Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khoán và các giải pháp khắc phục
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Chương 1 – Các vấn đề lý luận chung
- Giới thiệu các khái niệm về chứng khoán, thị trường chứng khoán, lạm phát, các chỉ số
đánh giá hiệu quả chứng khoán.
- Giải thích tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán thông qua các nhân tố lãi
suất, giá cả và các chính sách của nhà nước nhằm kiềm chế lạm phát như thay đổi mức lãi suất
chiết khấu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc v.v…
Chương 2 – Tình hình thực tế của Thị trường chứng khoán và các cổ phiếu cụ thể
trước và sau lạm phát
- Đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam ở hai giai đoạn trước và
trong thời kỳ lạm phát.
- Phân tích sự thay đổi của 5 cổ phiếu tiêu biểu cho các ngành ở hai giai đoạn trước và sau
thời kỳ lạm phát thông qua các số liệu cụ thể, các bảng, biểu đồ giá, khối lượng giao dịch của các
loại cổ phiếu này.
Chương 3 – Các giải pháp can thiệp vào Thị trường chứng khoán trong giai đoạn
kiềm chế lạm phát
- Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Hoạt động của sàn GDCK Tp.HCM
- Các giải pháp can thiệp vào thị trường chứng khoán trong giai đoạn lạm từ góc độ quản
lý của nhà nước, giải pháp dành cho các doanh nghiệp phát hành chứng khoán và các nhà đầu tư.
1
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khoán và các giải pháp khắc phục
PHẦN 1 – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
Có thể nói từ năm 2005 đến nay, Thị Trường Chứng Khoán ở Việt Nam đã có những bước
phát triển nhanh chóng, là kênh huy động động vốn hiệu quả cho các doanh nghiệp và trở thành
tâm điểm thu hút sự chú ý của rất nhiều người. Tuy nhiên từ giữa năm 2007, lạm phát đã tác động
xấu đến toàn bộ nền kinh tế của nước ta nói chung cũng như góp phần tạo nên một bức tranh đỏ
lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của chứng khoán
a) Đặc điểm:
Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn.
b) Vai trò của chứng khoán:
Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên một lượng
vốn tiền tệ khổng tồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà Nước và tư nhân.
Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài chính có giá
trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một loại hàng
hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do.
1.1.3 Phân loại chứng khoán
a) Căn cứ vào nội dung chứng khoán
- Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà Nước hoặc các doanh nghiệp phát hành cần
huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Ví dụ: trái phiếu.
- Chứng khoán vốn là giấy tờ chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công ty cổ phần. Ví
dụ: các loại cổ phiếu.
b) Căn cứ vào hình thức chứng khoán
- Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không có gi tên người sở hữu trên các cổ
phiếu, trái phiếu. Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán hay chuyển đổi trên thị trường
chứng khoán.
3
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khoán và các giải pháp khắc phục
- Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán mà tên người sở hữu lưu giữ trong hồ sơ của
chủ thể phát hành trên chứng khoán. Việc chuyển tên người sở hữu chứng khoán này có phần khó
khăn hơn và phải có sự đồng ý của cơ quan phát hành chứng khoán.
c) Căn cứ vào lợi tức chứng khoán
- Chứng khoán có lợi tức ổn định là loại chứng khoán mà người cầm giữ loại chứng khoán
này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá chứng khoán điển hình là trái
a) Căn cứ vào phương diện pháp lý của hình thức tổ chức thò trường
- Thò trường chứng khoán chính thức (The stock exchange) Hay còn gọi là thò trường
chứng khoán tập trung, là thò trường hoạt động theo các qui đònh pháp luật, là nơi mua bán các
loại chứng khoán đã được đăng ký và chứng khoán ngoại lệ. Thò trường chứng khoán chính
thức có đòa điểm và thời gian mua bán rõ rệt, giá cả được đònh theo thể thức đấu giá công
khai, có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán. Thò trường chứng khoán
chính thức được thể hiện bằng các Sở giao dòch chứng khoán.
