Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục - Pdf 23

TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Chương 1 – Các vấn đề lý luận chung
- Giới thiệu các khái niệm về chứng khoán, thị trường chứng khoán, lạm
phát, các chỉ số đánh giá hiệu quả chứng khoán.
- Giải thích tác động của lạm phát đến thị trường chứng khoán thông qua
các nhân tố lãi suất, giá cả và các chính sách của nhà nước nhằm kiềm chế lạm
phát như thay đổi mức lãi suất chiết khấu, quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc v.v…
Chương 2 – Tình hình thực tế của Thị trường chứng khoán và các cổ
phiếu cụ thể trước và sau lạm phát
- Đánh giá sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam ở hai giai
đoạn trước và trong thời kỳ lạm phát.
- Phân tích sự thay đổi của 5 cổ phiếu tiêu biểu cho các ngành ở hai giai
đoạn trước và sau thời kỳ lạm phát thông qua các số liệu cụ thể, các bảng, biểu đồ
giá, khối lượng giao dịch của các loại cổ phiếu này.
Chương 3 – Các giải pháp can thiệp vào Thị trường chứng khoán trong
giai đoạn kiềm chế lạm phát
- Định hướng phát triển thị trường chứng khoán ở Việt Nam trong thời gian
tới.
- Hoạt động của sàn GDCK Tp.HCM
- Các giải pháp can thiệp vào thị trường chứng khoán trong giai đoạn lạm từ
góc độ quản lý của nhà nước, giải pháp dành cho các doanh nghiệp phát hành
chứng khoán và các nhà đầu tư.
PHẦN 1 – GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1. Đặt vấn đề
Có thể nói từ năm 2005 đến nay, Thị Trường Chứng Khoán ở Việt Nam đã
có những bước phát triển nhanh chóng, là kênh huy động động vốn hiệu quả cho
các doanh nghiệp và trở thành tâm điểm thu hút sự chú ý của rất nhiều người. Tuy
nhiên từ giữa năm 2007, lạm phát đã tác động xấu đến toàn bộ nền kinh tế của
nước ta nói chung cũng như góp phần tạo nên một bức tranh đỏ ảm đạm trên Thị
Trường Chứng Khoán nói riêng. Chính vì thế, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài
“Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc

a) Đặc điểm:
Chứng khoán là giá khoán động sản, tức là các công cụ vốn dài hạn.
b) Vai trò của chứng khoán:
Chứng khoán là công cụ rất hữu hiệu trong nền kinh tế thị trường để tạo nên
một lượng vốn tiền tệ khổng tồ tài trợ dài hạn cho các mục đích mở rộng sản xuất
kinh doanh của các doanh nghiệp hay các dự án đầu tư của Nhà Nước và tư nhân.
Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài
chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng.
Chứng khoán là một loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự
do.
1.1.3 Phân loại chứng khoán
a) Căn cứ vào nội dung chứng khoán
- Chứng khoán nợ là loại chứng khoán do Nhà Nước hoặc các doanh nghiệp
phát hành cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Ví dụ: trái phiếu.
- Chứng khoán vốn là giấy tờ chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công
ty cổ phần. Ví dụ: các loại cổ phiếu.
b) Căn cứ vào hình thức chứng khoán
- Chứng khoán vô danh là loại chứng khoán không có gi tên người sở hữu
trên các cổ phiếu, trái phiếu. Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán hay
chuyển đổi trên thị trường chứng khoán.
- Chứng khoán ký danh là loại chứng khoán mà tên người sở hữu lưu giữ
trong hồ sơ của chủ thể phát hành trên chứng khoán. Việc chuyển tên người sở
hữu chứng khoán này có phần khó khăn hơn và phải có sự đồng ý của cơ quan
phát hành chứng khoán.
c) Căn cứ vào lợi tức chứng khoán
- Chứng khoán có lợi tức ổn định là loại chứng khoán mà người cầm giữ
loại chứng khoán này được hưởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh
giá chứng khoán điển hình là trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi.
- Chứng khoán có lợi tức không ổn định là loại chứng khoán mà các nhà
đầu tư mong đợi 1 mức lợi tức cao hơn nhiều so với chứng khoán có lợi tức ổn

