Hà Nội - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LÊ KIM ANH CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN
TẠI XÃ TÂN TRIỀU-HUYỆN THANH TRÌ-HÀ NỘI
TRONG QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA
Chuyên ngành : Xã hội học
Mã số : 60 31 30 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ 8
MỞ ĐẦU 9
1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu 9
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 10
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 11
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 12
5. Câu hỏi nghiên cứu 13
6. Phương pháp thu thập thông tin 13
7. Giả thuyết nghiên cứu 14
8. Khung lý thuyết 15
9. Kết cấu khóa luận 16
NỘI DUNG 17
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU 17
1.1. Cơ sở lý luận 17
1.1.1. Những khái niệm có liên quan 17
2.2.2. Vấn đề về giáo dục tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 46
2.2.3. Y tế và chăm sóc sức khỏe của người dân tại xã Tân Triều, huyện
Thanh Trì, Hà Nội 50
2.2.4. Môi trường sống tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội 54
2.2.5. Các điều kiện sinh hoạt của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh
Trì, Hà Nội 59
2.2.6. Một số tiêu chí khác về chất lượng cuộc sống tại xã Tân Triều, huyện
Thanh Trì, Hà Nội 62
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC
SỐNG CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ TÂN TRIỀU, HUYỆN THANH TRÌ,
HÀ NỘI 68
3.1. Căn cứ xây dựng giải pháp 68
3.2. Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội
trong thời gian tới 72
3.2.1. Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội
của huyện Thanh Trì [48] 723.2.2. Mục tiêu tổng quát và chỉ tiêu chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội
của xã Tân Triều, huyện Thanh Trì [34] 73
CLCS
Chất lượng cuộc sống
CLDS
Chất lượng dân số
ĐHQG
Đại học quốc gia
EDI
Economy Diversity Index
Chỉ số đa dạng kinh tế
FAO
Food and Agriculture Organization of the United Nations
Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
HDI
Human Development Index
Chỉ số phát triển con người
HTX
Hợp tác xã
PQI
Population Quality Index
Chỉ số chất lượng dân số
UBQG DS
KHHGĐ
Ủy ban quốc gia Dân số Kế hoạch hóa gia đình
UBND
Ủy ban nhân dân
Biểu 2.5: Dạng ô nhiễm tại địa phương 54
Biểu 2.6: Nguồn gây ô nhiễm tại địa phương 55
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn vấn đề nghiên cứu
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và sự đổi mới mọi mặt về cuộc sống đã đưa
con người tới những điều mới mẻ. Nhưng tất cả những điều đó không chỉ được thể
hiện qua số lượng mà còn cả về chất lượng nữa. Đặt con người cũng như chất lượng
cuộc sống của họ vào vị trí trung tâm của các chính sách sẽ giúp cho mọi vấn đề được
sảng tỏ. Có thể nói rằng, chất lượng cuộc sống dân cư phản ánh trình độ phát triển
Kinh tế - xã hội của một quốc gia ở các lĩnh vực kinh tế văn hóa và phúc lợi xã hội.
Đồng thời, chất lượng cuộc sống và tăng trưởng kinh tế - xã hội có mối quan hệ khăng
khít, chặt chẽ với nhau. Chất lượng cuộc sống vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng
vừa là thước đo trình độ văn minh và sự phát triển nhiều mặt của một quốc gia. Chính
vì vậy, nhiều quốc gia trên thế giới không ngừng thực hiện các chính sách phát triển
toàn diện về kinh tế - xã hội để nâng cao chất lượng cuộc sống, nhằm khẳng định vị trí
của mình trên trường quốc tế.
Ngay từ những ngày đầu xây dựng Đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm
đến việc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Chiến lược phát triển
Kinh tế - xã hội của nước ta thời kỳ 2001 – 2010 đã khẳng định: “Phát triển con người
phải được coi là chiến lược trung tâm của Việt Nam”. Hay trong Kế hoạch phát triển
Kinh tế - Xã hội trong 5 năm từ năm 2011 – 2015 của Bộ Kế hoạch đầu tư đã xác định
mục tiêu tổng quát: “Phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững
trên cơ sở tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức
cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế. Tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tăng nhanh hàm lượng khoa
học và công nghệ cao trong sản phẩm. Cải thiện và nâng cao rõ rệt chất lượng giáo
dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của
nhân dân, nhất là đối với người nghèo, dân tộc thiểu số, vùng miền núi, vùng sâu,
chuyển mình trong quá trình đô thị hóa. Liệu rằng cùng với quá trình này của cả nước
đó, chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều có sự thay đổi như thể nào?
