tìm hiểu tác động của hạn hán tới hoạt động trồng trọt và biện pháp thích ứng của người dân tại xã đồng văn, huyện thanh chương, tỉnh nghệ an - Pdf 13

Lời Cảm Ơn
Để hoàn thành đề tài khóa luận tốt nghiệp của mình, trong thời gian
qua tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu từ các cơ quan và cá nhân.
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới toàn thể quý thầy, cô giáo
khoa Khuyến nông và Phát triển nông thôn – Trường Đại học Nông Lâm Huế.
Chính sự dạy dỗ và chỉ báo của quý Thầy cô trong suốt 4 năm học tại trường
đã tạo nền tảng vững chắc về kiến thức để giúp em có thể hoàn thiện được đề
tài của mình.
Đặc biệt, tôi xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, Thạc sĩ
Hồ Lê Phi Khanh – Người đã hướng dẫn, chỉ bảo và quân tâm sâu sát, nhiệt
tình nhất trong thời gian qua để tôi có thể hoàn thành đề tài của mình đúng
trọng tâm cũng như thời gian quy định.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới Trạm Khí tượng thủy văn Đô
Lương, Phòng Nông nghiệp huyện Thanh Chương, Ủy ban nhân dân xã Đồng
Văn và các cô, các bác nông dân xã Đồng Văn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
để tôi có thể thu thập được các số liệu thứ cấp và sơ cấp phục vụ cho việc hoàn
thiện đề tài của mình.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn và lòng biết ơn vô hạn của mình tới
cha, mẹ và các thành viên trong gia đình tôi đã quan tâm, chăm sóc và tạo điều
kiện cho tôi ăn học cho đến ngày hôm nay./.
Huế, ngày 20 tháng 5 năm 2011
Sinh viên
TRỊNH VĂN TRUNG
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ha : hec ta
km : Kilomet
m : mét
mm : milimet
UBND : Ủy ban nhân dân
WMO : Tổ chức khí tượng thế giới

Bảng 2: Ví dụ về sự khác nhau giữa thích ứng và ứng phó 13
2.3.2.Một số biện pháp để phòng chống hạn hán 14
2.3.2.1. Biện pháp công trình 14
2.3.2.2. Biện pháp phi công trình 15
2.3.2.3. Biện pháp kết hợp 16
PHẦN III 19
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1. Điểm nghiên cứu 19
3.2. Phương pháp nghiên cứu 19
3.2.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp 19
3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp 19
3.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 21
PHẦN IV 22
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1. Tình hình cơ bản xã Đồng Văn 22
4.1.1. Vị trí địa lý 22
Hình 1: BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH 22
HUYỆN THANH CHƯƠNG, NGHỆ AN, VIỆT NAM 22
4.1.2. Đặc điểm khí hậu, thời tiết 23
Bảng 3: Tình hình biến động nhiệt độ, khí hậu ở xã Đồng Văn 24
4.1.3. Nguồn nước 25
4.1.4. Dân số lao động, việc làm, tình hình sử dụng tài nguyên đất và
thu nhập 25
Bảng 4: Tình hình dân số, lao động và tình hình sử dụng đất nông nghiệp xã Đồng Văn 26
Biểu đồ 1: Cơ cấu thu nhập của xã Đồng Văn 27
4.2. Biểu hiện của hạn hán tại khu vực nghiên cứu 28
4.2.1. Xu hướng của hạn hán tại khu vực nghiên cứu 28
iii
4.2.1.1. Xu hướng của hạn hán theo số liệu từ trạm khí tượng thủy văn Đô Lương.
28

4.3.2.5. Làm tăng chi phí cho hoạt động trồng trọt 48
Bảng 16: Ảnh hưởng của hạn hán tới chi phí
cho hoạt động trồng trọt 49
4.3.2.6. Làm giảm giá nông sản 50
Bảng 17: Ảnh hưởng của hạn hán tới giá cả các loại nông sản 50
4.4. Biện pháp thích ứng của chính quyền và người dân địa phương 51
4.4.1. Biện pháp chính quyền đã triển khai 51
4.4.1.1. Về biện pháp công trình 51
4.4.1.2. Về biện pháp phi công trình 53
4.4.2. Biện pháp thích ứng của người dân đối với mỗi loại cây trồng 54
4.4.3. Những khó khăn khi thực hiện và hiệu quả của các biện pháp 56
4.4.3.1. Những khó khăn khi thực hiện 56
4.4.3.2. Hiệu quả của các biện pháp thích ứng. 56
PHẦN V 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58
iv
5.1. Kết luận 58
5.2. Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ LỤC 64
1.PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ 64
2.Bản đồ hạn hán xã Đồng Văn 71
3.Một số bảng biểu có liên quan 71
4.Một số hình ảnh về đợt hạn hán năm 2010 tại huyện Thanh Chương và toàn tỉnh Nghệ
An 73
v
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH
ẢNH
Bảng 1: Bảng chỉ số khô hạn K theo cán cân nước
của Nguyễn Trọng Hiệu 7