- Thò trường chứng khoán chính thức (The stock exchange) Hay còn
gọi là thò trường chứng khoán tập trung, là thò trường hoạt động theo
các qui đònh pháp luật, là nơi mua bán các loại chứng khoán đã được
đăng ký và chứng khoán ngoại lệ. Thò trường chứng khoán chính
thức có đòa điểm và thời gian mua bán rõ rệt, giá cả được đònh theo
thể thức đấu giá công khai, có sự kiểm soát của cơ quan quản lý
Nhà nước về chứng khoán. Thò trường chứng khoán chính thức được
thể hiện bằng các Sở giao dòch chứng khoán.
- Thò trường chứng khoán phi chính thức (Over the counter market –
OTC) Hay còn gọi là thò trường chứng khoán phi tập trung (còn gọi là
Thị trường chứng khốn ngầm), là thò trường mua bán chứng khoán ngoài
sở giao dòch, không có đòa điểm tập trung những người môi giới,
những người kinh doanh chứng khoán như ở sở giao dòch chứng khoán,
không có sự kiểm soát của cơ quan quản lý Nhà nước về chứng
khoán, không có ngày giờ hay thủ tục nhất đònh mà do sự thoả
thuận của người mua và người bán được thực hiện bởi các công ty
chứng khoán thành viên. Phương thức giao dòch thông qua mạng điện
thoại và vi tính. Các chứng khoán giao dòch trên thò trường này thường
là các loại chứng khoán không được đăng ký, ít người biết hay ít được
mua bán.
b) Căn cứ vào tính chất phát hành hay quá trình lưu hành của
chứng khoán
- Thò trường chứng khoán sơ cấp
Thò trường chứng khoán sơ cấp còn gọi là thò trường cấp một
hay thò trường phát hành là thò trường phát hành các loại chứng
khoán. Đây là nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới
phát hành lần đầu cho phép các chủ thể cần nguồn tài chính tiếp
nhận được các nguồn tài chính bằng việc phát hành các chứng khoán
mới, những chứng khoán bán cho người đầu tiên mua nó nhằm thu
hút vốn đầu tư.

điểm, tức là thò trường thực hiện việc giao dòch mua bán chứng khoán
theo giá thỏa thuận của ngày giao dòch nhưng việc thanh toán và giao
hoán sẽ diễn ra tiếp sau đó hai ngày.
- Thò trường tương lai (Future market) là thò trường mua bán chứng
khoán theo một hợp đồng đònh sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày
giao dòch nhưng việc thanh toán và giao hoán sẽ diễn ra trong một kỳ
hạn nhất đònh trong tương lai.
d) Căn cứ vào đặc điểm các loại hàng hoá lưu hành trên thò
trường chứng khoán
Theo căn cứ này, thò trường chứng khoán được chia ra thành ba
loại thò trường:
- Thò trường cổ phiếu
-Thò trường trái phiếu
- Thò trường các công cụ có nguồn gốc chứng khoán
1.3 Lạm phát và các ngun nhân gây ra lạm phát
1.3.1 Khái niệm và bản chất của lạm phát
a) Khái niệm: Lạm phát là hiện tượng cung tiền tệ kéo dài làm cho mức giá
cả chung của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất định.
b) Bản chất: Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng
lên của giá cả diễn ra trong một thời gian dài.
1.3.2 Phân loại lạm phát
Dựa vào tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh té chia làm 3 loại:
- Lạm phát vừa phải: là loại lạm phát một số, tỷ lệ tăng giá thấp dưới
10%/năm
Đồng tiền mất giá không lớn, chưa ảnh hưởng nhiều đến sản xuất kinh
doanh. Mọi người vẫn sẵn sàng giữ tiền để thực hiện giao dịch.
- Lạm phát phi mã: là loại lạm phát 2 hay 3 só, tức trong khoảng hơn 10%.
Lạm phát phi mã trong 1 thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiem
trọng, đồng tiền bị mất giá nhanh.
- Siêu lạm phát: là loại lạm phát trên 4 số, tức tỷ lẹ lạm phát lên đến hàng

Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một
ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Thế nhưng câu chuyện về lãi
suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó.
Lạm phát gia tăng thì giá phải trả để sử dụng vốn của người khác sẽ tăng lên
để tương xứng với mức độ gia tăng của giá cả. Chính vì vậy, lãi suất huy động của
ngân hàng phải tăng lên dẫn tới lãi suất cho vay của các ngân hàng cũng tăng lên,
nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lược kinh doanh của
các doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp, khiến cho thu nhập thấp
hơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho thị trường chứng khoán trở nên
kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.
Dễ thấy, chính bản thân các doanh nghiệp cũng cần vay tiền từ ngân hàng
thương mại để duy trì hoạt động và mở rộng sản xuất. Một khi các khoản vay từ
ngân hàng trở nên đắt hơn thì các doanh nghiệp sẽ có tâm lý ngại vay tiền và thực
tế thì họ phải trả lãi suất cao hơn cho các khoản vay. Với một doanh nghiệp trong
thời kỳ tăng trưởng thì điều này có thể tác động nghiêm trọng, doanh nghiệp phải
thu hẹp phạm vi hoạt động và kết quả là lợi nhuận bị giảm sút.
Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệp
chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại.
Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trị
một cổ phần. Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà
đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua
hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu
tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ
tăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai
được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp
xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán có sự sụp giảm
này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm.
1.4.2. Nhân tố lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và

