Ảnh hưởng của sự phối hợp kali và đạm đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống cà chua hồng trong vụ Đông xuân tại Nghi Lộc Nghệ An: Luận văn tốt nghiệp Đại học Hoàng Văn Tao; Nghd.: ThS. Nguyễn Hữu Hiền. Nghệ An: Đại học Vinh , 2012. 51 tr. ; 3 - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
KHOA NÔNG LÂM NGƯ
-------------

HOÀNG VĂN TAO

ẢNH HƯỞNG CỦA SỰ PHỐI HỢP KALI VÀ ĐẠM
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG
SUẤT GIỐNG CÀ CHUA HỒNG (Lycopersicum
esculentum miller) TRONG VỤ ĐÔNG XUÂN TẠI
NGHI LỘC – NGHỆ AN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NGÀNH NÔNG HỌC


VINH – 5.2012
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học do tôi trực tiếp
thực hiện dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS. Nguyễn Hữu Hiền.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận tốt nghiệp là
trung thực và chưa hề sử dụng trong bất cứ luận văn nào.
Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc.

Nghi Lộc, ngày tháng năm 2012
Tác giả

Hoàng Văn Tao


LỜI CẢM ƠN

12%, chất vô cơ 7% và các chất khác (caroten, ascobic, chất dễ bay hơi, amino
axit) chiếm 5%. Bên cạnh đó cà chua còn chứa nhiều vitamin C (20-60 mg trong
100g), vitamin A (2-6 mg trong 100g), sắt và các khoáng chất cần thiết cho cơ
thể người. Cà chua cung cấp năng lượng và khoáng chất làm tăng sức sống, làm
cân bằng tế bào, khai vị, giải nhiệt, chống hoại huyết, chống độc. Về giá trị sử
dụng, cà chua được dùng dưới nhiều hình thức khác nhau như ăn tươi, làm salat,
nước uống hoặc chế biến làm dạng dự trữ. Ngoài ra cà chua còn dùng làm mỹ
phẩm, chữa mụn trứng cá.
Với giá trị kinh tế, giá trị sử dụng đa dạng và cho năng suất cao, cà chua
đã và đang trở thành một trong những loại rau được ưa chuộng nhất và được
trồng phổ biến ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Trong những năm gần đây,
ở nước ta cà chua không chỉ được trồng trong vụ Đông (chính vụ) mà còn được
trồng trong vụ sớm (Thu Đông), vụ muộn (Đông Xuân) và vụ Xuân Hè. Đây là
một bước tiến quan trọng về kỹ thuật, công nghệ trong ngành sản xuất cà chua,
vừa có ý nghĩa giải quyết vấn đề rau trái vụ, lại vừa nâng cao hiệu quả kinh tế
cho người sản xuất.


Tuy nhiên, ở Việt Nam việc trồng, sản xuất cà chua còn nhiều bất cập như
chưa đủ giống cho sản xuất, chưa có bộ giống tốt cho từng vụ và thích hợp cho
từng vùng sinh thái khác nhau. Nguồn giống để sản xuất hiện nay chủ yếu vẫn là
nhập khẩu từ nước ngoài, mà giống ngoại có giá thành đắt, chưa hợp lý và đáp
ứng đủ nhu cầu của thực tiễn sản xuất, các giống địa nội tuy dối dào về số lượng
nhưng chất lượng và năng suất còn hạn chế. Cùng với đó, việc đầu tư cho sản
xuất cà chua ở nước ta của người nông dân còn thấp, quy trình kỹ thuật canh tác
cũ, trình độ thâm canh chưa cao đặc biệt là vấn đề sử dụng phân bón và kỹ thuật
bón phân cho cây cà chua là chưa thích hợp cho từng vụ và từng giống khác
nhau. Trong các nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng phân bón ở Việt Nam
tại rất nhiều vùng còn thiếu khoa học và lãng phí. Nông dân mới chỉ quan tâm
nhiều đến sử dụng phân đạm, một số ít có quan tâm đến phân lân còn phần lớn

