Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán và các giải pháp khắc phục - Pdf 58

Chuyên đề ngân hàng GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc
PHẦN MỞ ĐẦU
1.LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
TTCK là một trong những thị trường đầy nhạy cảm và luôn đứng ở vai trò đầu
tàu trong quá trình hội nhập quốc tế. Khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, TTCK
đã thực sự nằm trong khuôn khổ hội nhập chung của cả nền kinh tế và mở ra nhiều cơ
hội cho Việt Nam.
Thứ nhất, việc mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán tạo cơ hội khuyến khích
phát triển cơ sở NĐT (investors base), gia tăng đầu tư gián tiếp nước ngoài. Chính
phủ cũng đã có những chính sách mở rộng, khuyến khích NĐT nước ngoài tham gia
vào TTCK Việt Nam. Tỷ lệ tham gia của NĐT nước ngoài trên TTCK Việt Nam
trong tương lai sẽ được nới rộng hơn đối với những ngành nghề mà Nhà nước không
cần nắm cổ phần chi phối…
Cơ hội thứ hai là việc mở cửa thị trường dịch vụ chứng khoán cho các nhà cung
cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sẽ tạo cơ hội gia tăng số lượng và chất lượng
dịch vụ trên thị trường, tạo môi trường cạnh tranh nhằm mang lại lợi ích tối đa cho
NĐT, cũng như thúc đẩy thị trường phát triển
Một cơ hội nữa là rất tốt cho các DN Việt Nam nếu như họ có thể nắm bắt được,
đó là cơ hội tiếp cận các thị trường vốn quốc tế. Điều này sẽ không chỉ giúp các DN
cọ xát, học hỏi kinh nghiệm, mà còn giúp quảng bá hình ảnh nền kinh tế Việt Nam.
Sự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng sự vận
hành của TTGDCK tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/7/2000, đã thể hiện sự nỗ lực
lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm thúc đẩy tiến trình đổi mới nền kinh tế và hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam và là một bước tiến quan trọng trong quá trình xây
dựng đồng bộ và hoàn thiện thị trường tài chính. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng
đối với nền kinh tế, mở ra một kênh huy động vốn trung và dài hạn mới bên cạnh hệ
thống ngân hàng. Nó là chiếc cầu nối giữa một bên là nhà đầu tư bao gồm các tổ chức
kinh tế - xã hội và đông đảo quần chúng có nguồn vốn nhàn rỗi với một bên là các
doanh nghiệp cần vốn và Nhà nước cần tiền để thoả mãn các nhu cầu chung của nền
kinh tế.
1 SVTH: Võ Nguyễn Thu Hiền

3.3.Đối tượng nghiên cứu:
2 SVTH: Võ Nguyễn Thu Hiền
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc
-Ảnh hưởng của lạm phát đến thị trường chứng khoán nói chung và đến 5 loại
cổ phiếu tiêu biểu của các ngành như: Công ty cổ phần khoáng sản Bình Định (BMC),
Công ty cổ phần sữa Việt Nam (VNM), Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn
Thương Tín (STB), Công ty cổ phần cơ điện lạnh (REE), Công ty cổ phần phát triển
đầu tư công nghệ (FPT).
4.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập thông tin và số liệu từ internet, trên
các tạp chí, sách báo từ đó hệ thống lại và viết thành bài chuyên đề.
- Phương pháp xử lý số liệu: bằng phương pháp thống kê mô tả và so sánh với
những số liệu thực tế, các bảng biểu cũng như đồ thị minh hoạ.
3 SVTH: Võ Nguyễn Thu Hiền
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
PHƯƠNG PHÁP LUẬN
1.1 Giới thiệu chung về Thị Trường Chứng Khoán
1.1.1 Khái niệm và bản chất của TTCK
a. Khái niệm:
Thị trường giao dịch chứng khoán là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin
để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán.
b) Bản chất:
Thị trường chứng khoán phản ánh các quan hệ trao đổi, mua bán quyền sở hữu
tư liệu sản xuất và vốn bằng tiền, tức là mua bán quyền sở hữu vốn. Trong nền kinh tế
thị trường, vốn được lưu thông như một loại hàng hóa có giá trị và giá trị sử dụng. Thị
trường chứng khoán là hình thái phát triển cao của nền sản xuất hàng hóa.
1.1.2. Đặc điểm và vai trò của TTCK
a. Đặc điểm:

- Thị trường thứ cấp: Hay còn gọi là thị trường cấp hai hay thị trường lưu
thông, là nói đến nơi diễn ra các hoạt động mua bán chứng khoán mới phát hành lần
đầu. Nói cách khác thị trường thứ cấp là thị trường mua đi bán lại các loại chứng
khoán đã phát hành qua thị trường sơ cấp.
c) Căn cứ vào phương thúc giao dịch của thị trường
-Thị trường giao ngay:Là thị trường mua bán chứng khoán theo giá tại thời
điểm giao dịch nhưng việc thực hiện thanh toán và giao hàng có thể diễn ra sau đó
một vài ngày theo thoả thuận.
- Thị trường giao sau:Là thị trường mua bán chứng khoán theo một loại hợp
đồng định sẵn, giá cả được thoả thuận trong ngày giao dịch, nhưng việc thanh toán và
giao hàng xảy ra trong một thời hạn ở tương lai.
Ngoài ra, nếu căn cứ vào đặc điểm hàng hoá lưu hành thì thị trường chứng
khoán còn chia thành thị trường cổ phiếu, thị trường trái phiếu, thị trường các công cụ
phái sinh.
1.2 Giới thiệu chung về lạm phát
1.2.1. Khái niệm và bản chất của lạm phát
5 SVTH: Võ Nguyễn Thu Hiền
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc
a) Khái niệm: Lạm phát là hiện tượng xảy ra khi mức giá cả chung (mức chung
bình của giá cả hàng hóa) của nền kinh tế tăng lên liên tục trong một thời gian nhất
định (từ vài tháng trở lên).
b) Bản chất: Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ khi những biến động tăng lên
của giá cả diễn ra trong một thời gian dài.
1.2.2. Tác động của lạm phát
Thông thường, chỉ số tiêu dùng (CPI) ôn hòa, ổn định ở mức khoảng 5% là
điều kiện lý tưởng để TTCK hoạt động bình thường, tránh sốc nóng, lạnh trong giả
định các nhân tố khác liên quan đến TTCK không đổi. Còn khi CPI tăng gây ảnh
hưởng đến TTCK qua 4 cơ chế sau:
1. CPI tăng sẽ trực tiếp làm tăng khó khăn cho các doanh nghiệp gắn với việc
phải tăng lãi vay tín dụng, tăng lương và các chi phí đầu vào khác,từ đó làm tăng chi

dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.
Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư
tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng
cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự
đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số
lượng doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét
toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm.
b.Nhân tố lãi suất
Mối quan hệ giữa lãi suất và giá trái phiếu là mối quan hệ trực tiếp và ngược
chiều nhau. Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị
trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến
giá trái phiếu càng nhỏ. Do đó, giữa lãi suất thị trường và lãi suất trái phiếu có quan
hệ tỷ lệ nghịch: khi lãi suất ngân hàng tăng cao hơn lãi suất trái phiếu, giá trái phiếu
sẽ sụt giảm.
Không chỉ vậy, quan hệ giữa lãi suất thị trường và lãi suất chứng khoán là mối
quan hệ gián tiếp tác động đến giá của chứng khoán. Nếu lãi suất thị trường cao hơn
lãi suất chứng khoán thì giá chứng khoán sẽ giảm, điều này khiến cho hoạt động trên
thị trường chứng khoán giảm sút vì người ta thích gởi tiền vào ngân hàng hơn lao vào
mua chứng khoán.
1.2.4. Các chính sách của nhà nước trong việc kiềm chế lạm phát
7 SVTH: Võ Nguyễn Thu Hiền
Chuyên đề ngân hàng GVHD: Trần Thị Hạnh Phúc
a.Thay đổi lãi suất chiết khấu
Lãi suất chiết khấu là chi phí mà các ngân hàng thuơng mại phải trả cho việc
vay tiền từ ngân hàng trung ương. Nói rõ ràng hơn thì khi các ngân hàng thương mại
cần tiền, họ có thể vay ở ngân hàng trung ương bằng cách mang chiết khấu các giấy
tờ có giá với một lãi suất do ngân hàng trung ương công bố từ trước, gọi là lãi suất
chiết khấu.
Bởi đó là một trong những cách hữu hiệu nhất mà ngân hàng trung ương nỗ
lực để kiểm soát lạm phát. Không một quốc gia nào muốn để lạm phát ở mức cao.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status