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm trở lại đây, biến đổi khí đang diễn biến ngày càng
phức tạp và gây ra nhiều hiện tượng cực đoan như hạn hán, lũ lụt, bão, lốc
xoáy, sạt lở đất, mưa đá ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống và quá trình
sản xuất hầu khắp các nước trên thế giới[17],[26]. Trong số các hiện tượng
này thì hạn hán trong những năm trở lại đây đang tỏ ra ngày càng phức tạp do
sự nóng lên của khí hậu toàn cầu và đang đe dọa mạnh mẽ tới sản xuất của
người dân. Thập kỷ gần đây hạn có phần nhiều hơn so với các thập kỷ trước;
Ở Việt Nam nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1
0
C mỗi thập kỷ, nhiệt độ
trung bình một số tháng mùa hè tăng khoảng 0,1 - 0,3
0
C mỗi thập kỷ. Trong
50 năm trở lại đây, nhiệt độ của nước ta đã tăng lên 0,7
0
C Việt Nam là một
trong 5 nước bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu và mực
nước biển dâng cao[4],[17]. Nước ta là một nước có nền nông nghiệp còn khá
lạc hậu và có tới hơn 70% dân số sinh sống và sản xuất ở khu vực nông thôn
nên ảnh hưởng của biến đổi khí hậu càng nghiêm trọng do khả năng ứng phó
là rất thấp. Thực tế trong những năm qua sản xuất nông nghiệp đang gặp phải
vô vàn khó khăn do các hiện tượng hạn hán, lũ lụt, bão… mang lại.[13],[15]
Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ với điện tích tự nhiên
lớn nhất cả nước là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp.
Nhưng bên cạnh đó Nghệ An cũng chịu không ít khó khăn do vị trí này mang
lại. Điều đó thể hiện rất rõ qua tần suất và cường độ các thiên tai mà Nghệ An
phải hứng chịu. Chỉ tính riêng trong năm 2010 tỉnh đã phải chịu một đợt hạn

“Tìm hiểu tác động của hạn hán tới hoạt động trồng trọt và biện pháp thích
ứng của người dân tại xã Đồng Văn, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An”
được thực hiện.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
*. Mục tiêu tổng quát
Xác định ảnh hưởng của hạn hán đến hoạt động trồng trọt cũng như
những biện pháp thích ứng của nông hộ tại xã Đồng Văn, huyện Thanh
Chương, tỉnh Nghệ An.
*. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá tình hình hạn hán diễn ra trên địa bàn xã Đồng Văn.
- Chỉ ra những ảnh hưởng của hạn hán đến các loại cây trồng trên địa
bàn xã Đồng Văn.
- Tìm hiểu những biện pháp thích ứng đang được người dân thực hiện
trong tình trạng hạn hán hiện nay.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về hạn hán
2.1.1. Khái niệm
Hạn hán đang ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên
cứu, cùng với quá trình nghiên cứu thì nhiều khái niệm khác nhau về hạn hán
cũng đã được đưa ra. Tùy vào tình hình thực tế tại các vùng khác nhau thì mỗi
tác giả có những nhận định khác nhau về hạn hán. Tuy nhiên hầu hết đều dựa
vào các diễn biến chủ yếu của khí hậu như nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa và các
biểu hiện của nguồn nước như nguồn nước ngầm, mực nước của sông, suối,
ao hồ, đập…. Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, khái niệm của WMO sẽ
được sử dụng do có khá nhiều điểm phù hợp với thực tế tại điểm nghiên cứu
và nhận định về hạn hán khá toàn diện. Theo tổ chức Khí tượng Thế giới
(WMO): Hạn hán là hiện tượng lượng mưa thiếu hụt nghiêm trọng kéo dài,
làm giảm hàm lượng ẩm trong không khí và hàm lượng nước trong đất, làm