1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Hiện nay, việc sử dụng phân bón cho cây trồng ngoài việc cung cấp dinh
dưỡng cho cây để tăng suất, phẩm chất của sản phẩm, người ta còn chú ý đến
hiệu quả kinh tế thu được. Mỗi loại cây trồng khác nhau đếu cần một lượng phân
bón với tỷ lệ khác nhau để đáp ứng được nhu cầu của cây cũng như mang lại hiệu
quả kinh tế cao nhất. Đối với cây cà chua ở các vùng sinh thái khác nhau thì
lượng phân bón cho cây là rất quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp đến sự
sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng. Việc sử dụng hợp lý lượng
phân bón, đặc biệt là phân kali và đạm để bón cho cây sẽ giúp cây sinh trưởng
phát triển tốt và góp phần tăng năng suất cho cây cà chua. Ngoài ra, việc sử dụng
liều lượng phân kali và đạm hợp lý còn góp phần giúp cây trồng chống chịu tốt
với sâu bệnh. Với việc các giống cà chua hiện đang được trồng ở địa phương
ngày càng thoái hóa thì việc sử dụng hợp lý lượng phân kali và đạm càng có ý


nghĩa quyết định đến năng suất của cây cà chua. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp xác
định một cách có khoa học về mức bón phối hợp giữa kali và đạm hợp lý nhất
cho giống cà chua Hồng ở vụ Đông Xuân trên đất huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cà chua là loại cây trồng rất mẫn cảm với các loại sâu bệnh, thêm vào đó
chúng lại có yêu cầu khắt khe về điều kiện khí hậu thời tiết. Với việc đời sống
của con người cần được nâng cao, khoa học kỷ thuật không ngừng phát triển thỉ
yêu cầu về năng suất và phẩm chất của cây trồng càng lớn để phù hợp với thị
hiếu của cây trồng. Thực tế, hiện nay người dân vẫn trồng chủ yếu là các giống
địa phương với năng suất và hiệu quả kinh tế còn thấp. Vì Vậy, việc nghiên cứu
ảnh hưởng của sự phối hợp của kali và đạm đến giống cà chua Hồng sẽ góp phần
hoàn thiện quy trình bón phân cho cây cà chua.



thời gian tích lũy ngẵn, từ đó năng suất sẽ thấp.
1.2. Nguồn gốc, sự phân bố của cây cà chua
1.2.1. Nguồn gốc của cây cà chua
Nhiều công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng, cây cà chua có nguồn
gốc ở vùng Trung và Nam Châu Mỹ. Tomato là tên gọi của Nam Mỹ chỉ cây cà
chua, từ này có nguồng gốc từ những từ hoặc nhóm từ Xitomate hoặc là
Zitotomate và Mexican tomati [1]. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu và trích dẫn
của các tác giả: De Candolle(1984), Muller(1940), Luckwill(1943) và
Jenkin(1948) cho rằng cà chua trồng hiện nay có nguồn gốc từ Pêru, Ecuador,
Bolivia dọc theo bờ biển Thái Bình Dương, từ quần đảo Galanpogos đến Chi Lê.
Ngoài ra, cà chua còn có nguồn gốc ở quần đảo Ấn Độ, Philippin. Hiện nay,
người ta tìm thấy ở các vùng núi thuộc Trung và Nam Mỹ có rất nhiều cà chua
dại và bán dại. Ở những vùng này cũng có rất nhiều dạng cà chua trồng và được
trồng phổ biến rất rộng rải [7].
Nguồn gốc của cà chua trồng trọt đến nay vẫn còn nhiều ý kiến tranh cãi.
Theo nhà thực vật học người Ý Pier Andrea Mattioli(1554), cho rằng những
giống cà chua đầu tiên được đưa vào châu Âu có nguồn gốc từ Mexico và nhiều
bằng chứng về khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đã thừa nhận
Mexico là trung tâm thuần hóa của cà chua trồng. Năm 1570 các nước Đức, Anh,
Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha cũng đã biết trồng cà chua có hình quả nhỏ.
Năm 1596, ở Anh cà chua trồng dùng làm cây cảnh gọi là Love Apple.
Sang thế kỷ XVII, cà chua được trồng rộng rãi khắp lục địa Châu Âu,
nhưng cũng chỉ được xem như một loại cây cảnh và bị quan niệm sai lệch cho là
loại quả độc. Đến thế kỷ XVIII, cà chua mới được chấp nhận là cây thực phẩm ở
Châu Âu, đầu tiên là ở Italia và ở Tây Ban Nha.
Ở Châu Á, cà chua xuất hiện vào thế kỷ XVIII, đầu tiên là Philippin, đảo
Java (Inđônêxia) và Malayxia thông qua các lái buôn từ Châu Âu và thực dân Hà


