Phát huy các giá trị văn hóa Cao Đài trong hoạt động du lịch (Qua nghiên cứu trường hợp Tòa Thánh Tây Ninh - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ MINH THƢ
PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ VĂN HÓA CAO
ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH
(QUA NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP
TÕA THÁNH TÂY NINH)

LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH

Hà Nội, 2014 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
7. Cấu trúc của luận văn 13
CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 15
1.1. Văn hóa và thuộc tính giá trị của văn hóa 15
1.1.1. Khái niệm văn hóa 15
1.1.2. Thuộc tính giá trị của văn hóa 19
1.2. Du lịch và du lịch văn hóa 21
1.2.1. Du lịch 21
1.2.2. Du lịch văn hóa 24
1.3. Vai trò của văn hóa và việc phát huy các giá trị văn hóa trong hoạt động
du lịch 28
1.3.1. Các sản phẩm du lịch từ văn hóa 28
1.3.2. Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa trong du lịch 31
1.4. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam 34
1.4.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa trên thế giới 34
1.4.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa ở Việt Nam 38
1.5. Du lịch tôn giáo và tín ngƣỡng 39
1.6. Tiểu kết chƣơng 1 392
CHƢƠNG 2. VĂN HÓA CAO ĐÀI VÀ VIỆC PHÁT HUY GIÁ TRỊ
CỦA VĂN HOÁ CAO ĐÀI TRONG HOẠT ĐỘNG DU LỊCH TẠI TÕA
THÁNH TÂY NINH 42
2.1. Khái quát về Tây Ninh và du lịch Tây Ninh 42
2.1.1. Khái quát về Tây Ninh 42
2.1.2. Tổng quan du lịch Tây Ninh 44

2

2.2. Tổng quan về đạo Cao Đài 46
2.2.1. Khái quát về đạo Cao Đài 46
2.2.2. Đạo Cao Đài ở Tây Ninh 50
2.3. Các giá trị văn hóa của đạo Cao Đài – một trong những yếu tố hình

3.3.1. Đầu tƣ xây dựng bổ sung cơ sở vật chất, hạ tầng phục vụ du lịch . 92
3.3.2. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật
thể 93
3.3.3. Xây dựng các sản phẩm du lịch đặc thù ở Tòa thánh 98
3.3.4. Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển du lịch 99
3.3.5. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch100
3.3.6. Tổ chức liên kết, phối hợp hoạt động giữa Tòa thánh với các tổ
chức, doanh nghiệp 101
3.4. Xây dựng một số chƣơng trình du lịch thử nghiệm gắn với Tòa thánh
Tây Ninh với các tuyến điểm trọng điểm khác 102
3.4.1. Tour Tp. HCM – Tây Ninh: 1 ngày 102
3.4.2. Tour Tp. HCM – Tây Ninh: 2 ngày 1 đêm 103
3.4.3. Tour Lễ hội Cao Đài 103
3.5. Tiểu kết chƣơng 3 106
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 112 DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số lƣợng khách và doanh thu du lịch tỉnh Tây Ninh năm 2012 và 9 tháng
đầu năm 2013 84
Bảng 2.2. Số lƣợng khách du lịch Tòa thánh Tây Ninh năm 2012 và 9 tháng đầu
năm 2013 85