tăng do sự phát triển kinh tế - xã hội ở các khu vực, các vùng chưa có quy
hoạch hợp lý hoặc quy hoạch phát triển không phù hợp với mức độ phát triển
nguồn nước, không hài hoà với tự nhiên, môi trường vốn vẫn tồn tại lâu nay.
Mức độ nghiêm trọng của hạn hán thiếu nước càng tăng cao do nguồn nước
dễ bị tổn thương, suy thoái lại chịu tác động mạnh của con người.[1]
Trong giới hạn của đề tài sẽ tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu nguyên
nhân khách quan và làm rõ hậu quả do hạn hán gây ra thông qua việc xem xét
các nguyên nhân và tìm hiểu hậu quả của hạn hán gây ra đối với hệ thống cây
trồng nói chung và hoạt động trồng trọt của người dân nói chung.
2.1.3. Phân loại hạn hán
Theo tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO)[25]: Hạn hán được phân ra 4
loại: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thuỷ văn và hạn kinh tế xã hội. Tuy
nhiên, trong đề tài sẽ chú trọng vào 2 loại hạn đó là hạn khí tượng để xác định
tình trạng hạn hán tại điểm nghiên cứu và hạn nông nghiệp để tìm hiểu, phân
tích những ảnh hưởng do hạn khí tượng gây ra đối với hoạt động trồng trồng
trọt tại điểm nghiên cứu.
a. Hạn khí tượng
Thiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa, lượng bốc hơi, nhất là trong
trường hợp liên tục mất mưa. Ở đây lượng mưa tiêu biểu cho phần thu và
lượng bốc hơi tiêu biểu cho phần chi của cán cân nước. Do lượng bốc hơi
đồng biến với cường độ bức xạ, nhiệt độ, tốc độ gió và nghịch biến với độ ẩm
nên hạn hán gia tăng khi nắng nhiều, nhiệt độ cao, gió mạnh, thời tiết khô
4
ráo[25]. Như vậy ta có thể dễ dàng nhận ra tình trạng hạn khí tượng thông qua
các biểu hiện của không khí như nhiệt độ, lượng mưa, gió và các biểu hiện
của đất như khô, cang cứng, nứt nẻ và bạc màu thể hiện cho sự suy giảm của
độ ẩm trong đất.
b. Hạn nông nghiệp
Thiếu hụt mưa dẫn tới mất cân bằng giữa hàm lượng nước thực tế trong
đất và nhu cầu nước của cây trồng. Hạn nông nghiệp thực chất là hạn sinh lý

dòng sông khi bị hạn thông thường sẽ bị hạ thấp mực nước dẫn tới hẹp dòng
chảy và xuất hiện thêm các bãi bồi ở ven sông hoặc ở giữa lòng sông vào thời
kỳ hạn hán.[25]
d. Hạn kinh tế xã hội
Nước không đủ cung cấp cho nhu cầu của các hoạt động kinh tế xã
hội. Các hoạt động kinh tế xã hội đòi hỏi một lượng nước khổng lồ để có
thể dung trì các hoạt động của mình. Vì vậy tình trạng hạn xảy ra sẽ gây ra
rất nhiều khó khăn và tổn thất cho nền kinh tế. Hạn xã hội có thể được biểu
hiện như thiếu nước dẫn tới thiếu điện cho các sản xuất và sinh hoạt, hay
tình trạng ô nhiễm, tình trạng mất vệ sinh các nguồn nước, tình trạng thiếu
nước sạch [25]
2.1.4. Đặc trưng hạn hán
Hạn cũng có những đặc trưng nhất định để chúng ta có thể nhận thấy
tình trạng hạn hán đang xẩy ra dựa vào những con số. Có rất nhiều chỉ số
được đưa ra để chúng ta có thể dựa vào đó để xem xét và xác định mức độ
hạn hán như SI, chỉ số chuẩn hóa lượng mưa SPI, chỉ số khô Penman, chỉ số
cấp nước mặt SWSI, chỉ số khô hạn cán cân nước K…[5]
Để mô tả khái quát tình hình chung về hạn hán trong các khu vực và
diễn biến theo thời gian của chúng, người ta đã sử dụng chỉ số khô hạn các
tháng và năm[25]:
Kt = Pt/Rt
Ở đây:
K
t
: Chỉ số khô hạn tháng (năm)
P
t
: Lượng bốc hơi theo Piche tháng (năm)
R
t