Lan, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha. Từ đó cà chua được phổ biến đến các vùng


Chi phụ Eriopersicon (Green fruited) quả có màu xanh, có sọc tía, có lông,
hạt nhỏ, gồm năm loại:
L.cheesmanii

Hoang dại


L.chilensi

Hoang dại

L.gandulosum

Hoang dại

L.hirsutum

Hoang dại

L.peruvianum

Hoang dại

Tất cả các loại cà chua đều có số nhiễm sắc thể 2n = 24
1.4. Tình hình nghiên cứu về phân kali, đạm bón cho cây cà chua
Nhu cầu phân bón của cà chua thay đổi tùy theo quá trình phát triển của
cây trồng, của đất cũng như việc chăm sóc của con người. Đối với cây cà chua
việc bón phân hợp lý là vô cùng quan trọng. Phân kali và đạm là hại loại phân
bón quan trọng nhất đối với cây cà chua.

thời gian hình thành quả.Nhu cầu dinh dưỡng của cà chua cao gấp 2 lần dinh
dưỡng đạm. Lượng kali thích hợp cho cà chua là 120-150kg K2O/ha.
Phân đạm là tên gọi chung của các loại phân bón vô cơ cung cấp đạm cho
cây. Đạm là chất dinh dưỡng rất cần thiết và rất quan trọng đối với cây. Đạm là
nguyên tố tham gia vào thành phần chính của clorophin, prôtit, các axit amin, các
enzym và nhiều loại vitamin trong cây. Bón đạm thúc đẩy quá trình tăng trưởng
của cây, làm cho cây ra nhiều nhánh, phân cành, ra lá nhiều; lá cây có kích thước
to, màu xanh, lá quang hợp mạnh, do đó làm tăng năng suất cây.
Phân đạm cần cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, đặc biệt là giai
đoạn cây sinh trưởng mạnh. Trong số các nhóm cây trồng đạm rất cần cho các
loại cây ăn lá như rau cải, cải bắp, v.v.
Cà chua cần nhiều đạm trong thời gian sinh trưởng cho đến khi cây ra quả.
Phân đạm là nguồn cung cấp dưỡng chất chính cho cà chua. Các thành phần có
trong phân đạm rất thích hợp cho việc phát triển lá, tuy nhiên không nên lạm
dụng, nếu có quá nhiều đạm, thay vì ra quả cà chua sẽ phát triển mạnh về lá. Kết
quả nghiên cứu của Bùi Quang Xuân (1998) cho thấy: với cà chua nên bón đạm
liều lượng trên 150 kg N/ha.
Cân đối kali và đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu trong dinh dưỡng của
cà chua. Bón cân đối kali và đạm có thể làm tăng năng suất quả cà chua 39-88%


với hiệu suất 1kg K2O tạo ra 89-127 kg quả cà chua trên đất bạc màu. Trên đất
xám, bón cân đối kali và đạm làm tăng năng suất cà chua 9-11%.
Bón cân đối kali và đạm còn làm tăng phẩm chất quả cà chua: tăng kích
thước quả, tăng hàm lượng đường trong quả, tăng khả năng chống chịu bệnh của
cây. Đặc biệt bón cân đối kali và đạm làm giảm đáng kể số cây bị bệnh chết
xanh, bệnh xoăn lá vi rút.
1.5. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới và Việt Nam
1.5.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà chua trên thế giới
Theo Fao (2010), tình hình sản xuất cà chua được trình bày ở bảng 1.1.


