Tài liệu Đề tài “ Ảnh hưởng của vận động hành lang tới vụ kiện cá tra, cá basa của Việt Nam” - Pdf 98

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐỀ TÀI: Ảnh hưởng của vận động hành
lang tới vụ kiện cá tra, cá basa của Việt
Nam
2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, quá trình toàn cầu hoá đang diễn ra hết sức nhanh
chóng thông qua các hiệp định song phương, đa phương giữa các quốc gia. Trong
quá trình này, hợp tác kinh tế quốc tế là khía cạnh quan trọng nhất và giành được sự
ưu tiên nhiều nhất trên các bàn đàm phán.
Cũng giống như các nước khác, Việt Nam đang tham gia tích cực vào quá trình
toàn cầu hoá này. Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với khoảng 170 nước trên thế
giới, là thành viên của khu vục mậu dịch tự do ASEAN, đã kí kết nhiều hiệp định
song phương với nhiều nước trên thế giới và chúng ta vẫn đang tiếp tục đẩy mạnh
quá trình hợp tác hoá cả về chất lượng và số lượng, đặc biệt là về kinh tế. Tuy nhiên,
chúng ta mới chuyển đổi từ nền kinh tế tập chung hoá sang nền kinh tế thị trường
được một thời gian ngắn vì vậy nền kinh tế thị trường của chúng ta còn nhiều nhược
điểm và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế của các doanh nghiệp còn hạn chế. Mặc dù
các doanh nghiệp Việt Nam đã đạt được nhiều thành công nhưng chúng ta cũng gặp
không ít các thất bại trên thị trường quốc tế mà lí do chính là chúng ta không nắm rõ

được nhập vào nước này với tên gọi catfish và đạo luật HR.2646 cấm hoàn toàn việc
dùng tên catfish cho các loại cá tra, cá basa của Việt Nam trong tất cả các khâu bán
lẻ, bán sỉ, nhà hàng, thông tin, quảng cáo trong vòng 5 năm. Chưa dừng ở đây,
CFA vin tiếp vào điều khoản 10806 của đạo luật An ninh nông trại và Đầu tư nông
thôn mới nhất để xác lập chủ quyền tuyệt đối trên thương hiệu catfish. Tháng
12/2001, bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, Quốc hội Mỹ đã thông qua lệnh
cấm tạm thời (có hiệu lực tới ngày 30/9/2002), theo đó, chỉ có catfish của Mỹ mới
được gọi là catfish, còn cá của Việt Nam phải được gọi bằng tên basa hay tra. Sau
khi dự luật được thông qua, nó đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ không chỉ của dư
luận Mỹ mà còn chịu sự phản đối của dư luận thế giới. Thượng nghị sĩ Phil Gramm,
4

bang Texas khẳng định: “ Những người kiếm sống trong ngành khoa học nuôi cá gọi
nó là catfish, vậy cớ sao chúng ta(Quốc hội Mỹ) lại muốn gọi nó khác đi”. Ông
Gramm cùng thượng nghị sĩ John Mccain đưa ra một điều khoản bổ xung nhằm bác
bỏ dự luật cấm Việt Nam sử dụng nhãn catfish, tuy nhiên, đề nghị của hai ông đã bị
bác bỏ (theo báo Washington Post ngày 27/122001).
Sau khi giành chiến thắng về tên gọi catfish, Hiệp hội các nhà nuôi cá nheo
Mỹ(CFA) tiếp tục mở một cuộc tấn công khác: khởi kiện các doanh nghiệp Việt
Nam bán phá giá cá tra, cá basa. Theo Timothy R. Brown, tác giả bài viết “Ngành
nuôI cá catfish Mỹ tiếp tục chiến đấu” đăng trên AP ngày 26/2, khơI mào chiến dịch
mới chính là những ngư dân ở thành phố Indianola (bang Mississipi, nơi đóng đô
của CFA và chiếm tới 94% sản phẩm catfish của toàn bộ miền Nam nước Mỹ).
Nhóm ngư dân này sẽ thuê hẳn một vài chuyên gia tầm cỡ từ Washington hỗ trợ cho
các văn phòng tư vấn luật của bang, nhằm nỗ lực chuẩn bị cho đòn trừng phạt đối
với cá giá rẻ của Việt Nam. Phó chủ tịch điều hành CFA Hugh Warren quy chụp
cho những lô cá xuất khẩu của Việt Nam là những sản phẩm rẻ tiền, kém chất lượng
mà người ta không thể tìm thấy ở một xưởng sản xuất cỡ gia đình như các trại cá
của Mỹ. Ông này cho rằng, mặc dù sản phẩm rẻ tiền của Việt Nam đang chiếm tới
20% thị phần và hấp dẫn những nhà hàng, khách sạn, nhưng “ những nhà hàng,