đất. Các tác động này có thể kéo dài và không khôi phục được.[25]
`Hạn hán tác động đến kinh tế xã hội như giảm năng suất cây trồng,
giảm diện tích gieo trồng, giảm sản lượng cây trồng, chủ yếu là sản lượng cây
lương thực. Ví dụ như hạn có thể làm cho quá trình ra nụ, ra hoa và đậu quả
của cà chua gặp khó khăn, ngoài ra hạn hán còn ảnh hưởng tới quá trình thụ
phấn, thụ tinh của quả cà chua [3]. Hay hạn cũng làm cho năng suất và chất
7
lượng của búp chè PH1 giảm xuống một cách đáng kể [2]. Tăng chi phí sản
xuất nông nghiệp, giảm thu nhập của lao động nông nghiệp. Tăng giá thành
và giá cả các lương thực. Giảm tổng giá trị sản phẩm chăn nuôi. Ví dụ như
khi nghiên cứu tác động của hạn hán tới sản xuất nông nghiệp tại Quảng Trị
cho thấy khi hạn hán xảy ra gia súc sinh trưởng rất chậm, gầy gò và một số có
thể bị chết do hạn [7]. Các nhà máy thuỷ điện gặp nhiều khó khăn trong quá
trình vận hành. Hạn hán còn ảnh hưởng tới các lĩnh vực khác như năng lượng,
giao thông vận tải, công nghiệp, xây dựng, du lịch, thương mại, liên quan
đến chi phí gia tăng cho việc làm mát, thông gió, bảo quản và vận hành thiết
bị, phương tiện, sức bền vật liệu.[25]
Ở Việt Nam, hạn hán xảy ra ở vùng này hay vùng khác với mức độ và
thời gian khác nhau, gây ra những thiệt hại to lớn đối với kinh tế - xã hội, đặc
biệt là nguồn nước, sản xuất nông nghiệp và an ninh lương thực. Trong lịch
sử đã có nhiều đợt hạn hán gây hậu quả nghiêm trọng đặc biệt là cho lĩnh vực
nông nghiệp như: Đợt hạn nặng vào năm 1992 – 1993 làm cho: Mực nước
trên các sông đều thấp hơn trung bình nhiều năm từ
0,1 - 0,5 m. Mặn xâm nhập sâu vào các cửa sông, từ 10 – 20 km, có lúc tới 30
km. Tháng 7/1993, mực nước các hồ chứa lớn đều ở dưới mức nước chết vẫn
được tiếp tục khai thác chống hạn, các hồ chứa vừa và nhỏ đều cạn kiệt. Tình
trạng này đã làm tê liệt hoạt đông sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi trong
nhiều tháng liền ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của người dân và an
ninh lương thực quốc gia.[25]
2.2.2. Tác động tới hoạt động sản xuất nông nghiệp