- Thò trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market – OTC) Hay còn gọi
là thò trường chứng khoán phi tập trung (còn gọi là Thị trường chứng khốn ngầm), là thò trường
mua bán chứng khoán ngoài sở giao dòch, không có đòa điểm tập trung những người môi giới,
những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao dòch chứng khoán, không có sự kiểm soát
của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng khoán, không có ngày giờ hay thủ tục nhất đònh mà
do sự thoả thuận của người mua và người bán được thực hiện bởi các công ty chứng khoán
thành viên. Phương thức giao dòch thông qua mạng điện thoại và vi tính. Các chứng khoán
giao dòch trên thò trường này thường là các loại chứng khoán không được đăng ký, ít người biết
hay ít được mua bán.
b) Căn cứ vào tính chất phát hành hay quá trình lưu hành của chứng khoán
- Thò trường chứng khoán sơ cấp
Thò trường chứng khoán sơ cấp còn gọi là thò trường cấp một hay thò trường phát hành
là thò trường phát hành các loại chứng khoán. Đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng
khoán mới phát hành lần đầu cho phép các chủ thể cần nguồn tài chính tiếp nhận được các
nguồn tài chính bằng việc phát hành các chứng khoán mới, những chứng khoán bán cho người
đầu tiên mua nó nhằm thu hút vốn đầu tư.
5
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khốn và các giải pháp khắc phục
Thò trường sơ cấp là thò trường tạo vốn cho đơn vò phát hành. Thò trường này tập trung
các nguồn vốn nhà rỗi của các nhà đầu tư về phía các đơn vò phát hành, đồng thời các chứng
khoán được chuyển đến tay các nhà đầu tư lần đầu. Thò trường sơ cấp làm tăng vốn cho nền
kinh tế đồng thời tạo ra hàng hoá chứng khoán cho thò trường thứ cấp. Việc phát hành chứng
- Thò trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
1.3 Lạm phát và các ngun nhân gây ra lạm phát
1.3.1 Khái niệm và bản chất của lạm phát
a) Khái niệm: Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ kéo dài làm cho mức giá cả chung của nền kinh
tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định.
b) Bản chất: Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng lên của giá cả diễn ra
trong một thời gian dài.
1.3.2 Phân loại lạm phát
Dựa vào tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh té chia làm 3 loại:
- Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát một số, tỷ lệ tăng giá thấp dưới 10%/năm
Đồng tiền mất giá khơng lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh doanh. Mọi người vẫn sẵn
sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch.
- Lạm phát phi mã: là loại lạm phát 2 hay 3 só, tức trong khoảng hơn 10%. Lạm phát phi
mã trong 1 thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiem trọng, đồng tiền bị mất giá
nhanh.
- Siêu lạm phát: là loại lạm phát trên 4 số, tức tỷ lẹ lạm phát lên đến hàng ngàn phần trăm,
người ta ví nó như căn bệnh ung thư gây chết người, có tác động rất lớn đến nền kinh tế, người ta
bị chìm trong khối tiền tẹ khi hàng hóa đều khan hiếm. Tiền tệ khơng thực hiện chức năng
phương tiện trao đổi vì khơng ai muốn bán hàng để lấy những đồng tiền vơ giá trị.
1.3.3 Ngun nhân gây ra lạm phát
a) Xét theo nguồn gốc:
- Ngun nhân cơ bản và sâu xa: nền kinh tế quốc dân bị mất cân đối, sản xuất sút kém,
ngân sách quốc gia bị thâm hụt dẫn đến lạm phát.
- Ngun nhan trực tiếp: cung cấp tiền tệ tăng trưởng q mức cần thiết.
7
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khoán và các giải pháp khắc phục
- Nguyên nhân quan trọng: hệ thống chính trị bị khủng hoảng do những tác động bên trong
hoặc bên ngoài làm cho lòng tin của dân chúng vào chế độ của Nhà Nước bị xói mòn, từ dó làm
cho uy tín và sức mua của đồng tiền bị giảm sút, họ không tiêu xài hoặc đánh giá thấp giấy bạc
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khốn và các giải pháp khắc phục
khoản vay. Với một doanh nghiệp trong thời kỳ tăng trưởng thì điều này có thể tác động nghiêm
trọng, doanh nghiệp phải thu hẹp phạm vi hoạt động và kết quả là lợi nhuận bị giảm sút.
Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệp chính là đưa tất
cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia
cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trị một cổ phần. Gía chứng khốn thay đổi tuỳ theo
các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về cơng ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư
sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư tăng trưởng
hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng cao hoặc là doanh thu
sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự đốn sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ
phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khốn có
sự sụp giảm này đủ lớn thì xét tồn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khốn sẽ giảm.
1.4.2 Nhân tố lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược chiều nhau.
Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị trường càng cao thì các
dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa
lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao
hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu sẽ sụt giảm.
Khơng chỉ vậy, quan hệ giữa lãi suất thò trường và lãi suất chứng khoán là
mối quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi suất thò
trường cao hơn lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm, đe u nà
khiến cho hoạt động trên thò trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi
tie n vào ngân hàng hơn là mua chứng khoán. à
Lãi suất của chứng khoán sẽ ảnh hưởng đến giá của chứng khoán. Ảnh hưởng này
càng lớn nếu kỳ hạn của chứng khoán càng dài. Vì các chứng khoán dài hạn rủi ro cao hơn
các chứng khoán ngắn hạn. Nếu những nhà đầu tư muốn mua chứng khoán dài hạn thì họ sẽ
đòi hỏi một lãi suất chứng khoán cao hơn nhiều để bù đắp các rủi ro đó.
1.4.3 Các chính sách của nhà nước trong việc kiềm chế lạm phát
a) Thay đổi lãi suất chiết khấu:
vừa mới ban hành. Mặc dù đến thời điểm đó, NHNN vẫn chưa có động thái nào trước sự phản
ứng quyết liệt của các NH cổ phần và NĐT. Nhưng trên thực tế, các NH cổ phần đã và đang dần
tạm ngừng cho vay cầm cố CP. Chính vì vậy, tâm lý của NĐT rất hoang mang trong việc quan sát
tình hình để kiếm cơ hội đẩy hàng thu hồi vốn trả nợ cho nhà băng. Theo vị giám đốc trên, nhiều
khả năng CK sẽ bị ảnh hưởng mạnh trong thời gian tới khi các NH cổ phần mạnh tay siết chặt cho
vay cầm cố hơn so với hiện nay.
Trên thực tế, lượng tiền NĐT đổ vào thị trường đang dần bị thu hẹp. Điều này được
chứng minh qua hiện tượng bỏ cọc mua CP của Tập đoàn Bảo Việt trong đợt đấu giá vừa qua,
10
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khốn và các giải pháp khắc phục
khiến giá CP của tập đồn này đang trong trạng thái điều chỉnh. Khơng chỉ có CP của Bảo Việt,
mà theo vị GĐ điều hành trên, nếu hạn chế mức cho vay cầm cố dưới 3% trên tổng dư nợ thì chắc
chắn luồng tiền NĐT bỏ mua các CP khác sẽ bị hạn chế lại, vì lượng tiền NĐT đang bỏ vào trên
thị trường phần lớn vay mượn từ NH.
Theo ơng, nếu NHNN cương quyết khống chế hạn mức cho vay cầm cố dưới hạn mức 3%
trên tổng dư nợ thì khơng còn cách nào khác là NH phải thu hồi nợ. Tuy nhiên, ơng cho rằng, như
vậy NHNN đã vơ tình hạn chế sự phát triển dịch vụ tín dụng và tính tự chủ của các NH cổ phần.
Vì trên thực tế, nếu NĐT muốn tham gia mua cổ phần của một DN nào đó để trở thành đối tác
chiến lược thì khơng lý do gì các NH lại từ chối. Vả lại, trước khi quyết định cho vay, các NH đều
có sự phân chia danh mục, khoản vay để đảm bảo nguồn vốn và hạn chế rủi ro. Như vậy, theo ơng
này nếu hạn chế cho vay cầm cố CK, NHNN chỉ nên kiểm sốt chặt NH khi cho các nhà đầu cơ
vay kinh doanh CP.