Hiểu một cách cơ bản nhất thì khi ngân hàng trung ương gia tăng lãi suất
chiết khấu tức là họ đang nỗ lực làm cho lượng cung tiền trong xã hội giảm bằng
cách tạo chi phí vay tiền đắt hơn. Nó khiến cho việc vay tiền của ngân hàng
thương mại từ ngân hàng trung ương trở nên đắt hơn. Người chơi chứng khoán sẽ
không thể vay của ngân hàng để đầu tư vào Thị trường chứng khoán như trước
đây, do đó, lượng người và lượng vốn tham gia Thị trường chứng khoán sẽ ít đi.
b) Quy định mức dự trữ bắt buộc
Khi lượng dự trữ tiền cơ sở của các ngân hàng thương mại thay đổi vì chính
sách tiền tệ thắt chặt của Nhà Nước sẽ dẫn đến ngân hàng thương mại phải điều
chỉnh tương ứng các mức hạn cho vay tương ứng trên tổng dư nợ của ngân hàng,
lượng tiền cung từ ngân hàng ít đi, số tiền vay được để chơi chứng khoán ít hơn,
dân tự huy động tiền nhàn rỗi của mình nhiều hơn
c) Chỉ thị 03 về thắt chặt cho vay chứng khoán
Sau nhiều đánh giá của các chuyên gia về tình trạng bong bóng của thị
trường, chính phủ đã quyết định ban hành chỉ thị 03 về thắt chặt cho vay chứng
khoán. Chỉ thị này ngay khi mới ra đời đã làm cho thị trường chứng khoán chấn
động.
Trên sàn giao dịch CK TPHCM, chỉ số VN - Index trong thời điểm đó cũng
chỉ xoay quanh ngưỡng trên 1.000 điểm. So với xu thế tăng, VN - Index nghiêng
về chiều hướng điều chỉnh giảm nhiều hơn. Giám đốc điều hành một quỹ đầu tư
nước ngoài đang hoạt động tại VN nhận định, nguyên nhân khiến TTCK đi đến
kết quả trên là tác động bởi Chỉ thị 03 của NHNN vừa mới ban hành. Mặc dù đến
thời điểm đó, NHNN vẫn chưa có động thái nào trước sự phản ứng quyết liệt của
các NH cổ phần và NĐT. Nhưng trên thực tế, các NH cổ phần đã và đang dần tạm
ngừng cho vay cầm cố CP. Chính vì vậy, tâm lý của NĐT rất hoang mang trong
việc quan sát tình hình để kiếm cơ hội đẩy hàng thu hồi vốn trả nợ cho nhà băng.
Theo vị giám đốc trên, nhiều khả năng CK sẽ bị ảnh hưởng mạnh trong thời gian
tới khi các NH cổ phần mạnh tay siết chặt cho vay cầm cố hơn so với hiện nay.
Trên thực tế, lượng tiền NĐT đổ vào thị trường đang dần bị thu hẹp. Điều
này được chứng minh qua hiện tượng bỏ cọc mua CP của Tập đoàn Bảo Việt trong

Chỉ ra khả năng của công ty đáp ứng nợ ngắn hạn cũng như
chuyển tài sản hiện thời thành tiền mặt để trả nợ
a) Chỉ tiêu vốn hoạt động thuần
Chỉ tiêu vốn hoạt động thuần là chênh lệch giữa tài sản lưu
động và nợ ngắn hạn, là số vốn mà công ty cần để đưa vào các
hoạt động hàng ngày. Số tiền này nhằm duy trì mức độ hữu hiệu
của vốn hoạt động. Đảm bảo điều này cho phép công ty nâng cao
khả năng thanh toán những món nợ đến hạn.
hạnngắn nợ bộToàn - hạnngắn sản tài bộToàn thuần động hoạt Vốn
=
b) Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành (R
c
)
hạnngắn nợ bộToàn
hạnngắn sản tài bộToàn