kinh tế khoảng 5.000 tỷ đồng”. Đợt hạn hán năm 1998 - 1999 trên địa bàn cả
nước làm cho 160.000 ha bị hạn nặng và mất trắng khoảng 30.000 ha và làm
giảm năng suất khoảng 200.000 tấn quy thóc. Hay như đợt hạn hán năm 2010
chỉ tính riêng tỉnh Nghệ An đã có tới đã làm mất trắng 13.896 ha lúa, 15.802
ha ngô và nhiều loại hoa màu khác trong toàn tỉnh.[1],[5],[20]
- Hạn hán cũng làm phát sinh nhiều loại dịch bệnh trên cây trồng do
khả năng đề kháng của cây trồng đối với các loài dịch bệnh bị giảm sút. Hạn
hán làm tăng nguy cơ bùng phát các loài côn trùng có hại cho cây trồng như
dế, sâu khoang, cào cào. Theo Tiến sĩ Đào Xuân Học: Hạn hán là một phần
của biến đổi khí hậu, hạn hán đang diễn biến rất phức tạp và có chiều hướng
gia tăng, gây ra những thiệt hại cả về người và của cho con người. Hạn hán
trong lĩnh vực nông nghiệp đã làm cho cây trồng sinh trưởng phát triển kém
9
ngoài ra còn tạo điều kiện để sâu bệnh bùng phát, gây hại trên diện rộng.
Ngoài ra hạn hán còn làm cho một số loài thiên địch trên đồng ruộng bị biến
mất, làm tăng chi phí cho hoạt động sản xuất của người dân.[4]
2.3. Chiến lược thích ứng với hạn hán
Hạn hán đang trở thành thách thức ngày càng lớn đối với sản xuất nông
nghiệp nói riêng và đời sống của người dân nói chung. Đối với Việt Nam, hạn hán
là thiên tai gây tác hại hàng thứ 3 sau lũ lụt và bão [10]. Tác hại nghiêm trọng đó
của hạn hán đã làm cho mọi người không thể thờ ơ và đang tìm cách để thích ứng
với hạn hán. Hàng loạt chiến lược thích ứng với hạn hán đã được Trung ương
cũng như các địa phương đặt ra để giảm nhẹ thiệt hại do hạn hán gây ra.
2.3.1. Một số khái niệm có liên quan
Biến đổi khí hậu nói chung và hạn hán nói riêng là những lĩnh vực mới
và rất phức tạp nên thu hút được rất nhiều sự nghiên cứu tìm hiểu của các nhà
khoa học cũng như các tổ chức nên hàng loạt khái niệm mới đã được đưa ra
để phục vụ cho việc nghiên cứu. Chính vì vậy việc tìm hiểu các khái niệm
liên quan đống một vai trò rất quan trọng. Khi tìm hiểu và phân biệt được sự
khác nhau giữa các khái niệm tương đồng sẽ tạo cơ sở cho việc phân tích vấn

điều kiện khác nhau (IPCC,1996);[dẫn theo [9]]
Có rất nhiều phương pháp thích nghi có khả năng được thực hiện trong
việc đối phó với biến đổi khí hậu. Bản báo cáo đánh giá thứ 2 của nhóm công
tác IPCC 2 đề cập và miêu tả 228 phương pháp thích nghi khác nhau (IPCC,
1995). Vì thế sẽ có ích nếu phân loại các phương pháp thích nghi sử dụng một
cấu trúc tổng quát. Một cách phân loại thường dùng chia các phương pháp
thích nghi ra làm 8 nhóm (Burtonet al.,1993):
 Chấp nhận những tổn thất: Tất cả các phương pháp thích nghi khác có
thể được so sánh với biểu hiện cơ bản của việc “không làm gì cả” ngoại trừ
chịu đựng hay chấp nhận những tổn thất. Trên lý thuyết, chấp nhận tổn thất
xảy ra khi phải chịu tác động mà không có khả năng chống chọi lại bằng bất
kỳ cách nào ( ví dụ như ở tầng lớp dân nghèo ) hay ở nơi mà giá phải trả của
các hoạt động thích nghi là cao so với sự rủi ro hay là các thiệt hại.
 Chia sẻ những tổn thất: Loại phản ứng thích nghi này liên quan đến
việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn. Như là những
hoạt động trong một xã hội truyền thống và trong xã hội công nghệ cao.
Trong xã hội truyền thống, nhiều cơ chế tồn tại để chia sẻ những tổn thất giữa
cộng đồng mở rộng, như là các hộ gia đình, làng mạc hay là các cộng đồng
11
nhỏ tương tự. Với một sự phân bổ khác, các xã hội lớn chia sẻ những tổn thất
thông qua cứu trợ cộng đồng, phục hồi và tái thiết thông qua viện trợ của các
quỹ cộng đồng. Chia sẻ tổn thất cũng có thể được thực hiện thông qua bảo
hiểm xã hội.
 Làm giảm sự nguy hiểm: Đối với một vài sự rủi ro, bản thân nó có
thể là sự luyện tập về mức độ kiểm soát hiểm hoạ môi trường. Một hiện
tượng tự nhiên như là lũ lụt hay hạn hán, những phương pháp thích hợp là
gồm các công tác kiểm soát lũ lụt (đắp đập, đào mương, đắp đê). Đối với
biến đổi khí hậu, điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độ biến đổi khí hậu
bằng cách giảm phát thải khí nhà kính và cuối cùng là ổn định nồng độ của
khí nhà kính trong khí quyển. Trong UNFCCC, phương pháp này được đề