+ Cần áp dụng hồi thuế chống phá giá để đảm bảo hiệu quả của thuế chống phá
giá sẽ được ban hành vào ngày 24/1/2003.
Tháng 11/2002 bất chấp sự phản đối từ phía Việt Nam, DOC đã kết luận Việt
Nam là nước có nền kinh tế phi thị trường, việc kết luận này dựa trên đánh giá theo
các tiêu chí của Mỹ nó đặt cơ sở cho việc xem xét áp dụng mức thuế chống bán phá
giá đối với mặt hàng cá tra, cá basa của Việt Nam. Ngày 28/1/2003, DOC tạm thời
xác định mức thuế chống bán phá giá đối với cá tra, cá basa của Việt Nam trong
6

khoảng từ 31,45% - 63,88% tuỳ theo nhóm mặt hàng và doanh nghiệp xuất khẩu cá
tra, cá basa của nước ta. Cụ thể như sau:

Tên công ty Mức thuế
Agifish 31,45%
Cataco 41,06%
Nam Việt 38,09%
Vĩnh Hoàn 37,94%
Các công ty khác
có tham gia vụ
kiện
36,76%
Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%

Tháng 3/2003, DOC đã cử đoàn quan chức sang Việt Nam để nghiên cứu điều tra
tình hình sản xuất cá tra, cá basa tại các tỉnh vùng DBSCL của Việt Nam để xác
định lần cuối mức thuế xuất chống bán phá giá. Các doanh nghiệp Việt Nam đã đáp
ứng đầy đủ các yêu cầu của đoàn điều tra và chứng minh năng lực cạnh tranh dựa

Các công ty
không tham gia
vụ kiện
63,88%

Sau khi đưa ra phán quyết thiếu công bằng, đến ngày 7/8/2003, Bộ Thương mại
Mỹ chính thức công bố áp đặt thuế chống bán phá giá đối với 11 doanh nghiệp Việt
Nam xuất khẩu mặt hàng filê đông lạnh cá tra, cá basa vào thị trường này.Về phía
Việt Nam, sau khi lấy ý kiến, các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra, basa của Việt Nam
8

đều nhất trí tiếp tục theo đuổi vụ kiện. VASEP sẽ nộp đơn kiện lên toà án quốc tế
thương mại Mỹ.
1.2 QUÁ TRÌNH VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG VỤ KIỆN
Năm 1998, lượng cá tra, cá basa filê đông lạnh của Việt Nam xuất khẩu sang thị
trường Mỹ chỉ có 260 tấn, nhưng đến năm 2001 con số này đã tăng vọt lên 7.746
tấn. Lo ngại trước sự cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ đó, hiệp hội nuôi catfish ở các
tiểu bang Mississipi, Lousiana, Askansa, Alabama đã sử dụng vận động hành lang
(Lobby) để bảo vệ quyền lợi kinh tế của mình, dưới áp lực của các lobby của CFA
buộc các nghị sĩ ở các tiểu bang miền Nam phải có tác động tới Quốc hội Mỹ ra
nghị quyết cản trở nhập cá tra, cá basa của Việt Nam vào Mỹ. Tờ Washington Post
ngày 10/9/2001 viết: “ Việt Nam đang bán phá giá sang Mỹ hàng ngàn tấn cá basa
trong năm nay, gây thiệt hại cho các nhà nuôi cá nội địa. Nhiều nghị sĩ muốn Quốc
hội yêu cầu gắn nhãn sản phẩm Việt Nam cho mặt hàng này”. Hai hạ nghị sĩ Dân
chủ, Marion Berry và Mike Ross của bang Arkansar(nơi có nguồn cung cấp cá basa
lớn thứ 3 ở Mỹ, sau Mississipi và Alabama) yêu cầu các hãng bán buôn không chỉ
xác định rõ xuất xứ của cá basa Việt Nam, mà còn gắn cho sản phẩm này mác “basa
Mekong”, “cá trê” hoặc “cá trê basa” để phân biệt với cái mà họ gọi là cá basa Mỹ
“thứ thiệt”. Hạ nghị sĩ Berry đã theo đuổi vấn đề này với giới chức thương mại của
Tổng thống Mỹ và cũng có dịp đề cập với các quan chức Việt Nam. Ông Berry