4

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con

phát triển của ngành du lịch thế giới nói chung và du lịch Việt Nam nói riêng. Hiện
nay, du lịch văn hóa là một xu hƣớng đối với những nƣớc đang phát triển trong đó
có Việt Nam vì nó mang lại nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế - văn hóa – xã hội cho
cộng đồng địa phƣơng lẫn du khách.
Là một tỉnh nằm ở cửa ngõ các tỉnh miền Đông Nam Bộ của Thành phố
Hồ Chí Minh, du lịch tỉnh Tây Ninh cũng không nằm ngoài xu hƣớng này. Mặc dù
có nhiều lợi thế về du lịch văn hóa nhƣng Tây Ninh vẫn chƣa tận dụng, khai thác
hết những thế mạnh của mình để phát triển du lịch một cách tƣơng xứng. Từ thực tế
đó, UBND tỉnh Tây Ninh xác định chọn du lịch tâm linh (mà định hƣớng là du lịch
văn hóa) là sản phẩm chính để thu hút khách du lịch và các nhà đầu tƣ trong lĩnh
vực du lịch.
Nói đến du lịch Tây Ninh, ngƣời ta không thể không nhắc đến Tòa Thánh
Cao Đài Tây Ninh – một trong những địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng của tỉnh,
thu hút mỗi năm hàng ngàn lƣợt khách du lịch. Tòa Thánh Tây Ninh – một công
trình kiến trúc độc đáo của Đạo Cao Đài đƣợc ngƣời dân địa phƣơng quen gọi là
Tòa Thánh. Đây chính là sự kết tinh văn hóa của tôn giáo Cao Đài. Đạo Cao Đài ra
đời tại Nam Bộ Việt Nam tổng hợp nét văn hóa truyền thống và tín ngƣỡng Tam
giáo. Trong quá trình hình thành và phát triển, tuy rất mới mẻ, song mấy mƣơi năm
qua, đạo Cao Đài đã thể hiện rõ tính cách, đặc trƣng văn hóa của mình, bảo lƣu
đƣợc nhiều giá trị văn hóa truyền thống và có một số đóng góp nhất định vào việc
giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Chính vì vậy, đạo Cao Đài là một thành tố văn hóa đặc sắc của cƣ dân
Nam Bộ nói chung, của Tây Ninh nói riêng. Khi khai thác các yếu tố văn hóa Cao
Đài phục vụ phát triển du lịch là chúng ta đã thực hiện cụ thể hoá quá trình “kinh tế
hóa văn hóa”, biến các thành tố văn hóa thành sản phẩm văn hóa đồng thời cũng là

6

một sản phẩm du lịch cần đƣợc giữ gìn và phát triển. Muốn làm đƣợc điều đó cần
phải biến sản phẩm văn hóa này thành sản phẩm du lịch hấp dẫn, để ngày càng

Trong cuốn“Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
cách mạng tháng Tám”, tập 2 của Gs.Trần Văn Giàu (1975) cho rằng đạo Cao Đài
ra đời là do các tôn giáo ở miền Nam lúc bấy giờ bị sa sút, không đáp ứng đƣợc nhu
cầu tín ngƣỡng của nhân dân. Đạo Cao Đài đã kết hợp tục đồng cốt cầu Tiên với tín
ngƣỡng dân gian và tinh thần Tam giáo để lập đạo. Cuốn “Lịch sử tư tưởng Việt
Nam” của Huỳnh Công Bá (2006) cho rằng sự ra đời của đạo Cao Đài có cơ sở từ
tục cầu hồn, cầu tiên phát triển lâu đời ở Việt Nam và đang phát triển rầm rộ ở
Nam bộ lúc bấy giờ, kết hợp với tín ngưỡng Thần linh học, không đề cập đến các
nguyên nhân khác và tình hình Nam Kỳ nửa đầu thế kỷ XX làm nhân tố cho sự xuất
hiện đạo Cao Đài.
Trong cuốn sách “Tôn giáo thế giới và Việt Nam” của tác giả Mai Văn
Hải (1998) giới thiệu sự ra đời đạo Cao Đài chủ yếu do hai nguyên nhân chính: do
ảnh hƣởng chính sách khai thác thuộc địa lần thứ hai của thực dân Pháp và sự ảnh
hƣởng phong trào Thông linh học ở Nam Kỳ, nhƣng chƣa đi vào phân tích hai
nguyên nhân này để lý giải cho sự ra đời của đạo Cao Đài; tác giả Nguyễn Văn
Trung (1998) với “Một số hiểu biết về tôn giáo và tôn giáo ở Việt Nam” giới thiệu
sơ lƣợc về đạo Cao Đài, cho rằng sự bóc lột của thực dân, phong kiến, nghèo nàn về
kinh tế, thấp kém về văn hóa đã làm cho ngƣời dân cảm thấy không có đƣờng ra
nên họ đã tìm đến tôn giáo để an ủi. Từ đó, đạo Cao Đài ra đời; Trong cuốn “Người
Nam Bộ và tôn giáo bản địa” (Bửu Sơn Kỳ Hƣơng - Cao Đài - Hòa Hảo) của Phạm
Bích Hợp (2007) trình bày khá chi tiết về đạo Cao Đài, tuy nhiên, tác giả chỉ trình
bày sơ lƣợc bối cảnh xã hội Nam Kỳ và cho rằng cơ bút là yếu tố tiên quyết cho sự
hình thành đạo Cao Đài. Tác giả Đặng Nghiêm Vạn (2001) trong “Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” đã phân tích sự ra đời đạo Cao Đài, cũng từ
các nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội, nhƣng chƣa phân tích những tác động
của các yếu tố địa lý - văn hoá - lịch sử làm tiền đề cho đạo Cao Đài ra đời; Cuốn
“Tôn giáo tín ngưỡng của các cư dân vùng đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn

8


9

tƣởng Tam giáo: Phật – Lão – Nho trong thi văn Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử
làm nền tảng tƣ tƣởng cho đạo Cao Đài ra đời; “Lịch sử đạo Cao Đài thời kỳ tiềm
ẩn 1920 – 1926” (1996) giới thiệu lịch sử đạo Cao Đài từ lúc sơ khai đến ngày Khai
đạo 15/10/Bính Dần (1926); “Bối cảnh xã hội Nam Kỳ trước khi đạo Cao Đài ra
đời” (2000), tạp chí Xưa và Nay, (Số 81B), tr.21 – 22, trích dịch những nội dung
luận án tiến sĩ triết học của giáo sƣ ngƣời Mỹ, bà Werner, nói về sự ra đời của đạo
Cao Đài là một phong trào quần chúng ở Nam Kỳ.
“Bước đầu tìm hiểu đạo Cao Đài” của Đặng Nghiêm Vạn và các tác giả
khác (1995) nêu lên các nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của đạo Cao Đài và Giáo sƣ
Đặng Nghiêm Vạn khẳng định rằng đạo Cao Đài là một thực thể khách quan, một
thế ứng xử của ngƣời dân Nam Bộ, thành công là do tính nhập thế, tính thực hành
của đạo Cao Đài, sự pha trộn giữa cái đời thƣờng với cái siêu hình, hiểu đƣợc tâm
lý của ngƣời dân, hƣớng ngƣời dân đến con đƣờng giải thoát; “Đạo Cao Đài ở Sài
Gòn” của Đinh Văn Đệ (1999), tạp chí Xưa và Nay, (số 59B + 60B), tr.38, cho rằng
sự ra đời của đạo Cao Đài là do đặc điểm đời sống tín ngƣỡng Nam Kỳ và yếu tố
tâm linh, siêu hình; Nguyễn Tài Thƣ, Trƣơng Văn Chung (2003) với “Đạo Cao
Đài: Một hình thức tôn giáo - tư tưởng mới ở Việt Nam thời Cận - Hiện đại”, trong
tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, (số 02), tr.49 - 57 cho rằng tôn giáo, tín ngƣỡng đƣợc
yêu chuộng ở đất Nam Kỳ đầu thế kỷ XX là Minh giáo và Thông linh học, đã đem
lại một “sức sống mới” cho cƣ dân Nam Kỳ, làm tiền đề cho một tôn giáo mới ra
đời đó là đạo Cao Đài.
Tác phẩm “Góp phần tìm hiểu sự ra đời của đạo Cao Đài”, Luận văn
Thạc sĩ Lịch sử của Ngô Chơn Tuệ (2008) đã giới thiệu khá chi tiết những vấn đ ề
liên quan đến đạo Cao Đài: bối cảnh chính trị, xã hội, kinh tế Nam Kỳ hồi đầu thế
kỷ XX ; quá trình trình hình thành của đạo Cao Đài, nguyên nhân thành công của
đạo Cao Đài, tổ chức hành chánh đạo và đây là luận văn chuyên ngành lịch sử nên
tác giả chƣa đi sâu khai thác về yếu tố văn hóa của đạo Cao Đài; “Đạo Cao Đài và
chính trị” (1973), (tiểu luận Cao học) của Phan Kỳ Chƣởng giới thiệu sự ra đời đạo

của Đức Nguyên; “Lược thuật Tòa thánh Tây Ninh” của T.L Thiên Giang Phạm
Văn Tân và các tác giả. Bên cạnh đó có những quyển sách lƣu hành nội bộ đạo Cao
Đài về lễ hội nhƣ: “Báo Ân Từ và Hội Yến Diêu Trì Cung” của Kim Hƣơng; “Nghi