Khơng chỉ có NĐT cá nhân mà ngay cả những NĐT có tổ chức cũng ln cần đến nguồn
vốn của NH. Duy chỉ có các NĐT nước ngồi mới có sẵn nguồn tiền lớn đầu tư. Do vậy, việc
NHNN hạn chế cho vay cầm cố sẽ ảnh hưởng nhất định đến NĐT trong nước, nhưng đồng thời
lại là cơ hội cho NĐT nước ngồi. Vì thơng thường, NĐT ngoại vẫn ln có xu hướng mua vào
khi giá CP trên thị trường có dấu hiệu sụt giảm.
Tuy nhiên khơng thể đổ lỗi cho quyết định này hồn tồn, mà ngun nhân chính là do
tâm lý bất ổn của nhà đầu tư. Phó Tổng giám đốc một ngân hàng thương mại cho biết: “Theo tơi,
này đo lường khả năng trả nợ của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được chấp nhận hay không tuỳ
thuộc vào sự so sánh với tỷ số thanh toán trung bình ngành mà doanh nghiệp đang kinh doanh
hoặc so sánh với các năm trước để thấy sự tiến bộ hoặc giảm sút.
Nếu chỉ tiêu R
c
giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và cũng là dấu hiệu báo trước
những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.
Nếu chỉ tiêu R
c
khá cao và cóõ1u hướng tăng nghóa là công ty luôn sẵn sàng thanh toán
các khoản nợ. Tuy nhiên nếu R
c
quá cao sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn vì công ty đầu tư
quá nhiều vào tài sản ngắn hạn, tức là công ty quản lý tài sản ngắn hạn chưa có hiệu quả.
Theo quan điểm của nhiều nhà phân tích, xu hướng của phân tích chỉ số R
c
ở mức độ an toàn
trong khoảng 2,0
c) Chỉ số khả năng thanh toán nhanh (R
q
)
Chỉ số khả năng thanh toán nhanh (R
q
) là chỉ tiêu được tính toán dựa trên những tài sản
lưu động có thể nhanh chóng được chuyển đổi thành tiền, bao gồm tất cả các tài sản lưu động
trừ hàng tồn kho
hạnngắn nợ bộToàn
khotồn Hàng - hạnngắn sản tài bộToàn
q
phiếutrái giá Mệnh
phiếutrái số Chỉ
=
b) Chỉ số cổ phiếu ưu đãi
13
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khốn và các giải pháp khắc phục
Chỉ số cổ phiếu ưu đãi chỉ ra số vốn huy động từ cổ phiếu ưu đãi chiếm bao nhiêu phần
trăm trong toàn bộ vốn dài hạn
hạndài vốn bộToàn
đãi ưu phiếucổ giá Mệnh
đãi ưu phiếucổ số Chỉ
=
c) Chỉ số cổ phiếu thường
Chỉ số cổ phiếu thường cho biết số vốn dài hạn huy động được từ cổ phiếu thường
chiếm bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài hạn
hạndài vốn bộToàn
lại giữ nhập thu vốn dư thặng thường phiếucổ giá Mệnh
thường phiếucổ số Chỉ
++
=
Nếu chỉ số trái phiếu chiếm tỷ trọng lớn chứng tỏ trái phiếu đang lưu hành cao, được
xem như cán cân nợ của công ty lớn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty bò
ảnh hưởng lớn vào sự thay đổi của lãi suất.
d) Chỉ số nợ trên vốn cổ phần
Chỉ số nợ trên vốn cổ phần là tỷ lệ giữa trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi trên cổ phiếu thường
lại giữ nhập thu vốn dư thặng thường phiếucổ giá Mệnh
đãi ưu phiếuCổ phiếuTrái
phầncổ vốn trên nợ số Chỉ
Việc tính toán khả năng lợi nhuận chỉ ra số lợi nhuận mà công ty đạt được cho mỗi đồng
doanh thu (doanh số). Các nhà phân tích thường nhìn vào cả lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng
(lợi nhuận sau thuế) để đánh giá khả năng tạo lợi nhuận
a) Hệ số lợi nhuận gộp
thuần thu Doanh
gộp nhuận Lợi
gộp nhuận lợi số Hệ
=
b) Hệ số lợi nhuận ròng
15
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khốn và các giải pháp khắc phục
thuần thu Doanh
ròngnhuận Lợi
ròngnhuận lợi số Hệ
=
d) Tỷ lệ hoàn vốn cổ phiếu thường
Tỷ lệ hoàn vốn cổ phiếu thường là một trong các chỉ tiêu đo lường quan trọng khả
năng tạo lợi nhuận của công ty năm này so với năm khác
lại giữ nhập thu vốn dư thặng thường phiếucổ giá Mệnh
đãi ưutức Cổ - ròngnhuận Lợi
thường phầncổ vốn hoànlệ Tỷ
++
=
e) Giá sổ sách của cổ phiếu thường
thường
thường phiếucổ Số
đãi ưu phiếucổ - trả phảinợ tổng - hìnhvô sản tài - sản tài Tổng
=
e) Lơiï tức hiện thời (hệ số lãi cổ phần trên thời giá)
Lợi tức hiện thời cho cổ phiếu thường thể hiện tỷ lệ hoàn vốn cổ tức dựa trên giá trò thò
trường hiện thời của cổ phiếu.