4,34

33,22 34,66 33,55

141,19 153,88 145,65

Châu Phi

0,86

0,84

0,86

20,27 21,87 20,05

17,43

18,37

17,24

Châu Mỹ

0,5

0,52

0,48


0,55

38,38 41,07 39,56

20,73

23,41

21,76

Châu Úc

0,01

0,01

0,01

47

0,47

0,53

0,57

53

57


871.24

48,07

41.879,68

Ấn Độ

619.8

19,33

11.979,7

Thổ Nhĩ Kỳ

304

33,07

10.052

Nigeria

264.1

7,05

1.860,6


6.024,8

Liên bang Nga

115.2

17,36

2.000

Mexico

98.19

30,53

2.997,64

Chỉ tiêu

Nguồn: FAOSTAT, tháng 4, 2012 [5]


Theo Trần Khắc Thi (Viện rau quả Hà Nội), đứng đầu về tiêu thụ cà chua
là châu Âu, sau đó là châu Á, rồi đến Bắc Mỹ và Nam Mỹ. Châu Á là châu lục
đứng đầu về sản xuất cà chua, tiếp đó là Châu Âu [8].
Năm 2003 Châu Âu là thị trường tiêu thụ cà chua lớn nhất thế giới, với
sản lượng nhập khẩu là 7,22 triệu tấn, sau đó là Bắc Trung Mỹ (1,56 triệu tấn),
Châu Á (1,69 triệu tấn). Thị trường Châu Âu vẫn là thị trường hứa hẹn nhiều

157,17

208.289

2002

18.628

165,5

312.178

2003

21.628

164,1

354.846

2004

24.644

172,1

424.126

2005


kinh tế lớn.
1.6. Giá trị dinh dưỡng và kinh tế
Cây cà chua (Lycopersicum esculentum Miller), là loại rau ăn trái rất được
ưa thích vì phẩm chất ngon và chế biến được nhiều cách, cà chua còn cho năng
suất cao do đó được trồng rộng rãi và được canh tác khoảng hai trăm năm nay để
làm thương phẩm. Cà chua là loại trái cây không thể thiếu trong thực đơn gia
đình cũng như các các nhà hàng, là nguồn cung cấp khoáng chất và vitamin góp
phần làm cho món ăn, nước uống trở nên bổ hơn. Khi cà chua chìn màu đỏ tươi
của cà chua tạo nên sức hấp dẫn cho mỗi món ăn. Màu đỏ của cà chua cũng cho
thấy hàm lượng vitamin A thiên nhiên cao, trung bình 100g cà chua chín tươi sẽ
đáp ứng được 13% nhu cầu hàng ngày về vitamin A, vitamin B6, vitamin C.


Ngoài ra, vitamin C trong quả cà chua khi nấu chín vẫn giữ được phần lớn
khối lượng mà chỉ bay hơi tương đối ít, bởi vì trong quả cà chua có các axit nitric
và axit táo, là những axit có tác dụng bảo vệ vitamin C. Các axit này còn có tác
dụng tiêu được các chất béo. Vitamin A thúc đẩy sự phát triển của cơ thể khi còn
nhỏ và làm tăng sự chống đỡ bệnh tật, vitamin B giúp cho tiêu hoá. Trong quả cà
chua có các chất khoáng, chủ yếu là lân (P) và sắt (Fe) [1].
Theo y học trong quả cà chua chín có chứa 90% nước, 4% gluxit, 0,3%
protid, lipid, axitoxalic,… Ngoài ra, trong quả cà chua cònchứ a đường, axít hữu
cơ và các sinh tố B1, B2, C, K, PP...và các tiền tố vitamin A, do đó ăn cà chua rất
bổ và có thể tránh được các bệnh hoại huyết [7]. Đặc biệt, những năm gần đây
người ta nghiên cứu phát hiện trong quả cà chua có chất Lycopen, tạo nên màu
đỏ trong quả cà chua. Lycopen tác động mạnh đến việc giảm sự phát triển nhiều
loại ung thư như: ung thư tiền liệt tuyến, ung thư trực tràng, và nhồi máu cơ tim.
Vai trò của Lycopen là ngăn chặn sự phá hủy của các gốc tự do cùng các
phân tử và gen khi chúng tuần hoàn trong máu. Sự phá hủy này có thể làm cho
Lesterol đang lưu thông có thể bám vào các thành mạch làm nghẽn mạch, gây
nhồi máu cơ tim, sự phá hủy đó làm biến đổi gen ung thư. Lycogen có nhiều nhất