“những nhà hàng khách sạn này chỉ quan tâm tới giá cả chứ chẳng để ý tới chất
lượng của sản phẩm. Thêm vào đó các nhà vận động hậu trường cho vụ kiện còn
cho rằng cá tra, cá basa của Việt Nam được nuôi trong môi trường bị nhiễm chất độc
màu da cam gây ảnh hưởng tới sức khoẻ của người tiêu dung, trong khi đó chính
người Mỹ đã rải chất độc này trong cuộc chiến tranh với Việt Nam.
Ngày 28/6/2002, CFA đệ đơn kiện lên Uỷ ban hiệp thương quốc tế Mỹ kiện Việt
Nam bán phá giá cá tra, cá basa sang thị trường Mỹ. Cùng với thời gian đó, ngày
10

2/7/2002, hai nghị sĩ Mike Ross và Ronnie Shows, đại diện cho CFA lại gửi thư trực
tiếp đến bà Deanna Tanner Okun, Chủ tịch Uỷ ban Hiệp thương Quốc tế Mỹ, nêu
luận điểm: “ Đại diện cho những người nuôi catfish Mỹ, chúng tôi khẩn cấp đề nghị
Uỷ ban cân nhắc một cách có thiện chí đối với đơn kiện của CFA về việc cá tra, cá
basa filê đông lạnh nhập từ Việt Nam được bán phá giá, gây cạnh tranh và làm thiệt
hại tới các nhà nuôi cá catfish nội địa.”
Ngày 28/1/2003, DOC ra quyết định tạm thời xác định mức thuế chống bán phá
giá đối với sản phẩm cá của Việt Nam trong khoảng 31,45% - 63,88%, quyết định
này của DOC đưa ra đã bất chấp luận điểm của Việt Nam đưa ra: việc sản xuất cá
tra, basa của Việt Nam được thực hiện theo quy trình liên hoàn, khép kín. DOC nói
chưa xem xét đến yếu tố này do còn nhiều khúc mắc. Đến tháng 3/2003, DOC đã cử
đoàn quan chức sang Việt Nam khảo sát, chính họ đã thừa nhận quá trình sản xuất,
chế biến cá tra, basa ở Việt Nam là theo chu trình khép kín. Song, ở quyết định cuối
cùng, DOC lại cho rằng, ở Bangladesh không có doanh nghiệp nào sản xuất theo
chu trình khép kín như các doanh nghiệp tại Việt Nam, nên giá thành sản xuất được
tính từ giai đoạn chế biến. Tại sao họ lại đưa ra quyết định trái ngược lại với những
gì họ đã khẳng định? Đó chính là do áp lực của các lobby của các tập đoàn nuôi cá
da trơn Mỹ.
Cuối tháng 4/2003, Bộ Thương mại Mỹ đã gợi ý Bộ Thương mại hai bên sẽ tiến
hành đàm phán “ về một thoả thuận đình chỉ vụ kiện” này. Từ ngày 2-9/5/2003, hai
bên đã tiến hành đàm phán nhưng do quan điểm rất khác nhau nên cuộc đàm phán
12
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
TRONG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA CỦA VIỆT NAM
2.1 KHÁI NIỆM VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
2.1.1 ĐỊNH NGHĨA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Vận động hành lang hay còn gọi là lobby là việc các quan chức chính phủ, các cá
nhân có uy tín đại diện cho một cộng đồng người đưa ra ý kiến đóng góp vào các dự
thảo luật của chính phủ, kêu gọi sự ủng hộ của các cá nhân khác hoặc thương lượng
các vấn đề khi xảy ra tranh chấp nhằm đạt được lợi ích của cộng đồng mà mình đại
diện.
2.1.2 PHƯƠNG THỨC VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRÊN THỊ TRƯỜNG MỸ
Mỹ là quê hương của chủ nghĩa lobby(lobbism), không chỉ ở thị trương Mỹ, mà
ngay tại các thị trường khác lobby được coi là một hoạt động bình thường và rất tích
cực. Washington là thủ đô của dân chuyên lobby, gồm 129 cựu nghị sĩ thường
xuyên “lo lắng” của những cộng đồng, chủng tộc khác nhau. Lobby ở Mỹ được
thành lập thành nhóm thường được gọi là “các đại lý có ảnh hưởng”. Các nhóm