Xuất phát từ mong muốn được hiểu rõ hơn về chất lượng cuộc sống của người dân nơi
đây trong quá trình đô thị hóa, tôi mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Chất lượng cuộc sống
của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình Đô thị
hóa”.
2. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
2.1. Ý nghĩa lý luận
Đề tài hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung về chất lượng cuộc
sống.
Đề tài đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các yếu tố của
kinh tế - xã hội – môi trường. Để từ đó đóng góp đề xuất phương hướng và giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống trong quá trình đô thị hóa.
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Chất lượng cuộc sống cũng là một trong những tiêu chí để phát triển bền vững.
Đề tài đánh giá chất lượng cuộc sống của người dân ở xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,
Hà Nội, do vậy, những kết quả và thông tin thu được của đề tài có thể dùng làm tài liệu
tham khảo. Đồng thời, xã Tân Triều cũng là xã đang trong quá trình xây dựng nông
thôn mới nên những đánh giá của đề tài trên những tiêu chí về các hoạt động kinh tế
hộ, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, môi trường sống, điều kiện sinh hoạt của các hộ gia
đình cũng là số liệu có ích bổ trợ thêm cho chiến lược xây dựng nông thôn mới càng
thêm chất lượng.
Bằng các số liệu thực tế, luận văn chứng minh, phân tích những yếu tố trong
chất lượng cuộc sống của người dân: cơ cấu nghề nghiệp, giáo dục, y tế, điều kiện sinh
hoạt, môi trường sống Tuy đây không phải là yếu tố thể hiện trọn vẹn chất lượng
cuộc sống của người dân nhưng thông qua việc tiếp cận những yếu tố này để thấy
được một phần tình hình chất lượng cuộc sống dân cư. Đề tài cung cấp thêm những số
liệu về mặt chất lượng trong cuộc sống của người dân ở xã Tân Triều, huyện Thanh
Trì, Hà Nội.
4.3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi thời gian: nghiên cứu được bắt đầu từ năm 2009 đến nay
Phạm vi không gian: Quá trình xây dựng cơ sở lý luận cũng như xây dựng bộ
công cụ nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội
Chúng tôi lựa chọn xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà
Nội là một trong những địa bàn nghiên cứu từ 7 tỉnh mà đề tài lớn đã thực hiện điều
tra. Vì đây là địa bàn đã Công nghiệp hóa nhưng do giới hạn địa lý hành chính của một
xã nông thôn nên quá trình Đô thị hóa của nó diễn ra một cách khó khăn và mâu thuẫn
về nhiều mặt nhất là về môi trường và tổ chức xã hội
Quá trình xử lý và phân tích số liệu được thực hiện tại
Hà Nội
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Chất lượng cuộc sống là vấn đề phức tạp đa dạng
và thường xuyên thay đổi nhưng thời gian thực hiện đề tài có hạn, điều kiện làm việc
còn hạn chế nên đề tài nghiên cứu chỉ giới hạn khảo sát, nghiên cứu một số yếu tố về
chất lượng cuộc sống: nghề nghiệp, điều kiện sinh hoạt, giáo dục, chăm sóc sức khỏe,
môi trường sống, cùng một số yếu tố khác của các hộ gia đình trên địa bàn nghiên cứu.
5. Câu hỏi nghiên cứu
Cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá
trình đô thị hóa có chất lượng không?
Quá trình đô thị hóa có tác động như thế nào vào chất lượng cuộc sống của người
dân?
Trong thời gian tới, chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân Triều, huyện
Thanh Trì, Hà Nội như thế nào?