vây ánh sáng trong vụ Đông Xuân là thích hợp nhất.
* Nước và độ ẩm
Ẩm độ không khí tốt nhất là 45 – 60 %, ẩm độ đất 85 – 90 %. Ẩm độ cao
và nhiệt độ cao cây dễ bị bệnh, gây trở ngại cho việc thụ tinh, thụ phấn dẫn đến
tỷ lệ đậu quả thấp.
Yêu cầu nước tuỳ giai đoạn sinh trưởng của cây. Khi cây ra hoa, đậu trái,
trái đang lớn là lúc cây cần nhiều nước nhất. Nếu cây thiếu nước hoa và trái non
dễ rụng, cây hấp thụ phân bón và chất dinh dưỡng kém giảm quang hợp và năng
suất không tích lũy, nếu gặp mưa nhiều thì quá trình thụ phấn gặp trở ngại làm
cho cây rụng hoa, làm cho trái chín chậm, bị hạn lâu ngày nếu gặp mưa thì quả sẽ
bị nứt.


CHƯƠNG II
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiện được tiến hành trong vụ Đông Xuân 2011-2012, tại trại thực
nghiệm nông nghiệp, khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh (cơ sở 2), xã
Nghi Phong, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Đông Xuân 2011-2012.
+ Ngày làm đất: Từ ngày 01 đến 04 tháng 12 năm 2011
+ Ngày trồng: 5,6 tháng 12 năm 2011
+ Ngày thu hoạch: Tháng 3 năm 2012
2.2. Nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phối hợp của kali và đạm đến sự sinh
trưởng và phát triển của giống cà chua Hồng.
+ Ảnh hưởng của sự phối hợp của kali và đạm đến sâu, bệnh hại cà chua
Hồng.


120kg K20 + 120kg N

CT7

180kg K20 + 90kg N

CT3

120kg K20 + 150kg N

CT8

180kg K20 + 120kg N

CT4

150kg K20 + 90kg N

CT9

180kg K20 + 120kg N

CT5

150kg K20 + 120kg N

- Sơ đồ bố trí nghiệm:
dải bảo vệ
CT3

CT1

CT5

CT7

CT2

CT6

CT4

CT8

CT5

CT1

CT3

CT7

CT2

CT6

CT9

bảo
vệ

x 100%
Tổng số hoa

- Các yếu tố cấu thành năng suất
+ Số quả trên cây: Tính tổng số quả của từng cây để tính được số quả
trung bình của mỗi ô, đếm số quả trên cây của 10 cây với 3 lần nhắc lại và đếm
số quả không bị hỏng
+ Sản lượng cá thể (SLCT)= khối lượng trung bình quả x số quả
- Mức độ nhiễm sâu bệnh
Phương pháp điều tra: Mỗi lần nhắc lại quan sát toàn ô, đếm số cây bị
bệnh hại. Tính tỷ lệ % và đánh giá theo cấp bệnh từ 1-9 như sau:
Cấp 1: Không bị bệnh
Cấp 3: Bị nhẹ ( 1%-5% số cây bị bệnh)
Cấp 5: Trung bình ( 6%-15% số cây bị bệnh)
Cấp 7: Nặng ( 16%-50% số cây bị bệnh)
Cấp 9: Rất nặng ( > 50% số cây bị bệnh)