11

tiết cúng lễ”, Hội đồng Chƣởng Quản Tòa thánh Tây Ninh; còn có một số bài viết
trên các báo, tạp chí nhƣ:“Hội Yến Diêu Trì” của Kim Phụng, Tc Văn Hoá Nghệ
Thuật, số 12(222), 2002, tr.38; “Đồng bào đạo Cao Đài dự Đại lễ Hội Yến Diêu
Trì”, Sài Gòn Giải Phóng, số 1, 1997. Nói chung, những bài báo ấy chỉ dừng lại ở
mức độ giới thiệu khái quát Đại lễ Hội Yến Bàn Đào.
- Những công trình nghiên cứu về Cao Đài là những công trình nghiên
cứu tổng thể, đem lại cái nhìn toàn diện. Tuy nhiên, viết về những nét riêng chuyên
biệt của văn hóa Cao Đài thật sự rất ít, có một số công trình nghiên cứu sau:
“GS.TS Trần Văn Khê nói về tính dân tộc trong nhạc lễ Cao Đài” của Lê
Anh Dũng; “Đại lễ vía đức Chí Tôn trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” của Đinh Văn
Khá (1975), Luận văn Thạc sĩ nhân văn, Đại học Văn Khoa Sài Gòn, giới thiệu khá
chi tiết về lễ vía đức Chí Tôn, một lễ hội lớn của đạo Cao Đài; Trần Ngọc Thêm
(1996), “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, hệ thống những đặc trƣng văn hóa
Cao Đài; “Lễ hội Cao Đài Tây Ninh” của Lê Ngọc Hòa (1997), Luận văn Thạc sĩ
Khoa học Văn hóa, Đại học Văn hóa Hà Nội, ngoài phần giới thiệu khái quát về đạo
Cao Đài, tác giả miêu tả khá chi tiết về lễ hội Cao Đài nhƣng chƣa chỉ ra đƣợc giá
trị văn hóa truyền thống trong lễ hội Cao Đài; Huỳnh Ngọc Thu với “Đời sống tôn
giáo của tín đồ đạo Cao Đài trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ”, Luận án tiến sĩ lịch
sử ngành Dân tộc học, Trƣờng Đại học KHXH&NV Thành phố Hồ Chí Minh,
ngoài phần tổng quan về đạo Cao Đài ở Nam Bộ, tác giả miêu tả đời sống tôn giáo
của cộng đồng tín đồ Cao Đài ở Nam Bộ, tổng kết những đóng góp của đạo Cao Đài
đối với văn hóa Nam Bộ, tuy nhiên tác giả chƣa hệ thống đƣợc hết những giá trị văn
hóa truyền thống trong đạo Cao Đài. Ngoài ra, còn nhiều Websites nói về lịch sử
đạo Cao Đài nhƣng đề cập về vấn đề văn hóa Cao Đài cũng rất hiếm.

điển hình, đi sâu nghiên cứu nghiên cƣ
́
u ca
́
c gia
́
tri
̣
văn ho
́
a Cao Đa
̀
i thuô
̣
c chi pha
́
i
Cao Đa
̀
i Tây Ninh là chủ yếu . Đạo Cao Đài có nhiều lễ hội trong năm, nhƣng trong
đó có hai lễ hội lớn nhất là Đại lễ Vía Đức Chí Tôn tổ chức vào ngày Mùng Chín

13

tháng Giêng âm lịch và Đại lễ Hội Yến Diêu Trì Cung tổ chức vào ngày Rằm tháng
Tám âm lịch. Do đó, về phần lễ hội, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về hai đại lễ
trên.
6. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Về cơ sở phƣơng pháp luận, luận văn dựa vào quan điểm duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về