hậu trong tương lai. Theo Burton etal.,1993, không thể qui kết những thiệt hại
này cho duy nhất các hiện tượng mà nó cũng do sự thiếu khả năng thích nghi
một cách thích hợp của con người (cũng có thể gọi là sự điều chỉnh của con
người) và những thiệt hại trong vài trường hợp lại gia tăng do sự thích nghi
không tốt.);[dẫn theo [9]]
“Thích ứng với biến đổi khí hậu là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên
hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường thay đổi, nhằm mục
đích giảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đối khí hậu hiện
hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại”[4]
Trong nghiên cứu này, thích ứng hay thích nghi là các hoạt động
một cách có chủ định trước và có thể có hoặc không có kế hoạch cụ thể
thông qua việc điều chỉnh hệ thống cây trồng và các biện pháp canh tác
của mình để giảm thiểu, hạn chế tới tối đa các thiệt hại do hạn hán gây ra
đối với hoạt động trồng trọt.
Như vậy thích ứng khác với ứng phó ở chỗ: Thích ứng là một quá
trình kéo dài, có chuẩn bị nhằm phù hợp với những sự thay đổi từ bên
ngoài đã được dự báo trước còn ứng phó chỉ là sự phản ứng mang tính tức
thời để xử lý những tình huống diễn ra nhanh và nó không có kế hoạch cụ
thể từ trước. Một ví dụ cụ thể để chúng ta có thể dễ dàng phân biệt được
giữa ứng phó và thích ứng:
Bảng 2: Ví dụ về sự khác nhau giữa thích ứng và ứng phó.
13
Ứng phó Thích ứng
Thay đổi lịch thời vụ Nghiên cứu chuyển đổi cơ cấu sử
dụng đất
Sơ tán dân đến nơi an toàn Tái định cư, nơi trú ẩn an toàn
Đắp lại, gia cố bờ vùng bờ thửa Xây dựng, nâng cấp hệ thống kênh
mương, trạm bơm
Phá bỏ trồng cây mới Sử dụng cây trồng chống chịu
2.3.2.Một số biện pháp để phòng chống hạn hán

- Lắp đặt hệ thống các trạm bơm dã chiến trong trường hợp chống hạn
khẩn cấp, lấy nước sông ở những nơi có điều kiện để tăng thêm nguồn nước
hỗ trợ cho các vùng tưới khi các hồ, đập bị cạn kiệt.
2.3.2.2. Biện pháp phi công trình
- Tăng cường công tác dự báo, cảnh báo hạn và tuyên truyền vận động
người dân nâng cao nhận thức về tình hình hạn hán, thiếu nước tự giác sử
dụng các biện pháp để tiết kiệm nước tối đa. Không để các hộ dân tranh chấp
nguồn nước hoặc tự ý lấy nước từ các kênh.
- Áp dụng biện pháp tưới luân phiên giữa các hệ thống thuỷ lợi. Trong
từng hệ thống cũng cần phải bố trí tưới luân phiên theo từng cấp kênh, tăng
thời gian tưới cho vùng cuối kênh lấy nước khó khăn.
- Quản lý chặt chẽ, điều hành, phân phối các nguồn nước, sử dụng hợp
lý, tiết kiệm theo thứ tự ưu tiên như nước sinh hoạt, nước uống cho gia súc,
nước cho công nghiệp, dịch vụ và cân đối cho trồng trọt.
- Quy hoạch phát triển thuỷ lợi quy mô vừa và nhỏ, áp dụng các biện
pháp truyền thống và hiện đại để sử dụng nước có hiệu quả như công nghệ
tưới tiết kiệm nước phun sương, nhỏ giọt
- Sử dụng các vật liệu tự nhiên và nhân tạo để giữ nước, cung cấp nước
cho cây trồng vùng khô hạn thông qua biện pháp giảm nhỏ lượng bốc hơi mặt
ruộng, tăng khả năng giữ ẩm cho đất.
- Chuyển đổi hợp lý cơ cấu và mùa vụ cây trồng trong các năm có hạn
hán. Phát huy lợi thế của vùng trồng để trồng các loài cây chịu hạn có giá trị
kinh tế cao, tăng sản phẩm hàng hoá. Cắt giảm điện, thuỷ lợi cho gieo trồng
vụ đông xuân và bố trí kế hoạch sản xuất vụ hè thu cho phù hợp với tình hình
hạn hán hàng năm.
- Trồng hệ thống đai rừng chắn cát bằng các laọi cây lâm nghiệp phù
hợp, phát triển mô hình nông lâm kết hợp lấy ngắn nuôi dài.
- Quy hoạch các bãi chăn thả, thức ăn bổ sung cho đàn gia súc. Cải tạo
15
mô hình chuồng trại để tăng lượng phân bón cải tạo đất.