thường phiếucổ mỗi của trường thò trò Giá
thường phiếucổ mỗi của năm hàngtức Cổ
thường phiếucổ 1 của thời hiệntức Lợi
=
Chương 2 – Tình hình thực tế của Thị trường chứng khốn và các cổ phiếu cụ thể trước và
sau lạm phát
2.1 Tình hình Thị trường chứng khốn Việt Nam
2.1.1 Chỉ số chứng khốn trước lạm phát
Sau khi ra nhập WTO, Thị trường chứng khốn Việt Nam đã có những bước chuyển biến
đáng kể. Thị trường chứng khốn VN bắt đầu có những sự khởi sắc nhất định. Chúng ta có thể
thấy rõ điều này thơng qua số lượng các quỹ đầu tư nước ngồi đăng ký tham gia hoạt động tại thị
trường tài chính VN tăng nhanh. Mức cầu chứng khốn gia tăng đã giúp chỉ số VN Index liên tục
tăng trong 4-5 tháng đầu năm 2006, và đạt mức kỷ lục là 632,69 điểm (ngày 25/4/2006). Sau giai
17
Đề tài nghiên cứu khoa học của SV
Ảnh hưởng của lạm phát đến Thị Trường Chứng Khoán và các giải pháp khắc phục
đoạn đó, Thị trường chứng khoán tiếp tục khởi sắc với những phiên tăng điểm kéo dài và ổn định.
Trong giai đoạn đó, những cơn sốt cổ phiếu đang diễn ra. Giới đầu tư bắt đầu săn lùng những cổ
phiếu lần đầu IPO. Điều này đã đẩy giá chứng khoán tăng mạnh. Những công ty lớn lần đầu niêm
yết được giới đầu tư quan tâm như ACB, FPT … liên tiếp tạo lập kỷ lục về giá niêm yết.
Tiếp nối thành công của năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tiếp tục có những
bước chuyển mình trong năm 2007. Với những phát triển vượt bậc về quy mô, chất lượng, thị
trường chứng khoán đã và đang chứng minh vị thế và tầm ảnh hướng đáng phải có của nó với đời
sống kinh tế đất nước. Nền kinh tế bước vào năm 2007 tràn đầy tín hiệu lạc quan. Việc tổ chức
thành công hội nghị cấp cao APEC, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO cùng với tốc độ
trên sàn HASTC (Hà Nội). Giá nhiều cổ phiếu tăng không ngừng khiến các chỉ số phân tích cơ
bản bị bỏ lại đằng sau đủ để nhiều nhà đầu tư cảm thấy chúng quá đắt. Khi mọi người đều nghĩ
“quá cao” thì giảm giá là điều tất yếu. Thị trường giảm liên tục từ giữa tháng 3. Cổ phiếu mất giá
khiến không ít nhà đầu tư mà đa phần là những người mới gia nhập thị trường thua lỗ nặng. Đây
là bài học đầu tiên trong năm nhưng cũng rất cần thiết với nhà đầu tư. Chỉ có mất mát từ thị
trường mới có thể tác động được vào những quan niệm như: Thị trường chứng khoán là cỗ máy in
tiền, cứ mua là lãi, đầu tư là công việc nhàn hạ, dễ dàng, thậm chí nhiều người còn coi Thị trường
chứng khoán như sòng bạc. Từ mức đỉnh 1170,67 điểm thị trường rơi xuống mức đáy 905,53
ngày 24/4.