c
R
=
Chỉ tiêu khả năng thanh toán hiện hành cho thấy doanh nghiệp
có bao nhiêu tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đảm bảo
thanh toán cho các khoản nợ ngắn hạn. Chỉ tiêu này đo lường khả
năng trả nợ của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được chấp nhận hay
không tuỳ thuộc vào sự so sánh với tỷ số thanh toán trung bình ngành
mà doanh nghiệp đang kinh doanh hoặc so sánh với các năm trước để
thấy sự tiến bộ hoặc giảm sút.
Nếu chỉ tiêu R
c
giảm cho thấy khả năng thanh toán giảm và
cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn về tài chính sẽ xảy ra.

hạnngắn nợ bộToàn
trường thò trên c đượ bánthể có khoánchứng Các Tiền
k
+
=
Nếu k >1: tốt
k=1: bình thường
k<1: có khó khăn
e) Lưu chuyển tiền tệ (dòng lưu kim)
Dòng lưu kim phản ánh số tiền phát sinh từ hoạt động của công
ty. Chỉ tiêu này đánh giá khả năng thanh toán những chi phí hiện
hành của công ty như việc thanh toán cổ tức
năm hàng hao khấu (lỗ) ròngnhuận Lợi tệ tiền chuyển Lưu
+=
Nếu lưu chuyển tiền tệ dương cho thấy công ty có thu nhập đầy
đủ để chi trả các chi phí và phân chia cổ tức
Nếu lưu chuyển tiền tệ âm có nghóa rằng công ty bò thua lỗ và
có thể gặp khó khăn trong thanh toán nợ ngắn hạn.
1.5.2 Chỉ số về khả năng tái tạo vốn
a) Chỉ số trái phiếu
Chỉ số trái phiâếu chỉ ra số vốn huy động là trái phiếu chiếm
bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài hạn
hạndài vốn bộToàn
phiếutrái giá Mệnh
phiếutrái số Chỉ
=
b) Chỉ số cổ phiếu ưu đãi
Chỉ số cổ phiếu ưu đãi chỉ ra số vốn huy động từ cổ phiếu ưu
đãi chiếm bao nhiêu phần trăm trong toàn bộ vốn dài hạn
hạndài vốn bộToàn

a) Hệ số thanh toán lãi trái phiếu
Hệ số thanh toán lãi trái phiếu là tỷ lệ giữa lợi nhuận trước
khi trả lãi và thuế với tiền lãi trái phiếu phải trả hàng năm.

năm hàngtrả phải phiếutrái Lãi
(EBIT) vay lãi và thuế trước nhuận Lợi
phiếutrái lãi toán thanh số Hệ
=
Hệ số trên quá thấp hay không đáp ứng thanh toán tiền lãi cho
các trái chủ làm cho công ty thất bại trong việc vay nợ. Hệ số này cho
thấy mức độ an toàn trong thanh toán lãi cho các trái chủ. Khi công ty
thiếu khả năng thanh toán lãi cho các trái chủ sẽ đặt công ty vào tình
trạng mất khả năng thanh toán nợ.
b) Hệ số thanh toán cổ tức ưu đãi
đãi ưutức Cổ
thuế sau nhuận Lợi
đãi lưu tức cổ toán thanh số Hệ
=
Hệ số này cho thấy mức độ an toàn trong viêc thanh toán cổ tức
cho các cổ đông. Khi công ty không đủ khả năng thanh toán cổ tức
cho cổ đông, sẽ đặt công ty vào tình trạng mất khả năng thanh toán
nợ và ảnh hưởng đến giá trò cổ phiếu ưu đãi trên thò trường
1.5.4 Chỉ số về khả năng lợi nhuận và sử dụng tài sản
Việc tính toán khả năng lợi nhuận chỉ ra số lợi nhuận mà công
ty đạt được cho mỗi đồng doanh thu (doanh số). Các nhà phân tích
thường nhìn vào cả lợi nhuận gộp và lợi nhuận ròng (lợi nhuận sau
thuế) để đánh giá khả năng tạo lợi nhuận
a) Hệ số lợi nhuận gộp
thuần thu Doanh
gộp nhuận Lợi

