ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SAU ĐẠI HỌC
NGUYỄN ANH MINH LƯỢNG GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỐI VỚI NUÔI TRỒNG THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM:
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP NUÔI NGAO TẠI XÃ
GIAO XUÂN, HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SĨ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Chuyên ngành: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Viết Thành
HÀ NỘI – 2014
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được hoàn thành tại Khoa Sau đại học, Đại học Quốc
gia Hà Nội theo chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí
hậu, Khóa 1 (2011-2013).
Trước hết, tôi xin cảm ơn PGS. TS. Phạm Văn Cự - Chủ tịch Hội
đồng chấm luận văn và các thành viên: TS. Bùi Đại Dũng (Phản biện 1), MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH VẼ
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 5
1.1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới và Việt
Nam 5
1.1.1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới 5
1.1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản Việt Nam 10
1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tổn thất do biến đổi khí hậu đối
với ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới và Việt Nam 12
1.3. Phương pháp lượng giá tổn thất rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu 13
1.3.1. Đánh giá rủi ro thiên tai liên quan biến đổi khí hậu 14
1.3.2. Phương pháp lượng giá rủi ro do biến đổi khí hậu 16
CHƯƠNG 2: ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ SỐ LIỆU 18
2.1. Đặc điểm tình hình nuôi ngao xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam
Định 18
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh
Nam Định 18
2.1.2. Nghề nuôi ngao xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 21
2.1.2.1. Đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi ngao 21
2.1.2.2. Tình hình nuôi ngao xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
23
2.2. Phương pháp lượng giá tổn thất rủi ro do biến đổi khí hậu đối với nuôi
trồng thủy sản 27
2.2.1. Xây dựng bài toán 27
3.3.2. Tổn thất do bão đối với cơ sở vật chất nghề nuôi ngao trong bối cảnh biến
đổi khí hậu 50
3.4. Khuyến nghị các biện pháp thích ứng đối với nghề nuôi ngao xã Giao
Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 50
3.4.1. Khuyến nghị các biện pháp thích ứng đối với nuôi ngao giống và nuôi
thương phẩm 50
3.4.2. Thách thức khi thực hiện các biện pháp thích ứng cho nghề nuôi ngao xã
Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định 54
KẾT LUẬN 56
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
PHỤ LỤC 60
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Ảnh vệ tinh chụp Khu vực Rừng Quốc gia Xuân Thủy (2007) 18
Hình 2.1. Thiệt hại tiềm tàng đối với nghề nuôi ngao 27
Hình 2.2. Mối tương quan giữa mức độ thiệt hại và xác suất xảy ra các kịch bản
trong đánh giá rủi ro 28
Hình 2.3. Cây sự kiện hình thành sóng thần khi có dịch chuyển địa chất 29
Hình 3.1. Biểu đồ Nhiệt độ trung bình năm khu vực Nam Định giai đoạn 1990-2009
32
Hình 3.2. Biểu đồ tổng lượng mưa trung bình năm khu vực Nam Định 34
giai đoạn 1990-2009 34
Hình 3.3. Biểu đồ độ ẩm trung bình khu vực Nam Định giai đoạn 1990-2009 35
Hình 3.4. Biểu đồ tổng số giờ nắng TB năm khu vực Nam Định giai đoạn 1990-
2009 36
Hình 3.5. Nhiệt độ thích hợp cho sự tăng trưởng của ngao theo hàm của nhiệt độ
nước và kích thước ngao 47
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã cho rằng: biến đổi khí hậu là nguy cơ toàn
cầu trầm trọng và cần được đối phó khẩn cấp. Báo cáo Stern 2006 đã khẳng định biến
đổi khí hậu sẽ tác động tới những yếu tố cơ bản của đời sống con người trên phạm vi
toàn cầu: nguồn nước, an ninh lương thực, sức khỏe và môi trường. Cũng trong báo
cáo này, Stern đã dự tính rằng nếu chúng ta không hành động, tổng chi phí và rủi ro do
biến đổi khí hậu gây ra, tương đương với thiệt hại mỗi năm ít nhất là 5% GDP toàn cầu
kể từ nay trở đi. Nếu xét đến rủi ro và tác động với biên độ rộng hơn thì thiệt hại (hàng
năm) được ước tính là 20% GDP hoặc lớn hơn.
