ảnh hưởng của lạm phát tới thị trường chứng khoán và biện pháp khắc phục - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời nói đầu
Cơ chế thị trờng đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự đổi thay của nền
kinh tế Việt Nam trong những thập niêm gần đây. Trong nền kinh tế thị trờng
hoạt động đầy sôi động và cạnh tranh gay gắt để thu đợc lợi nhuận cao và đứng
vững trên thơng trờng. Các nhà kinh tế cũng nh các doanh nghiệp phải nhanh
chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề của nền kinh tế mới. Bên cạnh bao vấn đề
cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một
trong những vấn đề nổi cộm khác trong kinh tế. Một trong những vấn đề nổi
cộm ấy là lạm phát. Lạm phát nh một căn bệnh của nền kinh tế thị trờng, nó là
một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi sự đầu t lớn về thời gian và trí tuệ mới có
thể mong muốn đạt đợc kết quả khả quan. Chống lạm phát không chỉ là việc
của các nhà doanh nghiệp mà còn là nhiệm vụ của chính phủ. Lạm phát ảnh h-
ởng toàn bộ đến nền kinh tế quốc dân, đến đời sống xã hội, đặc biệt là giới lao
động. ở nớc ta hiện nay, chống lạm phát, giữ vững nền kinh tế phát triển ổn
định, cân đối là một mục tiêu rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội,
nâng cao đời sống nhân dân.
Trong thời gian gần đây, vấn đề lạm phát đã đợc nhiều ngời quan tâm,
nghiên cứu và đề xuất các phơng án khắc phục. Đã từ lâu tiền giấy xuất hiện và
chẳng bao lâu sau đó diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát. Nét
đặc trng nổi bật của thực trạng nền kinh tế khi có lạm phát, giá cả của hầu hết
các hàng hoá đều tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thể kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20. ở nớc ta lạm
phát diễn ra nghiêm trọng và kéo dài mà nguồn gốc của nó là do hậu quả nặng
nề của chiến tranh, cơ cấu kinh tế bất hợp lý kéo dài. Lạm phát đã phá vỡ toàn
bộ kế hoạch của nền kinh tế, phơng hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền
kinh tế - xã hội.
Bài viết này với đề tài: "ảnh hởng của lạm phát tới thị trờng chứng
khoán và biện pháp khắc phục"
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
ip: chỉ số giá cả của từng loại nhóm hàng
d: tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng.
b) Phân loại lạm phát:
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dới
10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tơng đối. Trong
thời kỳ này nền kinh tế hoạt động bình thờng, đời sống của ngời lao động ổn
định. Sự ổn định đó đợc biểu hiện: giá cả tăng lên chậm, lãi suất tiền gửi không
cao, không xẩy ra với tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lợng lớn...
Có thể nói lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho ngời lao động chỉ trông
chờ vào thu nhập. Trong thời gian này các hãng kinh doanh có khoản thu nhập
ổn định, ít rủi ro nên sẵn sàng đầu t cho sản xuất, kinh doanh.
- Lạm phát phi mã: lạm phát xẩy ra khi giá cả tăng tơng đối nhanh với tỷ
lệ 2 hoặc 3 con số một năm. ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung
tăng lên nhanh chóng, gây biến động lớn về kinh tế , các hợp đồng đợc chỉ số
hoá. Lúc này ngời dân tích trữ hàng hoá, vàng bạc, bất động sản và không bao
giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thờng. Loại này khi đã trở nên vững chắc sẽ
gây ra những biến dạng kinh tế nghiêm trọng.
- Siêu lạm phát: xẩy ra khi lạm phát đột biến tăng lên với tốc độ cao vợt xa
lạm phát phi mã, nó nh một căn bệnh chết ngời, tốc độ lu thông tiền tệ tăng
kinh khủng, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lơng thực tế bị giảm mạnh,
tiền tệ mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thị trờng
biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn. Tuy nhiên, siêu
lạm phát rất ít khi xẩy ra.
Lịch sử của lạm phát cũng chỉ ra rằng, lạm phát ở các nớc đang phát triển
thờng diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hiệu quả của nó phức tạp và trầm trọng
hơn. Vì vậy các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại.
Lạm phát kinh niên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dớ 50% một năm;
lạm phát nghiêm trọng thờng kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát trên 50%; siêu
lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát trên 200% một năm.