2.6. Quy trình kỹ thuật áp dụng
Cà chua trồng được trên nhiều loại đất song thích hợp nhất vẫn là trên đất
pha cát, nhiều chất mùn hay đất phù sa, đất bồi giữ ẩm và thoát nước tốt. Đất có
pH = 6,0-6,5 đất chua hơn phải bón thêm vôi.
2.6.1. Thời vụ
Vụ Đông Xuân: Gieo tháng 10-11 dương lịch, thu hoạch vào tháng 2-3
2.6.2. Làm đất
Cày bừa để ải trong thời gian ít nhất là một tuần. Sau khi cày bừa lại và
lên luống sơ bộ. Sửa sang thành luống chính thức để chuẩn bị trồng.
Yêu cầu làm đất: Không đập đất quá nhỏ thành dạng đất bột. Luống cà
chua có chiều rộng 110-120cm, rãnh rộng 20-25cm, cao 30cm. Các luống nên bố
trí theo hướng Đông - Tây.

2.6.5. Chăm sóc
* Tưới nước
- Sau khi trồng tưới nước liên tục trong 1 tuần, mỗi ngày tưới 1 lần vào
buổi sáng. Sau khi cây bén rễ thì 2-3 ngày tưới 1 lần.
- Tưới nước mỗi ngày 1 lần từ khi cây bắt đầu ra hoa.
* Vun xới
Việc vun xới cà chua cần được tiến hành trước khi cây ra hoa kết quả. Từ
lúc trồng đến khi cây được 20 ngày tiến hành vun gốc 2 lần: Lần thứ nhất sau khi
trồng khoảng 8-10 ngày và lần thứ 2 sau đó 1 tuần.
* Làm giàn
Việc làm giàn được tiến hành sau khi cây ra chùm hoa thứ nhất. Làm giàn
cà chua theo kiểu làm hàng rào. Mỗi một cây cà chua được cắm một cọc thẳng
đứng sát gốc. Cây vươn đến đâu thì buộc thân cây vào cọc đến đó. Cọc thường
dài 1,5m, đóng sâu xuống đất 20cm. Cần buộc một cây nối theo hàng cọc cho
giàn được chắc.


* Bấm ngọn và tỉa cành
Tỉa cành cây trồng khoảng 45 ngày thì số cành cấp 1 và cấp 2 ra nhiều,
tiến hành tỉa bớt cành cấp 1 và cấp 2 chỉ để lại thân chính.
2.6.6. Phòng trừ sâu bệnh
Nhìn chung bệnh gây tác hại lớn hơn so với sâu hại trong sản xuất cà
chua. Sau khi trồng một tuần phun trừ bệnh mốc sương và đốm nâu bằng Zinep.
2.7. Xử lý số liệu
Các số liệu thô thu thập từ ngoài đồng ruộng được tiến hành vào phần
mềm Excel để lấy giá trị trung bình từ các công thức thí nghiệm 3 lần nhắc lại.
Sau đó các số liệu này (số liệu tinh) được sắp xếp đúng quy định để tiến hành
phân tích phương sai (ANOVA).
2.8. Điều kiện nghiên cứu thí nghiệm
2.8.1. Điều kiện tự nhiên của Nghi Lộc

17
20,3

Ẩm độ (%)

Lượng
mưa (mm)

Thấp nhất Trung bình Thấp nhất
15,4
85
51
51,4
15,2
94
72
61,3
15,5
93
71
30,6
18,4
90
52
37,5
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn Bắc Trung Bộ, 2012

Từ bảng số liệu 2.1 cho thấy:
* Nhiệt độ: Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, nhiệt độ trung bình từ
16,4 (tháng I) đến 20,30C (tháng III), nhiệt độ thấp nhất là tháng XII (17,0 0C), I.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status