Khi mà nhiều người, thậm chí là các chuyên gia đã nghĩ đến sự sụp đổ, bong bong vỡ
hay hiệu ứng domino thì thị trường chứng minh điều ngược lại. Thị trường và những người tham
gia vào nó đã trưởng thành. Đợt giảm giá chỉ là điều chỉnh mà không có đổ vỡ. Khi giá nhiều mã
cổ phiếu giảm khoảng 30% cũng là cơ hội đầu tư quay trở lại. Được tiếp thêm sức mạnh sau kì
nghỉ lễ 30/4 và 1/5, thị trường bắt đầu tăng giá trong tháng năm. Thị trường giai đoạn này tăng trở
lại khá nhanh nhưng không lập lại được mức đỉnh cũ, chỉ đạt 1113,19 điểm ngày 23/5.
Bị ảnh hưởng bởi đợt đấu giá Bảo Việt, thị trường lại một lần nữa đi xuống. Tuy nhiên,
trong xu thế giảm giá kéo dài của toàn thị trường lại xuất hiện những con cá hồi bơi ngược dòng.
Tiêu điểm thời gian này là giao dịch của cá cổ phiếu “hiếm” như BMC, TCT, SGH,LBM. Các cổ
phiếu này có đặc điểm chung là số lượng cổ phiếu lưu hành trên thị trường ít, phần nào được
kiểm soát. Khi có các thông tin tốt về kết quả sản xuất hay những lợi thế về tài nguyên, đất đai,
giá lập tức được đẩy lên. Số lượng đặt mua có thể đạt đến triệu đơn vị, trong khi đó số lượng bán
ra chỉ nhỏ giọt từng chút một như một động tác để đẩy giá lên kịch trần. Sau gần 3 tháng đến ngày
23/8 VN Index lại rơi xuống 887,62 điểm.
Thị trường tiếp tục cho thấy sức đẩy ở mức 900 điểm. Như được hồi sức sau ngày nghỉ
lễ 2/9, VN-Index quay lại con đường chinh phục đỉnh cao. Tuy nhiên, dẫn đạo xu hướng không
còn là bluechip mà là các cổ phiếu nhỏ, các cổ phiếu sàn hà Nội và các cổ phiếu mới niêm yết.
VN Index quay trở lại 1106,6 điểm ngày 3/10.
Việc giá cổ phiếu các công ty mới niêm yết tăng mạnh như động lực đưa các công ty đã
có dự định niêm yết nhanh chóng lên sàn. Nhưng khi thời gian niêm yết đã được ấn định thì cũng
là lúc thị trường bắt đầu trở nên khó khăn. Cùng với SSI chuyển từ sàn HN sang, khi DPM, HPG
toàn cầu này đưa ra dự báo lạm phát của Việt Nam có thể lên tới 20% trong quý 2/2008, nhưng
ngay sau đó sẽ giảm nhanh và kết thúc năm ở dự báo 14%. Xa hơn, Stanard Chartered lạc quan
khi dự tính tỷ lệ trên chỉ còn 7,5% trong quý 1 và quý 2/2009 (thấp hơn nhiều so với năm nay).
Nhìn lại hai dự báo trên, có một điểm chung là lạm phát vẫn diễn biến phức tạp và có thể tăng
mạnh trong quý 2 tới. Đây là một bất lợi đối với khả năng phục hồi của thị trường chứng khoán.
Còn trên thực tế, thị trường này vừa khép lại một tuần giảm mạnh cả về điểm số, giá
chứng khoán và khối lượng giao dịch. Tại sàn Tp.HCM, chỉ còn 3,5 triệu đơn vị, bằng phân nửa
khối lượng những phiên gần đây và có giá trị 148 tỷ đồng.
Chỉ số VN-Index qua phiên này chính thức về mốc 500 điểm, giảm 7,61 điểm, còn 500,33
điểm. HASTC-Index chỉ còn 154,23 điểm, giảm 3,19 điểm. Đúng như dự đoán. Thị trường
chứng khoán đã xuống mức “đáy” 366 điểm vào ngày 20/6. nếu xét diễn biến thị trường thời gian
20