phần phát triển bền vững tài nguyên nước trên lưu vực sông;
 Quy hoạch phát triển nguồn nước, bao gồm các biện pháp công
16
trình và phi công trình; gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng và khả năng tái tạo
nguồn nước. Việc xây dựng công trình trữ, giữ nước, điều hoà phân phối hợp lý
nguồn nước khi kết hợp chống lũ và cấp nước phục vụ sử dụng tổng hợp, cho
nhiều mục đích và bảo vệ tài nguyên nước, bảo vệ môi trường, phát triển rừng,
bảo vệ rừng đầu nguồn, là những giải pháp cần ưu tiên trong thực hiện. Phải
gắn kết chặt chẽ việc phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm an ninh về nước,
đồng bộ với phát triển nguồn nước;
 Lập kế hoạch điều hoà, phân phối tài nguyên nước cho từng lưu
vực sông trên cơ sở cân đối khả năng nguồn nước và nhu cầu khai thác, sử
dụng theo lưu vực sông, các ngành, địa phương phải tuân thủ kế hoạch điều
hoà phân phối tài nguyên nước trong lưu vực; Tăng cường công tác quản lý
nhu cầu dùng nước; có cơ chế để bảo đảm dùng nước có hiệu quả cao nhất và
đủ nguồn nước trong năm.
 Xây dựng chính sách, cơ chế quản lý, vận hành, điều hoà phân
phối nguồn nước các hồ chứa lớn đa mục tiêu để tạo một nguồn cung cấp an
toàn và hiệu quả cao nhất phục vụ các nhu cầu khai thác, sử dụng của các
ngành, địa phương trong mùa cạn kết hợp với phòng chống lũ, bảo đảm duy
trì chế độ dòng chảy trên các sông chính trong vùng;
 Xây dựng chính sách quy định thứ tự ưu tiên chia sẻ nguồn nước
theo đối tượng sử dụng nhằm bảo đảm lợi ích chung (sinh hoạt, chăn nuôi,
thuỷ sản, nông nghiệp, công nghiệp…) và theo mức độ hạn hán thiếu nước;
 Thực hiện nghiêm chỉnh các văn bản quy phạm pháp luật về tài
nguyên nước, trước hết là thực hiện tốt việc cấp giấy phép thăm dò, khai thác,
sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước. Đây là một công cụ
hữu hiệu để quản lý tổng hợp nguồn nước vì lợi ích chung của toàn xã hội;
 Chuyển đổi cơ cấu kinh tế cho phù hợp với khả năng nguồn nước
ở mỗi vùng mỗi lưu vực sông, điều kiện tự nhiên. Xây dựng các mô hình với

Thông qua tìm hiểu các nguồn tài liệu tại thư viện, trên internet và tiếp
cận cán bộ địa phương để thu thập và nghiên cứu các nguồn tài liệu sau:
Nghiên cứu tài liệu chung: Phân tích các nguồn tư liệu, số liệu sẵn về
hạn hán, ảnh hưởng của hạn hán tới sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng của hạn
hán tới năng suất, chất lượng, giá cả các loại nông sản, những biện pháp mà
ngươi dân đã sử dụng để ứng phó, thích ứng với hạn hán…mà các nhà nghiên
cứu, các tổ chức, cá nhân khác đã thực hiện và được in thành sách, báo, tạp
chí hoặc đăng tải trên internet để tổng quan về vấn đề đang nghiên cứu.
- Các báo cáo của địa phương: Các báo cáo vê tình hình kinh
tế - xã hội, tình hình sản xuất, các công văn, các thống kê và các phương án
chống hạn của địa phương…trong những năm trở lại đây của huyện, xã.
3.2.2. Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp
- Phỏng vấn sâu người am hiểu:
+ Cán bộ khí tượng của Trạm Khí tượng thuỷ văn Đô Lương để thu
thập các thông tin, số liệu về diễn biến của hạn hán trong 10 năm qua với mục
tiêu là có các số liệu để thấy được diễn biến của hạn hán trên địa bàn xã nói
riêng và toàn khu vực nói chung. Diễn biến của hạn hán có những thay đổi gì
về tần suất cũng như cường độ trong các năm đó.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status