
được gọi là catfish, còn cá của Việt Nam phải được gọi bằng tên basa hay tra. Sau
khi d
ự luật được thông qua, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không chỉ của dư
luận Mỹ mà còn chịu sự phản đối của dư luận thế giới. Thượng nghị sĩ Phil Gramm,
4
bang Texas khẳng định: “ Những người kiếm sống trong ngành khoa học nuôi cá gọi
nó là catfish, vậy cớ sao chúng ta(Quốc hội Mỹ) lại muốn gọi nó khác đi”. Ông
Gramm cùng thượng nghị sĩ John Mccain đưa ra một điều khoản bổ xung nhằm bác
bỏ dự luật cấm Việt Nam sử dụng nhãn catfish, tuy nhiên, đề nghị của hai ông đã bị
bác bỏ (theo báo Washington Post ngày 27/122001).
Sau khi giành chiến thắng về tên gọi catfish, Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo
Mỹ(CFA) ti
ếp tục mở một cuộc tấn công khác: khởi kiện các doanh nghiệp Việt
Nam bán phá giá cá tra, cá basa. Theo Timothy R. Brown, tác giả bài viết “Ngành
nuôI cá catfish Mỹ tiếp tục chiến đấu” đăng trên AP ngày 26/2, khơI mào chiến dịch
mới chính là những ngư dân ở thành phố Indianola (bang Mississipi, nơi đóng đô
của CFA và chiếm tới 94% sản phẩm catfish của toàn bộ miền Nam nước Mỹ).
Nhóm ngư dân này sẽ thuê hẳn một vài chuyên gia tầm cỡ từ Washington hỗ trợ
cho
các văn phòng tư vấn luật của bang, nhằm nỗ lực chuẩn bị cho đòn trừng phạt đối
với cá giá rẻ của Việt Nam. Phó chủ tịch điều hành CFA Hugh Warren quy chụp
cho những lô cá xuất khẩu của Việt Nam là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng
mà người ta không thể tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá
củ
a Mỹ. Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam đang chiếm tới
20% thị phần và hấp dẫn những nhà hàng, khách sạn, nhưng “ những nhà hàng,
khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý đến chất lượng của sản phẩm”.
+ Tính từ ngày 28/6/2002, số lượng hàng xuất khẩu sang Mỹ tăng ở mức 15%
hoặc cao hơn nữa so với thờ
i gian trước ngày nộp đơn yêu cầu điều tra chống phá
giá.
+ Cần áp dụng hồi thuế chống phá giá để đảm bảo hiệu quả của thuế chống phá
giá sẽ được ban hành vào ngày 24/1/2003.
Tháng 11/2002 bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, DOC đã kết luận Việt
Nam là nước có nền kinh tế phi thị trường, việc kết luận này dựa trên đánh giá theo
các tiêu chí của Mỹ nó đặt cơ s
ở cho việc xem xét áp dụng mức thuế chống bán phá
giá đối với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Ngày 28/1/2003, DOC tạm thời
xác định mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa của Việt Nam trong
6
khoảng từ 31,45% - 63,88% tuỳ theo nhóm mặt hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cá
tra, cá basa của nước ta. Cụ thể như sau:
Tên công ty Mức thuế
Agifish 31,45%
Cataco 41,06%
Nam Việt 38,09%
Vĩnh Hoàn 37,94%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
36,76%
Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%
Agifish 44,76%
Cataco 45,55%
Nam Việt 52,90%
Vĩnh Hoàn 36,84%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
44,66%
Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%
Sau khi đưa ra phán quyết thiếu công bằng, đến ngày 7/8/2003, Bộ Thương mại
Mỹ chính thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với 11 doanh nghiệp Việt
Nam xuất khẩu mặt hàng filê đông lạnh cá tra, cá basa vào thị trường này.Về phía
Việt Nam, sau khi lấy ý kiến, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam
8
đều nhất trí tiếp tục theo đuổi vụ kiện. VASEP sẽ nộp đơn kiện lên toà án quốc tế
thương mại Mỹ.