hộ quan điểm đó. Do vậy mà ảnh hưởng của vận động hành lang có thể được nhân
lên 10 lần. ở Mỹ, nếu một Nghị sĩ Quốc hội nhận được một số lượng lớn những ý
kiến phản hồi của cử tri về một vấn đề và nhà lãnh đạo yêu cầu ông ta bỏ phiếu
14

ngược lại với những ý kiến của cử chi, thường là tiếng nói của cử tri sẽ giành được
sự ủng hộ cuối cùng của lá phiếu. Các cử chi cũng có thể tăng cường ảnh hưởng của
mình bằng cách tham gia một nhóm lợi ích đặc biệt hoặc một hiệp hội quốc gia. Là
một thành viên của một hiệp hội quốc gia, họ tham gia vào quá trình hoạch định
chính sách nội bộ và dựa vào các quan chức bầu ra hoặc những nhân viên chuyên
nghiệp của hiệp hội để thay mặt cho họ vận động hành lang Quốc hội. Do vậy mà
một nhà vận động hành lang cho một hiệp hội đại diện cho tiếng nói của nhiều
người ủng hộ quan điểm chính sách trước quốc hội. Giữa các quốc gia cũng có thể
sử dụng vận động hành lang để tranh thủ sự ủng hộ về một chính sách đối ngoại, ví
dụ như cá nhân Tổng thống Mỹ đã gặp gỡ với Thủ tướng Nhật để tranh thủ sự ủng
hộ của Nhật trong chiến dịch đánh Afganistan. Luật Mỹ cấm chính quyền nước
ngoài tham gia vận động hànhlang nhưng không cấm người nước ngoài tham gia
vận động. Vì thế các Tổng thống Mỹ vẫn có thể mời nhiều “bạn nước ngoài” vào
nhà Trắng rồi vận động gây quỹ bầu cử cho đảng mình, miễn là sự ủng hộ đó phải là
tư nhân. Các nhóm lobby nước ngoài cũng có thể ảnh hưởng tới quá trình bầu cử ở
Mỹ thông qua việc các thành viên trong nhóm góp tiền ủng hộ cho quỹ tranh cử của
nghị sĩ mà họ ủng hộ. Năm 1996, đã nổ ra vụ scandal quanh nỗ lực của Bắc Kinh
gây ảnh hưởng lên quá trình bầu cử, bằng việc tài trợ cho các quỹ vận động tranh cử
của Bill Clinton và vài nghị sĩ. Nhưng các cuộc điều tra cho thấy không có sự dính
líu của Trung Quốc vào việc này.
Vận động hành lang cũng làm ảnh hưởng trực tiếp tới chính sách đối ngoại, đặc
biệt là các chính sách đối ngoại về kinh tế của Mỹ. Thông thường tai Mỹ các nhóm
lobby nước ngoàI được thành lập theo từng quốc gia như lobby Đức, Italia, Hylap,
Nga Hoạt động của các nhóm lobby này thường là vận động để thiết lập các mối
quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia. Ví dụ như: vận động chính phủ Mỹ tăng cường

Theo nhận xét của giới chuyên môn nếu không có giới lobby, chính phủ Mỹ sẽ ngập
16