Việt Nam, với đường bờ biển dài (khoảng 3.260 km) và mật độ dân số cao tập
trung ở vùng ven biển, được đánh giá là có mức độ dễ bị tổn thương cao đối với các
rủi ro do dao động thời tiết và biến đổi khí hậu (World Bank, 2007). Việt Nam cũng
đứng thứ 6 trong bảng xếp hạng toàn cầu chỉ số rủi ro do biến đổi khí hậu (CRI) giai
đoạn 1991-2010 (Harmeling, 2012). Theo các kịch bản về biến đổi khí hậu cho Việt
Nam của Bộ Tài nguyên Môi trường 2009), đến cuối thế kỷ 21, khí hậu trên tất cả các
vùng của Việt Nam sẽ có nhiều thay đổi, tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa
tăng trong khi lượng mưa mùa khô lại giảm. Ngoài ra, mực nước biển sẽ dâng lên
khoảng 75cm so với trung bình thời kỳ 1980 – 1999. Thủy sản là ngành kinh tế quan
trọng, tổng giá trị ước đạt 99.432 tỷ đồng năm 2011, đóng góp khoảng 3,92% GDP cả
nước (Tạp chí thương mại thủy sản, 2012). Trong các hoạt động sản xuất của con
người, lĩnh vực thủy sản được xác nhận là ít đóng góp nhất vào việc thúc đẩy sự biến
đổi khí hậu của trái đất. Thế nhưng thủy sản lại là lĩnh vực chịu ảnh hưởng nhiều nhất
của biến đổi khí hậu (Williams L., 2010). Quả thật, với hơn 4 triệu lao động trực tiếp
và gián tiếp tham gia hoạt động sản xuất thủy sản (FAO, 2008), chủ yếu sống ở khu
vực ven biển, ngành thủy sản Việt Nam rất dễ bị tổn thương bởi các tai biến thiên
nhiên và nước biển dâng do biến đổi khí hậu gây ra. Theo đánh giá mới nhất của Tổ
chức DARA quốc tế phối hợp với Diễn đàn các nước dễ bị tổn thương do biến đổi khí
hậu (CVF) thực hiện trong khuôn khổ Chương trình Sáng kiến về Tính dễ Tổn thương,
Việt Nam đứng đầu trong danh sách các nước có mức thiệt hại ngành thủy sản do biến
Nghề nuôi ngao, cũng tương tự các nghề nuôi trồng thủy sản khác ở vùng ven
biển, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện môi trường tự nhiên như các hiện tượng thời
tiết cực đoan (bão, áp thấp nhiệt đới), độ mặn của nước, mưa và sự thay đổi nhiệt độ
(MCD, 2009). Trong những năm qua, hiện tượng ngao chết hàng loạt do bão hoặc do
cường độ mưa lớn làm cho nồng độ muối giảm đi trong một thời gian ngắn ở một số
tỉnh như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Sóc Trăng… là một
3 minh chứng cho thấy biến đổi khí hậu đã và đang tác động tới ngành nuôi trồng thủy
sản nói chung và nuôi ngao thương phẩm nói riêng. Hiện nay, ở khu vực miền Bắc,
ngao Giao Thủy, tỉnh Nam Định đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng và từ nhiều
năm nay, nghề này đã tạo việc làm thường xuyên và thu nhập ổn định cho hơn lao
động trong khu vực. Ðến năm 2012, Giao Thủy đã có vùng nuôi ngao rộng khoảng
1.500 ha, chiếm gần 30% diện tích nuôi trồng thủy sản nước mặn lợ, tạo việc làm,
thu nhập ổn định cho 3.000 lao động thường xuyên và hàng chục nghìn lao động thời
vụ. "Ngao Giao Thủy" chiếm hơn 44% sản lượng ngao thương phẩm của các tỉnh ven
biển phía bắc (Tổng cục thống kê, 2012), trong đó, Giao Xuân được xem là "vựa
ngao" lớn nhất.
3. Dự kiến những đóng góp của đề tài
Đề tài nghiên cứu “Lượng giá tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng
thủy sản tại Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp nuôi ngao tại xã Giao Xuân, huyện
Giao Thủy, tỉnh Nam Định” là cần thiết nhằm hạn chế đến mức thấp nhất tác động
tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra đối với ngành nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam nói
chung và nghề nuôi ngao tại xã Giao Xuân nói riêng.
Nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao nhận thức của chính quyền và người dân
địa phương về biến đổi khí hậu nói chung và các tổn thất có thể xảy ra do biến đổi khí
hậu; giúp họ chuẩn bị tốt cho việc xây dựng chiến lược ứng phó với biến đổi khí hậu
tại địa phương; đồng thời đóng góp cho Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với
Biến đổi khí hậu của Chính phủ Việt Nam.