1.2
QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG VỤ KIỆN
Năm 1998, lượng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường Mỹ chỉ có 260 tấn, nhưng đến năm 2001 con số này đã tăng vọt lên 7.746
tấn. Lo ngại trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đó, hiệp hội nuôi catfish ở các
tiểu bang Mississipi, Lousiana, Askansa, Alabama đã sử dụng vận động hành lang
(Lobby) để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình, dưới áp lực của các lobby củ
khẩu sang thị trườ
ng Mỹ vẫn được người tiêu dùng chấp nhận, điều đó chứng tỏ
rằng sản phẩm này vẫn được người dân Mỹ chấp nhận và cũng khẳng định rằng cá
Việt Nam không “lợi dụng thành quả tiếp thị của các nhà nuôi cá Mỹ”, cá của Việt
Nam được người tiêu dùng Mỹ chấp nhận là do có lợi thế về giá cả và chất lượng.
Lo ngại trước tình hình đó, CFA l
ại bắt đầu một chiến dịch chống cá tra, basa filê
đông lạnh của Việt Nam bằng cách kiện các doanh nghiệp Việt Nam bán phá giá sản
phẩm này sang thị trường Mỹ. Chiến dịch được khơi mào ở thành phố Indianola
(bang Mississipi, nơi đóng đô của CFA và chiếm tới 94% sản phẩm catfish của toàn
bộ miền Nam nước Mỹ). Nhóm ngư dân này sẽ thuê hẳn một vài chuyên gia tầm cỡ
từ Washington hỗ trợ cho các
văn phòng tư vấn luật của bang và vận động hành lang
cho vụ kiện. Chiêu bài mà họ sử dụng trong cuộc chiến này đó là qui cho những lô
cá xuất khẩu của Việt Nam là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng mà người ta
không thể nào tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như ở các trại cá của Mỹ (
phó Chủ tịch điều hành CFA). Ông này cho rằng mặc dù s
ản phẩm rẻ tiền của Việt
Nam đang chiếm tới 20% thị phần và rất hấp dẫn các nhà hàng, khách sạn, nhưng
“những nhà hàng khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý tới chất
lượng của sản phẩm. Thêm vào đó các nhà vận động hậu trường cho vụ kiện còn
cho rằng cá tra, cá basa của Việt Nam được nuôi trong môi trường bị nhiễm chất độc
màu da cam gây ảnh hưởng t
ới sức khoẻ của người tiêu dung, trong khi đó chính
người Mỹ đã rải chất độc này trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.
Ngày 28/6/2002, CFA đệ đơn kiện lên Uỷ ban hiệp thương quốc tế Mỹ kiện Việt
Nam bán phá giá cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ. Cùng với thời gian đó, ngày
10
mức: năm 2003 bằng 90%; năm 2004 bằng 95%; năm 2005 bằng 100% mức năm
11
2002. Ngày 23/7/2003, ITC tiến hành bỏ phiếu để đưa ra kết luận, tham gia bỏ phiếu
có 4 thành viên của ITC ( thiếu 2 người) và cả 4 thành viên này đều bỏ phiếu thuận
theo DOC và khẳng định Việt Nam đã bán phá giá cá tra, basa sang thị trường Mỹ.
Về phía Việt Nam, theo luật của Mỹ, công ty đại diện pháp lý không được sử
dụng vận động hành lang, vì vậy, VASEP đã thuê hai công ty nổi tiếng để thực hiện
việc này. Nhờ việc sử dụ
ng vận động hành lang, chúng ta đã có được sự ủng hộ của
6 thượng nghị sĩ, các nghị sĩ này đã yêu cầu Quốc hội Mỹ xem xét lại các quyết định
của mình trong cả cuộc chiến về tên gọi catfish cũng như cuộc chiến chống bán phá
giá, nhưng những yêu cầu này đã bị bác bỏ. Trong thời gian diễn ra vụ kiện có rất
nhiều tờ báo nổi tiếng lên tiếng
ủng hộ Việt Nam, và sản phẩm cá tra, cá basa đã
được rất nhiều dư luận Mỹ ủng hộ.