đầu trong các chương trình và các dự án. Các nghị sĩ Quốc hội sẽ không phải nghiên
cứu, phân tích các chương trình, dự án một cách cụ thể và chi tiết , họ chỉ cần xem
xét tới ảnh hưởng của chương trình hay dự án đó tới nhóm cử chi đã bỏ phiếu cho
họ và nhiệm vụ của họ là hướng các chương trình, dự án này theo hướng có lợi cho
nhóm người đó. Việc này được thực hiện với cả các chương trình, dự án mang tính
quốc gia cũng như quốc tế.
Sử dụng lobby có thể dung hoà lợi ích giữa các nhóm cộng đồng. Các nhóm cộng
đồng có thể sử dụng lobby nhằm đạt được lợi ích của mình, tuy nhiên trong thực tế
lợi ích của các nhóm cộng đồng luôn mâu thuẫn với nhau vì vậy thường xảy ra tranh
chấp giữa các nhóm người này. Để giải quyết tranh chấp này, các bên có thể sử
dụng sức ép từ các lobby để giải quyế vụ việc ngoài toà án. Thông thường là cùng
nhau đàm phán để dung hoà lợi ích sao cho cả hai đều có lợi, như vậy cả hai bên đều
có thể đạt được lợi ích của mình đồng thời giảm chi phí nếu đưa nhau ra toà ( ở Mỹ
chi phí kiện tụng thường là rất lớn).
Đối với các nhóm cộng đồng mang tính quốc gia, nếu vận dụng tốt lobby sẽ tạo
điều kiện tốt cho việc thiết lập mối quan hệ giữa hai quốc gia, tạo điều kiện cho việc
phát triển đất nước. Vận động hành lang của các nhóm cộng đồng dân tộc có khả
năng tăng cường viện trợ hoặc đầu tư về nước mình nhằm phát triển đất nước về
mọi mặt như về cơ sở hạ tầng, kinh tế, giáo dục, khoa hoc ĐIũu này đã được
chứng minh bằng thực tế bởi các nhóm lobby Nga, Trung Quốc, Israel trên đất
Mỹ.
Các nghị sĩ Mỹ đều là những đại diện cho tiếng nói của một cộng đồng người, là
những người đã bỏ phiếu cho họ giữ chức vụ đó, vì vậy tham gia vận động hành
lang một mặt là để thực hiện trách nhiệm của họ đối với nhóm cử tri đã bầu họ, đồng
thời đây cũng là một cách nhằm tăng khả năng ảnh hưởng, tranh thủ sự ủng hộ của
các cử tri, điều này là rất quan trọng nó ảnh hưởng trực tiếp tới “ cái ghế” mà họ
đang ngồi nhất là khi thời gian tái bầu cử sắp tới gần.


nhiều bất đồng, làm cản trở tới việc hợp tác phát triển của các bên. ĐIũu này đã và
đang xảy ra khi mà các nhà vận động hành lang, các tổ chức, chính phủ coi đạo đức
là thứ yếu trong kinh doanh, chỉ bảo vệ hay bảo hộ quyền lợi cho một nhóm người
bất chấp sự phản đối mạnh mẽ của dư luận. Chính những hành động này sẽ làm tổn
hại đến quan hệ hợp tác giữa các tổ chức, các quốc gia.
2.1.4 SỰ CẦN THIẾT CỦA VẬN ĐỘNG HÀNH LANG
Đối với các chính phủ, vận động hành lang giúp họ giải quyết một cách có hiệu
quả các chương trình, dự án, các chính sách đối nội đối ngoại. Vận động hành lang
giúp giảm thiểu gánh nặng từ công việc giúp các quan chức chính phủ minh mẫn từ
đó giúp họ làm việc có hiệu quả hơn. Đồng thời vận dụng hành lang là một phương
thức tốt để họ quyền và nghĩa vụ đối với người dân thông qua việc bảo vệ cho lợi
ích của một cộng đồng người, đồng thời nó cũng đảm bảo quyền tự do được tham
gia , đóng góp ý kiến vào việc hoạch định chính sách chính phủ của các cử chi. Vận
động hành lang giúp nhà nước tiết kiệm được tiền và các nhà làm luật chỉ chờ việc
quyết định phương án tối ưu.
Đối với các doanh nghiệp hoặc các ngành, thì vận động hành lang sẽ giúp họ bảo
vệ lợi ích của mình, chống lại sự cạnh tranh của các đối thủ khác. Thông qua vận
động hành lang, các tổ chức có thể gây áp lực đối với chính phủ từ đó đưa ra các đạo
luật có lợi cho hoạt động cũng như lợi ích của họ, đồng thời làm giảm lợi ích , lợi
thế cạnh tranh của đối thủ.
Vận động hành lang cũng là một phương thức nhằm giảI quyết các mối bất đồng
giữa các bên, nếu sử dung vận động hành lang đúng cách các bên có thể giải quyết
mâu thuẫn với nhau ngoài toà án ( nơi chỉ có một bên đạt được lợi ích) sao cho cả
hai bên đều đạt được lợi ích và nó giúp cho các bên giảm chi phí khi đưa nhau ra
toà.