giá trị văn hóa Cao Đài trong hoạt động du lịch tại Tây Ninh. 15

CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA, DU LỊCH, DU LỊCH VĂN
HÓA, DU LỊCH TÔN GIÁO VÀ TÍN NGƢỠNG
1.1. Văn hóa và thuộc tính giá trị của văn hóa
1.1.1. Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều quan niệm,
rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần
của con ngƣời.
Tính đến năm 1972, trên thế giới đã có đến 200 định nghĩa về “Văn hóa”.
Và cho đến nay, chỉ riêng ở phƣơng Tây đã ra đời đến trên 400 định nghĩa về “Văn
hóa” do các nhà nghiên cứu văn hóa chuyên nghiệp và có uy tín cao đƣa ra. Tình
hình đó cũng vẫn còn đang tiếp tục trong thời đại hiện nay. Điều này cho thấy văn
hóa là một khái niệm rất phức tạp. [3, tr.16]
Ở phƣơng Đông, hai từ “văn” và “hóa” đã xuất hiện khá sớm. Trong Chu
Dịch, quẻ Bí có nói: “Quan hồ thiên văn dĩ sát thời biến. Quan hồ nhân văn dĩ hóa
thành thiên hạ.” (Nghĩa là: Quan sát cái dáng vẻ của trời để mà suy xét về sự biến
đổi của thời tiết. Và quan sát cái dáng vẻ của con ngƣời để mà thực hiện sự giáo hóa
cho những ngƣời khác trong xã hội.) Ý nói bậc thánh nhân quan sát dáng vẻ của con
ngƣời (cách thức ứng xử), tức là nói Thi, Thƣ, Lễ, Nhạc, để theo đó mà dạy, mà
giáo hóa đối với thiên hạ. [3, tr.14]. Ngƣời sử dụng từ Văn hóa sớm nhất có lẽ là
Lƣu Hƣớng ở thời Tây Hán (77-6 Trƣớc Công nguyên) với ý nghĩa nhƣ một phƣơng
thức giáo hóa con ngƣời – văn trị giáo hóa, đối lập với việc dùng vũ lực. Dùng văn
hóa mà không thay đổi đƣợc thì sau đó mới dùng đến chinh phạt.”
Ở phƣơng Tây, ngƣời Pháp và ngƣời Anh dùng từ “culture”, ngƣời Đức
sử dụng từ “kultur”, còn ngƣời Nga là từ “kultura”. Tất cả các từ này đều bắt nguồn

[27,tr.17]. Còn theo một số học giả Mĩ “Văn hóa là tấm gƣơng nhiều mặt phản
chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc”.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở
nƣớc ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thƣờng vận dụng định nghĩa văn hóa do

17

UNESCO đƣa ra vào năm 1994. Trong ý nghĩa rộng nhất, “Văn hóa hôm nay có thể
coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết
định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao
gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời,
những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngƣỡng: Văn hóa đem lại
cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm cho chúng ta trở
thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một
cách đạo lí. Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân,
tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu
của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những
công trình vƣợt trội lên bản thân”. [28, tr.23]. Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa
là tổng thể những hệ thống biểu trƣng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp
trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”…
Ở Việt Nam, văn hóa cũng đƣợc định nghĩa rất khác nhau. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới
sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo,
văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các
phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn
hoá là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà
loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự
sinh tồn”. Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con ngƣời
sáng tạo và phát minh ra. Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh cũng giống
nhƣ E.B. Taylor là một “bách khoa toàn thƣ” về những lĩnh vực liên quan đến đời

Riêng PGS. Nguyễn Đức Từ Chi đã quy các kiểu nhìn khác nhau về văn
hóa vào hai góc độ. Góc độ thứ nhất là góc độ hẹp, góc thông dụng trong cuộc sống
hàng ngày hay còn gọi là “góc nhìn báo chí”. Với góc nhìn này, văn hóa sẽ là kiến
thức của con ngƣời và xã hội, tiêu chuẩn văn hóa ở đây đƣợc hiểu là tiêu chuẩn kiến
thức sách vở. Còn góc nhìn thứ hai là góc nhìn rộng hay “góc nhìn dân tộc học”,
đây là góc chung của nhiều ngành khoa học xã hội. Theo góc nhìn này, văn hóa
đƣợc xem là toàn bộ cuộc sống, cả vật chất, xã hội, tinh thần của từng cộng đồng.

19

Và văn hóa của từng cộng đồng ngƣời sẽ khác nhau nếu nó đƣợc hình thành ở
những tộc ngƣời khác nhau trong những môi trƣờng sống khác nhau. Văn hóa sẽ bị
chi phối mạnh mẽ bởi sự kiểm soát của xã hội thông qua gia đình và các tổ chức xã
hội, trong đó có tôn giáo. Xét từ khía cạnh tự nhiên thì văn hóa là “cái tự nhiên
đƣợc biến đổi bởi con ngƣời” hay “tất cả những gì không phải là thiên nhiên đều là
văn hóa”.
Tóm lại, văn hóa là sản phẩm của con ngƣời, do con ngƣời tạo ra trong
quá trình lao động nhằm mục đích sinh tồn, là hệ quả của sự tiến hóa nhân loại. Văn
hóa chính là nấc thang đƣa con ngƣời vƣợt lên trên những loài động vật khác, làm
cho con ngƣời trở nên độc đáo trong thế giới sinh vật và khác biệt so với những con
vật khác trong thế giới động vật. Văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ
qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên
con ngƣời, đồng thời duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo và
phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là
trình độ phát triển của con ngƣời và của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và
hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ trong giá trị vật
chất và tinh thần mà do con ngƣời tạo ra.
1.1.2. Thuộc tính giá trị của văn hóa
Theo PGS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, thuộc tính giá trị chính là đặc trƣng