Ngày 7/8/2003, DOC chính thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với
11 doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu cá tra, cá basa filê đông lạnh sang thị trường
nước này. Sau khi đưa ra quyết định, đã có rất nhiều dư luận trên thế giới phản đối
kết luận này của Mỹ, trong đó có sự chỉ
trích của Thủ tướng Malayxia và của Tổng
Thư kí Liên Hợp Quốc. Cũng trong ngày 7/8, VASEP đã gửi đơn kiện lên Toà án
Quốc tế Thương mại Hoa Kỳ, các thành viên của VASEP đều nhất trí theo đuổi vụ
kiện này tới cùng . “VASEP sẽ kiện về sự bất nhất giữa quyết định sơ bộ và quyết
định cuối cùng của ITC, họ không tôn trọng ngay chính kết luận và lời cam kết của
h
ọ” ( theo lời của ông Nguyễn Hữu Dũng, Tổng Thư kí VASEP).
thành lập thành nhóm thường được gọi là “các đại lý có ảnh hưởng”. Các nhóm
lobby ở Washington đạt đượ
c rất nhiều hiệu quả, khi mỗi nhóm xuất phát từ quyền
lợi bản thân tiến hành giám định kĩ thuật chi li tỷ mỉ ( và biết rằng các đối thủ cạnh
tranh không hề kém cạnh) và trả giá cho việc này. Theo thống kê, hiện nay có
khoảng 3700 nhóm lợi ích đặc biệt đăng kí vận động hành lang.
13
Việc vận động hành lang được thực hiện ở tất cả các khía cạnh trên đất Mỹ từ
kinh tế, chính trị, pháp luật...Đối với các nghị sĩ Quốc hội Mỹ thì vận động hành
lang là hoạt động cần thiết và không thêt tách rời đối với tiến trình lập pháp của Hoa
Kỳ. Theo thống kê, có hơn 90% nỗ lực của các lobby hướng vào giải quyết các vấn
đề đối nội, tuy nhiên cung có khoả
ng 600 chuyên gia thường xuyên làm việc với
Quốc hội Mỹ về vấn đề đối ngoại. Đối với tiến trình lập pháp, các lobby thường trực
tiếp đưa ra các dự thảo luật hoặc đóng góp ý kiến của mình cho các dự thảo luật và
vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các nghị sĩ Quốc hội khác nhằm đạt được lợi
ích của nhóm cộng đồng do mình
đại diện. Về chính trị, vận động hành lang ảnh
hưởng trực tiếp tới quá trình quá trình bầu cử của một quốc gia, đặc biệt là ở Mỹ bầu
cử theo phổ thông đầu phiếu và Hạ viện phải ra ứng cử định kì hai năm một lần. Các
cử tri có thể thể hiện sự ủng hộ của mình cho một nghị sĩ không chỉ bằng các lá
phiếu mà có thể
bằng cả việc đóng góp tiền cho quỹ bầu cử của nhân vật ấy. Từ đó
các nghị sĩ quốc hội nhận ra rằng trách nhiệm của họ là làm hàI lòng các cử chi đã
bỏ phiếu cho họ. Để làm được điều đó, họ phải bỏ lá phiếu lập pháp phản ánh được
phần lớn mối quan tâm của các cử chi hoặc chuẩn bị để bào chữ
a không bị bỏ phiếu
phản đối khi thời gian bầu cử tới gần. Mặc dù các hạ nghị sĩ đương nhiệm thường
được giới lãnh đạo Hạ viện và Thượng viện chỉ thị bỏ phiếu theo quan điểm của