19

2.2 VẬN ĐỘNG HÀNH LANG TRONG VỤ KIỆN CÁ TRA, CÁ BASA CỦA VIỆT

300 phiếu ở bang Florida). Đây là chiến lược hết sức đúng đắn và khôn ngoan của
CFA, để đạt được mục đích của mình do đã gắn lợi ích đó với lợi ích của các đại
biểu miền Nam. Hơn thế, dưới tác động của lobby, chính quyền liên bang đã chi 6
triệu USD để mua catfish cho chương trình ăn trưa của các trường học, khoản tiền
hỗ trợ này đã làm tăng hình ảnh catfish Mỹ trên thị trường. Tháng 12/2001, Quốc
hội Mỹ thông qua lệnh cấm tạm thời về tên gọi catfish đối với sản phẩm cá filê đông
lạnh của Việt Nam. Lí do mà các nhà vận động hành lang của CFA đưa ra không
phải là không có lý khi họ cho rằng: Việt Nam đang lợi dụng thành quả tiếp thị của
những người nuôi cá Mỹ, các nhà nuôi cá Mỹ đã biết liên kết với nhau và mở chiến
dịch tiếp thị cho thương hiệu catfish (chi phí đó lên tới 4,5 triệu USD vào năm
ngoái) và trong khi khởi kiện về tên gọi họ lại được chính quyền liên bang hỗ trợ 6
triệu USD nhằm tăng cường hình ảnh catfish Mỹ. Ngoài ra với cách lập luận này họ
đã đánh trúng vào điểm yếu của cá Việt Nam, mặc dù cá của Việt Nam cung là
catfish nhưng chúng ta không có thương hiệu riêng cho sản phẩm này khi xuất khẩu
sang thị trường Mỹ, thêm vào đó, chiến lược tiếp thị đối với cá tra, basa của chúng
ta là hầu như không có, chỉ khi vụ kiện diễn ra thì mới có nhiều người biết đến sản
phẩm này của Việt Nam, nhiều người dân Mỹ còn viết thư hoặc gọi điện để tìm hiểu
sản phẩm này của Việt Nam. Khi Quốc hội Mỹ đưa ra lệnh cấm đối với tên gọi
catfish và cá của Việt Nam không hẳn là catfish thì không chỉ Việt Nam mà ngay cả
dư luận Mỹ và thế giới đều cho rằng đạo luật đó là phi lí nhưng không có lí do gì bắt
bẻ họ vì quyết định đó cũng một phần do sự thiếu kinh nghiệm của Việt Nam: kinh
doanh trên thị trường Mỹ mà không nắm rõ luật chơi.
Sau khi chiến thắng ở cuộc chiến về nhãn hiệu sản phẩm, CFA tiếp tục chuẩn bị
để đưa Việt Nam ra toà, lần nay CFA khởi kiện Việt Nam bán phá giá cá tra, cá
basa. Ngay từ đầu năm 2002, CFA đã tiến hành các bước đi để chuẩn bị kiện Việt
21

Nẩm toà và trong các bước di lần này CFA cũng đã đánh giá rất cao vai trò của vận
động hành lang. Tháng 2/2002 các ngư dân thành phố Indianola (bang Mississipi,
nơi đóng đô của CFA và chiếm tới 94% sản phẩm catfish của toàn bộ miền Nam