6. Phương pháp thu thập thông tin
Luận văn triển khai trên nguồn dữ liệu như sau:
6.1. Phân tích tài liệu thứ cấp: Việc khai thác các nguồn dữ liệu có sẵn là một
sự bổ trợ rất tốt trong quá trình nghiên cứu về các nguồn lực kinh tế và nguồn lực xã
hội. Trong nghiên cứu này, đề tài tận dụng số liệu của bộ số liệu từ cuộc điều tra “Một
số vấn đề có bản của Phát triển bền vững vùng Bắc Bộ” do PGS.TS Vũ Tuấn Huy
Sự phát triển Kinh tế -
Xã hội
Hoạt động kinh tế
trong hộ: nghề, thu
nhập, việc làm…
-
Đặc điểm địa bàn
nghiên cứu:
+ Các nhân tố tự nhiên:
9. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung
của luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Một số vấn đề về chất lượng cuộc sống của người dân tại xã Tân
Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội trong quá trình đô thị hóa
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao chât lượng cuộc sống của người dân
tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
thông tin, an toàn, việc làm. Trên cơ sở những khảo sát và xác định 37 chỉ số theo các
nhóm nhu cầu cơ bản của CLCS. Người ta đưa ra những biện pháp thực hiện gắn liền
với địa bàn dân cư, với trách nhiệm các ngành và vai trò cung cấp thông tin, kết cấu hạ
tầng xã hội của Nhà nước. Từ đó, đưa ra tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cuộc sống
theo 3 mức: yếu kém (1 sao), trung bình (2 sao) và khá (3 sao). Trong 9 chuẩn mực
sống: ăn đủ, nhà ở thích hợp, dịch vụ xã hội, an toàn, thu nhập đầy đủ, kế hoạch hóa
gia đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần, bảo vệ môi
trường. Các chỉ tiêu CLCS ở Thái Lan rất coi trọng chuẩn mực các dịch vụ xã hội cơ
bản cần thiết. Có 10 chỉ tiêu để đánh giá mức độ phát triển của CLCS thuộc lĩnh vực
dịch vụ xã hội cơ bản. Đồng thời, các chỉ tiêu đánh giá CLCS rất phù hợp với đặc
điểm của một quốc gia đang phát triển. Và những vấn đề xã hội như kế hoạch hóa gia
đình, tham gia phát triển công cộng, giữ gìn những giá trị tinh thần được coi như là
một chuẩn mực quan trọng của CLCS.
Để lượng hoá những thay đổi của chất lượng cuốc sống, Malayxia đã xây dựng
các chỉ số chất lượng cuộc sống của mình (Malaycia Quality of Life Index, viết tắt là
MQLI). Chỉ số MQLI được xây dựng trên cơ sở chọn lựa 10 lĩnh vực, chủ yếu là thu
nhập và phân phối việc làm, giao thông liên lạc, sức khoẻ, giáo dục, nhà ở, môi trường,
cuộc sống gia đình, sự tham gia hoạt động của xã hội và an toàn công cộng. Những
lĩnh vực này được coi là sẽ đáp ứng được sự phồn vinh và chất lượng cuộc sống của
dân số, như vậy chúng được gia quyền khi tính toán, với quyền số tỷ lệ với mức độ tác
động của từng lĩnh vực. Để tính được chỉ số này cần phải có 38 chỉ báo có thể. Các chỉ
bảo này lại được chọn dựa trên cơ sở mức độ quan trọng của chúng đối với từng lĩnh
vực đặc biệt cũng như căn cứ vào sự sẵn có của thông tin. Việc chọn các chỉ báo nhằm
tính toán chất lượng cuộc sống thông qua đánh giá sự tác động của phát triển kinh tế
đối với dân số. Để tính toán MQLI cho Malayxia, người ta đã sử dụng số liệu thống kê
của 19 năm (1980-1998), trừ số liệu về môi trường chỉ có được từ năm 1985. Năm
1990 được chọn là năm gốc có mức độ trung bình. Dưới đây là 30 chỉ báo phân tổ
thành 10 lĩnh vực. (1) Nhóm thu nhập và phân phối thu nhập: Thu nhập bình quân đầu
người: GDP/đầu người; hệ số GINI; tỷ lệ nghèo đói. (2) Nhóm lao động: Tỷ lệ thất
thị trấn”.
Đô thị hoá được hiểu là sự mở rộng của đô thị tính theo tỷ lệ phần trăm giữa
dân số đô thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu
vực [27]
Đô thị hoá là một quá trình xã hội - kinh tế nhiều mặt và phức tạp, hiện nay
đang ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của xã hội, do đó đòi hỏi một phương pháp tiếp
cận tổng hợp dựa trên sự hợp tác của nhiều ngành khoa học (Pivovarov, tr.1).
Một cách hiểu thông thường và phổ biến đô thị hóa chính là quá trình phát triển
dân số đô thị, kinh tế phát triển theo hướng tăng tỷ trọng đóng góp GDP và tỷ trọng
lao động của khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ và giảm tỷ trong nông
nghiệp, hệ thống cơ sở hạ tầng (hệ thống giao thông, cơ sở dịch vụ xã hội, thông tin
liên lạc). Sự thay đổi của cơ cấu kinh tế, xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi trong lối sống
của người dân bao gồm cả hình thức kết đoàn xã hội.