4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Ví dụ:
Năm 1966 - 1967 chính phủ Mỹ đã sử dụng việc tăng tiền để trả cho
những chi phí leo thang của cuộc chiến tranh tại Việt Nam, lạm phát tăng từ 3%
(năm 1967) đến 6% (năm 1970).
Xét trong dài hạn lãi suất thực tế (i) và sản lợng thực tế (y) đạt mức cân
bằng, nghĩa là (i) và (y) ổn định. Mức cầu tiền thực tế không đổi nên M/P cũng
không đổi. Suy ra khi lợng tiền danh nghĩa (M) tăng lên thì giá cả sẽ tăng lên
với tỷ lệ tơng ứng. Vậy lạm phát là một hiện tợng tiền tệ. Đây là lý do tại sao
ngân hàng Trung ơng rất chú trọng đến nguyên nhân này.
b) Lạm phát theo thuyết Keynes (lạm phát cầu kéo):
Tăng cung tiền không phải là nguyên nhân duy nhất dẫn đến tăng cầu về
hàng hoá, dịch vụ. Tăng tiêu dùng, chi phí công cộng và tăng dân số là những
nhân tố phi tiền tệ, sẽ dẫn đến tăng cầu. áp lực lạm phát sẽ tăng sau 1 đến 3
năm, nếu cầu về hàng hoá vợt quá mức cung, song sản xuất vẫn không đợc mở
rộng hoặc do sử dụng máy móc với công suất tiến tới giới hạn hoặc vì nhân tố
sản xuất không đáp ứng đợc sự gia tăng của cầu. Sự mất cân đối đó sẽ đợc giá
cả lấp đầy. Lạm phát do cầu tăng lên hay lạm phát do cầu kéo đợc ra đời từ đó.
Chẳng hạn ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số có ích phản ánh lạm
phát trong tơng lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên 83% dẫn tới lạm phát
tăng.
c) Lạm phát theo thuyết chi phí đẩy:
Lạm phát chi phí đẩy vừa lạm phát, vừa suy giảm sản lợng tăng thêm thất
nghiệp nên còn gọi là lạm phát "đình trệ" Hình thức của lạm phát này phát sinh
ra từ phía cung, do chi phí sản xuất cao hơn đã đợc chuyển sang ngời tiêu dùng.
Điều này chỉ có thể đợc trong giai đoạn tăng trởng kinh tế khi ngời tiêu dùng
sẵn sàng trả với giá cao hơn.
Bên cạnh những yếu tố gây nên lạm phát đó là giá nhập khẩu cao hơn đợc
chuyển cho ngời tiêu dùng nội địa. Nhập khẩu càng trở nên đắt đỏ khi đồng nội

P
0
E
1
E
0
E
0
ASSLASRL
P
1
P
0
E
1
ASLR ADP
ASSR
1
ASSR
2
Chi tiêu quá khả năng cung ứng
- Khi sản lợng vợt tiềm năng đ-
ờng AS có độ dốc lớn nên khi cầu
tăng mạnh, AD - AD
1
, giá cả tăng
P
0
- P
1

P
0
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong lạm phát dự kiến AS & AD dịch chuyển lên trên cùng, độ sản lợng
vẫn giữ nguyên, giá cả tăng lên theo dự kiến.
e) Các nguyên nhân khác:
Giữa lạm phát và lãi suất khi tỷ lệ lạm phát tăng lên lãi suất danh nghĩa
tăng theo, tăng chi phí cơ hội của việc giữ tiền, càng giữ nhiều tiền càng thiệt.
Điều này đặc biệt đúng trong các cuộc siêu lạm phát, tiền mất giá càng nhanh,
tăng mức độ tiền gửi vào ngân hàng, vào quỹ tiết kiệm hoặc đẩy ra thị trờng để
mua về mọi loại hàng hoá có thể dự trữ gây thêm mất cân bằng cung cầu trên
thị trờng hàng hoá và tiếp tục đẩy giá lên cao.
Giữa lạm phát và tiền tệ khi ngân sách thâm hụt lớn các chính phủ có thể
in thêm tiền để trang trại, lợng tiền danh nghĩa tăng lên là một nguyên nhân
gây ra lạm phát. Và một khi giá cả đã tăng lên thì sự thâm hụt mới nảy sinh, đòi
hỏi phải in thêm một lợng tiền mới và lạm phát tiếp tục tăng vọt. Kiểu lạm
phát xoáy ốc này thờng xảy ra trong thời kỳ siêu lạm phát. Tuy nhiên, chính
phủ có thể tài trợ thâm hụt bằng cách vay dân thông qua bán tín phiếu. Lợng
tiền danh nghĩa không tăng thêm nên không có nguy cơ lạm phát, nhng nếu
thâm hụt tiếp tục kéo dài, số tiền phải trả cho dân (cả gốc lẫn lãi) sẽ lớn đến
mức cần phải in tiền để trang trải thì khả năng có lạm phát mạnh là điều chắc
chắn.
Các nguyên nhân liên quan đến chính sách của nhà nớc, chính sách thuế,
chính sách cơ cấu kinh tế không hợp lý. Các chủ thể kinh doanh làm tăng chi
phí đầu vào, nguyên nhân do nớc ngoài.
3) Những tác động của lạm phát:
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lạm phát có nhiều loại, cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hởng khác
nhau đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tơng quan, trong một nền kinh tế mà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status