vật thể hay vô hình. Theo lịch đại, ngƣời ta chia nhƣ sau: các giá trị văn hóa vĩnh
cửu hay vĩnh hằng và các giá trị văn hóa có tính nhất thời. Về mặt đồng đại, nhiều
khi cùng một sự kiện, hiện tƣợng văn hóa nhƣng nó có thể có giá trị nhiều hay ít,
hoặc không có giá trị, tùy thuộc vào góc nhìn hay chuẩn xã hội của từng ngƣời, từng
cộng đồng. [3, tr.22].

21

1.2. Du lịch và du lịch văn hóa
1.2.1. Du lịch
Thuật ngữ du lịch trong ngôn ngữ nhiều nƣớc bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp
“Tonos” với ý nghĩa là đi một vòng. Thuật ngữ này đƣợc Latinh hóa thành “Turnur”
và sau đó thành “Tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn
“Touriste” là ngƣời đi dạo chơi. Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “Tourism”
(du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và đƣợc quốc tế
hóa nên nhiều nƣớc đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả lại
cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”,
có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này
ảnh hƣởng ra phạm vi toàn thế giới… Nhƣ vậy, nhìn chung chƣa có một sự thống
nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt
nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có
quay trở lại. [27, tr.5]
Trong tiếng Việt, thuật ngữ tourism đƣợc dịch thông qua tiếng Hán. Du
có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Còn ngƣời Trung Quốc gọi tourism
là du lãm với nghĩa là đi chơi để nâng cao nhận thức. [24, tr.7 ]
Ngày nay, du lịch đã trở thành một hiện tƣợng kinh tế xã hội phổ biến
không chỉ ở các nƣớc phát triển mà còn ở cả các nƣớc đang phát triển, trong đó có
Việt Nam. Du lịch đã nhanh chóng trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều
quốc gia trên thế giới. Nó là một hiện tƣợng kinh tế, xã hội phức tạp và trong quá
trình phát triển, nội dung của nó không ngừng đƣợc mở rộng và ngày càng phong

rõ đƣợc đặc trƣng của các hiện tƣợng và của mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ
nào và hiện tƣợng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa…). Ngoài ra
định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ
chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du
lịch.

23

Với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về Du lịch họp ở
Roma, Italia (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đã đƣa ra định nghĩa về du lịch nhƣ
sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tƣợng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lƣu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở
thƣờng xuyên của họ hay ngoài nƣớc họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lƣu trú
không phải là nơi làm việc của họ. [24, tr.7 ]. Định nghĩa này là cơ sở cho định
nghĩa du khách đã đƣợc Liên minh quốc tế các tổ chức du lịch chính thức – tiền
thân của Tổ chức du lịch thế giới thông qua.
Trong cuốn Cơ sở địa lý du lịch và dịch vụ tham quan (năm 1985),
I.I.Pirojnik đã nhấn mạnh: “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cƣ trong thời
gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lƣu trú tạm thời bên ngoài nơi cƣ trú thƣờng
xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ
nhận thức – văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên,
kinh tế, văn hóa và dịch vụ”. [24, tr.7 ]. Trong định nghĩa này, Pirojnik đã thay cụm
từ di chuyển tạm thời mà các học giả khác hay dùng bằng hoạt động di chuyển
trong thời gian nhàn rỗi. Từ đó cho thấy, một trong những yếu tố để phân biệt một
chuyến di chuyển bình thƣờng với một cuộc du lịch, tham quan là sử dụng thời gian
nhàn rỗi của cƣ dân.
Theo Liên Hiệp Quốc Các Tổ chức Lữ hành Chính thức (IUOTO): Du
lịch đƣợc hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cƣ trú thƣờng
xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một
nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status