Các kiểu đô thị hoá: i) Đô thị hoá thay thế: Là khái niệm để chỉ quá trình đô thị
hoá diễn ra ngay chính trong đô thị. Ở đây cũng có sự di dân, nhưng là từ trung tâm ra
ngoại thành hoặc vùng ven đô. Quá trình này cũng có thể là quá trình chỉnh trang,
nâng cấp đô thị, đáp ứng yêu cầu mới; ii) Đô thị hoá cưỡng bức: Là khái niệm dùng để
chỉ sự di chuyển dân cư từ nông thôn về thành thị. Đặc điểm đô thị hoá cưỡng bức là
không gian kiến trúc không được mở rộng theo quy hoạch mà mang tính tự phát cao.
Các nhu cầu của dân nhập cư không được đáp ứng. Đô thị trở nên quá tải, nhiều tiêu
cực phát sinh; iii) Đô thị hoá ngược: Là khái niệm dùng để chỉ sự di dân từ đô thị lớn
sang đô thị nhỏ, hoặc từ đô thị trở về nông thôn. Theo các học giả Mỹ, hiện tượng này
còn gọi là “sự phục hưng nông thôn”. Phát triển đến một lúc nào đó, bằng các chính
sách của mình, các chính phủ sẽ điều chỉnh hướng vào sự phát triển nông thôn. Quá
trình này sẽ góp phần san bằng khoảng cách và chất lượng sống giữa thành thị và nông
thôn (Ankerl, Guy 1986; Baldwin, R.E. 2001; Benabou, R. 1993; Bergsman, J., P.
Greenston, and R. Healy 1972).
1.1.2. Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống
1.1.2.1. HDI – một tiêu chí tổng hợp phản ánh chất lượng cuộc sống
hoặc so sánh giữa các địa phương
1.1.2.3. Một số tiêu chí khác
* Chỉ số về tuổi thọ: Để đánh giá trạng thái sức khỏe và mức độ bảo đảm y tế cho
dân cư của một quốc gia, người ta thường sử dụng các tiêu chí như tỉ lệ người chết, tuổi
thọ bình quân, tình trạng dinh dưỡng, tỉ lệ người có bệnh, số bác sĩ, y tá - y sĩ trên 1 vạn
dân, số giường bệnh trên 1 vạn dân, ngân sách đầu tư cho y tế (% GDP và bình quân đầu
người)
* Tiêu chí số calo bình quân đầu người: Trong quá trình sống và lao động, cơ
thể con người phải thường xuyên tiêu hao năng lượng. Năng lượng tiêu hao của con
người do thức ăn cung cấp nhằm tái sản xuất sức lao động, người ta quy ước dùng đơn
vị calo để đo nhu cầu năng lượng cơ thể. Số calo tiêu dùng hằng ngày cho một người
được coi là chỉ số tốt nhất về trình độ cung ứng các nhu cầu thiết yếu. Để có được số
calo bình quân đầu người, FAO (Food and Agriculture Organization of the United
Nations - Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc) dựa vào tình hình sản
xuất lương thực và thực phẩm. Nhu cầu năng lượng thay đổi phụ thuộc vào độ tuổi,
giới tính, mức độ tính chất lao động và thể trạng cơ thể.
1.1.3. Vận dụng lý thuyết
1.1.3.1. Lý thuyết hệ thống
Đề tài sử dụng lý thuyết hệ thống để nghiên cứu về chất lượng cuộc sống.
Các quan điểm hệ thống có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của
Bertalanffy khi lý thuyết này cho rằng: “Mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống
được tạo nên từ các tiểu hệ thống lớn hơn và ngược lại cũng là một phần của hệ
thống lớn hơn. Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các
nguyên tử, mà các nguyên tử này được tạo dựng từ các phần tử nhỏ hơn”. Sau này,
lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu (Hanson – 1995,
Mancoske – 1981, Siporin - 1980) và phát triển.