ta.
Tôi đồng ý với quan điểm của TS. Bùi Kiến Thành (Chuyên gia tư vấn cao cấp
Công Ty tư vấn Phát triển đầu tư thương mại Mỹ, trụ sở tại Việt Nam) trong cuộc
trả lời phỏng vấn của VIETNAMNET: “ Tôi không khẳng định việc Việt Nam thất
bại trong vụ kiện cá basa là không sử dụng lobby. Vấn đề là ta phải dùng lobby để
dàn xếp vụ việc ngoài toà án, tìm phương thức giải quyết cho các bên cùng có lợi.
Trong vụ kiện này, VASEP đã sử dụng lobby không đúng cách, VASEP đã sử dụng
lobby nhằm mục đích thắng kiện mặc dù đã biết các vụ kiện trước Bộ Thương mại
Mỹ thì kết quả là hơn 90% đều nghiêng về phía Mỹ như vậy khác nào chúng ta đang
đi vào “cõi chết”. Tôi cũng đồng ý với ý kiến của ông khi cho rằng cái mà chúng ta
thiếu trong vụ kiện này là thương lượng, tức là việc dàn xếp vụ kiện này ngoài toà
án. Đây là một cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi của VASEP cũng như tạo điều kiện
cho đối phương cùng có lợi. Vậy vấn đề giải pháp nào có thể dung hoà được lợi ích
của cả hai bên? Để đưa ra được một giải pháp hoàn thiện là một việc không dễ dàng
nó phải dựa vào khả năng và tình hình thực tế của cả VASEP lẫn CFA, đồng thời
giải pháp đó phải đủ hấp dẫn để CFA gạt vụ kiện này sang một bên mà vẫn có thể
giúp VASEP phát triển được sản phẩm cá tra, cá basa trên thị trường Mỹ. TS Bùi
Kiến Thành đã đưa ra giải pháp đó là: Việt Nam đề xuất với Mỹ rằng hai bên hai
bên sẽ hợp tác với nhau để phát triển nghề nuôi cá basa trên sông Mississipi,
Missouri, Tennesi ( đây là những con sông lớn ở miền Nam nước Mỹ, không kém gì
Tiền Giang, Hậu Giang của Việt Nam và hoàn toàn có thể nuôi cá được) và cùng
xuất khẩu sản phẩm này ra khắp thế giới. Theo tôi đây là một giải pháp tương đối
hấp dẫn, nó kết hợp được khả năng tài chính dồi dào của CFA cùng với khả năng kĩ
23

thuật trong việc nuôi thuỷ sản của Việt Nam như vậy lợi ích của cả hai bên đều được
đảm bảo, mặt khác giảI pháp này tạo điều kiện công ăn việc làm cho một số lớn lao
động Mỹ, đồng thời giảm ô nhiễm môi trường khi nuôi cá trên dòng nước chảy chứ
không phải trên các ao tù, đầm lầy như ở Mỹ hiện nay. Tuy nhiên, tôi không đồng ý
với quan điểm của ông khi cho rằng việc gia nhập WTO không ảnh hưởng gì đến

hành lang thì Mỹ không thể có cơ sở để làm những việc đó, vì thực chất sản phẩm
cá tra, cá basa của Việt Nam bước vào thị trường Mỹ một cách sòng phẳng, đúng
theo quy luật của nền kinh tế thị trường. Sản phẩm này có lợi thế hơn so với Mỹ là
do giá nhân công rẻ, được sản xuất theo một chu trình khép kín, công việc nuôi cá
được tiến hành ở các con sông có dòng chảy, ngược lại, catfish Mỹ được nuôi trong
các ao tù đầm lầy, giống chủ yếu là do đánh bắt, giá nhân công và thuế lại cao ,
những lợi thế đó mới chính là lí do khiến cho cá của Việt Nam được tiêu thụ với giá
thành rẻ hơn và chất lượng cá tốt hơn so với catfish của Mỹ. Tuy nhiên, bất chấp
những căn cứ đó các nhà vận động hành lang vẫn lôi được sản phẩm này của Việt
Nam ra toà. Tại sao họ có thể làm được việc đó? Theo tôi đó chính là sự đối sử
không bình đẳng của một nước lớn với một nước nhỏ, một mặt họ kêu gào tự do hoá
thương mại, mặt khác họ lại bảo hộ cho các sản phẩm nội địa bất chấp sự phản đối
của dư luận quốc tế, và hậu thuẫn sau nó là một cơ chế bầu cử theo phổ thông đầu
phiếu, là cơ chế mà các nghị sĩ bất chấp vấn đề đạo đức trong kinh doanh, không
quan tâm tới việc mất công bằng đang xảy ra. Công việc của các nghị sĩ này chỉ là
bảo đảm lợi ích cho các cử chi đã bầu họ nhằm giữ được “chiếc ghế” mà họ đang
ngồi bất chấp việc đạt được lợi ích đó là đúng hay sai. Chính những hạn chế đó đã
tạo điều kiện cho các nhược điểm của hoạt động vận động hành lang nảy nở và phát
triển. Và một khi các nhược điểm này được công nhận thì việc bảo hộ thương mại
càng trở nên dễ dàng đặc biệt là ở Mỹ, bất chấp việc nó đã đi ngược lại với xu
hướng phát triển của thế giới.

Trích đoạn NGUYÊN NHÂN
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status