=
b) Cổ tức cho một cổ phiếu thường (DPS)
hànhlưu đang thường phiếucổ Số
lại giữ nhuận Lợi - đãi ưutức Cổ - thuế sau nhuận Lợi
DPS
=
c) Chỉ số giá cả trên thu nhập (P/E)
EPS
phiếucổ của trường thò Giá
nhập thu trên cả giá số Chỉ
=
Hệ số P/E cao chỉ ra rằng nhà đầu tư đang trả giá cao cho thu
nhập ngày hôm nay. Họ làm như vậy hy vọng thu nhập tương lai sẽ cao
hơn. Các cổ phiếu có hệ số P/E cao có khuynh hướng trả cổ tức thấp
d) Hệ số chi trả cổ tức
Hệ số này là tỷ lệ phần trăm lợi nhuận ròng trả cho cổ đông
thường dưới dạng cổ tức
EPS
DPS
tức cổ trả chi số Hệ
=
e) Lơiï tức hiện thời (hệ số lãi cổ phần trên thời giá)
Lợi tức hiện thời cho cổ phiếu thường thể hiện tỷ lệ hoàn vốn
cổ tức dựa trên giá trò thò trường hiện thời của cổ phiếu.

thường phiếucổ mỗi của trường thò trò Giá
thường phiếucổ mỗi của năm hàngtức Cổ
thường phiếucổ 1 của thời hiệntức Lợi
=
Chương 2 – Tình hình thực tế của Thị trường chứng khốn và các cổ phiếu cụ thể

hoảng như một số chuyên gia dự báo, mà trái lại, đã trở thành một lực đẩy tích
cực. Với sự góp mặt của FPT, PVD, PPC, SSI, DPM, HPG…, số lượng các cổ
phiếu lớn có ảnh hưởng liên thông gần với VN-Index tăng lên. Thị trường không
còn chịu tác động chỉ từ một hai mã cổ phiếu nên có độ cân bằng cao hơn.
Tính thanh khoản lên cao chưa từng thấy, đưa thị trường vào giai đoạn phát
triển bùng nổ. Số lượng tài khoản nhà đầu tư cũng như giá trị giao dịch tăng từng
phiên. Nếu như đầu năm 2006, giá trị giao dịch mỗi phiên chỉ vài chục tỉ đồng thì
năm 2007 con số này đạt khoảng 1.000 tỉ đồng. Thị trường chứng khoán chính
thức trở thành kênh thu hút vốn cho doanh nghiệp, kênh đầu tư sinh lời của người
dân – nơi đâu đó giấc mơ đổi đời đã trở thành sự thật.
Khởi đầu năm 2007 với con số 751,77 điểm, chỉ sau hơn 3 tháng VN-Index
đã vọt lên đỉnh 1170,67 điểm ngày 12/3. Đây chính là giai đoạn thăng hoa nhất
trong lịch sử 8 năm vận hành của Thị trường chứng khoán. Trái “bong bong chứng
khoán” trở thành chiếc túi không đáy hút liên tục các nguồn tiền khác nhau.
Chặng đường tới đỉnh bắt đầu với đợt tăng giá của các công ty lớn
(bluechip) có kết quả kinh doanh tốt. Thị trường được đẩy lên khỏi mức 1.000
điểm. Lợi nhuận đem lại từ đầu tư chứng khoán đi vào câu chuyện thường ngày
của mọi nhà, đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên Đán, kéo một lượng nhà đầu tư mới
ra nhập thị trường. Các cổ phiếu tiếp tục tăng giá sau Tết. Nổi bật ở giai đoạn này
là các cổ phiếu mang tính đầu cơ cao như các cổ phiếu các công ty nhỏ sàn HOSE
(TP.HCM) và cổ phiếu các công ty thuộc tổng công ty Sông Đà, các công ty in
sách giao khoa trên sàn HASTC (Hà Nội). Giá nhiều cổ phiếu tăng không ngừng
khiến các chỉ số phân tích cơ bản bị bỏ lại đằng sau đủ để nhiều nhà đầu tư cảm
thấy chúng quá đắt. Khi mọi người đều nghĩ “quá cao” thì giảm giá là điều tất yếu.
Thị trường giảm liên tục từ giữa tháng 3. Cổ phiếu mất giá khiến không ít nhà đầu
tư mà đa phần là những người mới gia nhập thị trường thua lỗ nặng. Đây là bài
học đầu tiên trong năm nhưng cũng rất cần thiết với nhà đầu tư. Chỉ có mất mát từ
thị trường mới có thể tác động được vào những quan niệm như: Thị trường chứng
khoán là cỗ máy in tiền, cứ mua là lãi, đầu tư là công việc nhàn hạ, dễ dàng, thậm
chí nhiều người còn coi Thị trường chứng khoán như sòng bạc. Từ mức đỉnh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status