Đầu tiên là về khái niệm “hệ thống” với tư cách là khái niệm cơ bản nhất của lý
thuyết hệ thống. Khái niệm hệ thống ngày nay được sử dụng khá rộng rãi, song cũng
khá bất định, vì có nhiều định nghĩa khác nhau. Hãy so sánh một số định nghĩa điển
Có 2 cách phân loại hệ thống: hệ thống đóng (là các hệ thống không có những
hình thức trao đổi vượt quá giới hạn) và hệ thống mở (xảy ra khi năng lượng vượt quá
giới hạn). Và hệ thống tổng quát (hướng đến những cái tổng thể) và hệ thống sinh thái
(là hệ thống mở).
Lý thuyết hệ thống (bao gồm lý thuyết hệ thống tổng quát và các lý thuyết hệ
thống chuyên biệt). Do tính phổ biến và thông dụng, các lý thuyết hệ thống trở thành cơ
sở lý luận và phương pháp luận chung của nhận thức và hoạt động thực tiễn.
Các tác giả tiêu biểu: T. Parsons, W. Buckley, M. Archer, K.D. Bailey, R.
Lilienfeld
Các giả định lý thuyết hệ thống của T. Parsons
1. Các hệ thống có trật tự chính xác và sự phụ thuộc liên đới lẫn nhau giữa các bộ
phận
2. Các hệ thống có xu hướng đi từ trật tự tự thân duy trì, hoặc tự cân bằng
3. Hệ thống có thể ở trạng thái tĩnh hoặc có liên quan tới một tiến trình biến đổi
có trật tự
4. Bản chất của một bộ phận của hệ thống có tác động tới hình thức của các bộ
phận khác
5. Các hệ thống duy trì những ranh giới với những môi trường của chúng
6. Sự định vị và tích hợp là hai quá trình cơ bản cần thiết cho một trạng thái cân
bằng ổn định của một hệ thống
7. Các hệ thống có xu hướng đi tới sự tự thân duy trì, bao gồm sự duy trì các ranh
giới và các tương quan của các bộ phận theo ý nghĩa một tổng thể, kiểm soát
các khác biệt đa dạng của môi trường và kiểm soát các xu hướng biểu hiện hệ
thống trong lòng nó
Hệ thống xã hội bao gồm 4 tiểu hệ thống, tương ứng với 4 chức năng hành cơ
bản: 1- Kinh tế (A), 2 - Chính trị (G), 3 - Cộng đồng (I), 4 - Ủy thác (L). Bốn chức
năng cơ bản đó là: 1- Thích nghi (Adaptation), 2 - Đạt mục tiêu( Goal Attainment), 3 -
Tích hợp ( Integration), 4 - Duy trì khuôn mẫu ( Latency).
Thích nghi (Adaption): một hệ thống phải đương đầu với các nhu cầu khẩn yếu
việc nghiên cứu chất lượng cuộc sống của dân cư tại xã Tân Triều, huyện Thanh Trì,
Hà Nội phải được đặt trong mối liên hệ với Hà Nội và cả nước. Bản thân của chất
lượng cuộc sống của dân cư xã Tân Triều, huyện Thanh Trì, Hà Nội cũng là một hệ
thống bao gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ qua lại. Xác định được mối quan hệ mang
tính hệ thống thông qua các yếu tố của Kinh tế - Xã hội – Môi trường tại địa bàn
nghiên cứu sẽ giúp cho chúng tôi có cái nhìn không chỉ là bề nổi mà còn cả chiều sâu
trong cuộc sống của người dân.
1.1.3.2. Lý thuyết Đô thị hóa
Khái niệm đô thị hoá, nảy sinh chủ yếu từ các nước thuộc Châu Âu và Bắc Mĩ, có
hai cách hiểu căn bản không hoàn toàn đồng nhất với nhau nhưng có thể bổ xung cho
nhau. Trước hết, vào những năm 1960 (thế kỷ XX) khái niệm này chỉ sự tập trung dân cư
ngày càng tăng trong các vùng đô thị. Vì thế khái niệm đô thị hóa (urbanization) thường
đồng nghĩa với khái niệm “tăng trưởng đô thị”. Các nhà Xã hội học cho rằng cách hiểu
này chỉ nhấn mạnh vào quá trình tập trung dân cư đô thị, không phản ánh một cách toàn
diện và hệ thống hiện tượng đô thị hóa trong thực tế. Họ đề nghị một cách hiểu khác coi
đô thị hóa là sự biến đổi của các xã hội từ những dân cư ban đầu là phi đô thị, sống dựa
vào sản xuất nông nghiệp và được tổ chức thông qua những cấu trúc xã hội nông thôn
sang các xã hội chủ yếu dựa vào thị trường, công nghiệp hóa và đô thị hóa. Trong trường