1.1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới và Việt Nam
1.1.1. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản thế giới
Nuôi trồng và đánh bắt thủy sản đóng góp đáng kể đối với an ninh lương thực và
sinh kế nhưng cũng phụ thuộc rất nhiều vào hệ sinh thái biển, tuy nhiên, thực tế này ít
được quan tâm. Thật vậy, các loài cá cung cấp nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho 3 tỷ
người trên trái đất và ít nhất 50% lượng đạm và khoáng chất từ động vật cho 400 triệu
người ở các nước nghèo nhất trên thế giới. Hơn 500 triệu người ở các nước đang phát
triển đang phải sống phụ thuộc, một cách trực tiếp hay gián tiếp vào nuôi trồng và
đánh bắt thủy sản cho sinh kế của họ. Các sản phẩm về cá cũng là mặt hàng lương thực
có giá trị thương mại lớn nhất thế giới chiến hơm 37% giá trị thương mại trên toàn thế
giới (FAO, 2008). Theo số liệu của Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO),
thủy sản hiện đang là mặt hàng thực phẩm được tiêu thụ mạnh nhất với khoảng 102 tỉ
đô la năm 2008. Cũng theo số liệu của FAO thì từ nay cho đến năm 2015, tiêu thụ thủy
sản tính theo đầu người trên toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng 0,8%/năm, tổng nhu cầu
thủy sản và các sản phẩm thủy sản sẽ tăng khoảng 2,1%/năm.
Biến đổi khí hậu toàn cầu đang ngày càng ảnh hưởng lớn đến lĩnh vực NTTS,
trong đó nhiệt độ đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của
sinh vật nói chung và các loài nuôi trồng thuỷ sản nói riêng. Hiện tượng nắng nóng đã
làm cho nhiệt độ nước tăng lên quá ngưỡng chịu đựng của nhiều loài thủy sinh. Thay
đổi nhiệt độ còn là điều kiện phát sinh của nhiều loài dịch bệnh xảy ra cho các loài
nuôi. Nhiệt độ tăng cao làm cho sức khỏe của các loài nuôi, môi trường nước bị xấu đi,
là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài sinh vật gây hại (FAO, 2008).
Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương thế giới FAO năm 2008, biến đổi khí hậu
toàn cầu có thể tác động tiêu cực lẫn tích cực lên ngành nuôi trồng thủy sản do các tác
động trực tiếp cũng như gián tiếp lên các nguồn lực tự nhiên phục vụ ngành nuôi trồng
thủy sản, có thể kể ra như nước, đất, giống, thức ăn và năng lượng. Hoạt động đánh bắt
thủy sản cung cấp một lượng đáng kể đầu vào về con giống và thức ăn cho nuôi trồng
thủy sản và đến lượt mình, lĩnh vực này lại tác động tới năng suất và khả năng sinh lợi
của hệ thống nuôi trồng thủy sản (FAO, 2008). Tính dễ bị tổn thương của cộng đồng
khu vực nước lạnh và ảnh hưởng tới việc nuôi trồng thủy sản tại của vùng ôn đới, như
cá hồi và các loài thân mềm. Hiện tượng ấm lên toàn cầu cũng có thể khiến cho các
loài tảo độc sinh trưởng nhiều hơn và làm gia tăng các độc tố đặc biệt gây hại cho việc
nuôi trồng các loài thân mềm. Tuy nhiên, cũng có những ảnh hưởng tích cực do hiện
tượng ấm lên toàn cầu, đó là nhiệt độ tăng sẽ làm tăng khả năng sinh trưởng của quần
7 thể vật nuôi và tăng sản lượng nói chung đặc biệt ở khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới
(Soto, 2009)
Theo báo cáo “Tác động của Biến đổi khí hậu lên NTTS toàn cầu: một viễn cảnh
toàn cầu” của DFID cũng đã chỉ ra rằng: gió và sóng mạnh có thể phá hủy cơ sở hạ
tầng NTTS như việc nuôi các loài sò hến, tôm cua và các loài cá có vây trên lồng, bè
và điều này sẽ làm giảm sản lượng cũng như phá hủy các trang thiết bị hỗ trợ. Hiện
tượng ngập lụt ở khu vực duyên hải cũng sẽ trở nên trầm trọng hơn ở các vùng thấp/
trũng – khu vực thích hợp cho nuôi trồng một số loài nước lợ như tôm. Ảnh hưởng của
bão và áp thấp nhiệt đới lên NTTS cũng sẽ trở nên khắc nghiệt hơn tại đối với NTTS
nước mặn và nước lợ, và các ngành này thường mang lại lợi nhuận cao gây ra thiệt hại
lớn về kinh tế.
Leo William và Antonio Rota trong báo cáo “Tác động của Biến đổi khí hậu đối
với nghề cá và thủy sản ở các nước đang phát triển và cơ hội thích ứng” cũng nhấn
mạnh rằng biến đổi khí hậu ảnh hưởng rõ rệt tới nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Ở các
vùng vĩ độ thấp, ảnh hưởng tiêu cực có xu hướng lớn hơn đối với đánh bắt, phá hủy hệ
sinh thái quan trọng như rạn san hô, rừng ngập mặn, làm giảm trữ lượng cá do nhiệt độ
nước bề mặt tăng đồng và góp phần giảm năng suất. Điều ảnh ảnh hưởng mạnh mẽ tới
an ninh lương thực và việc làm ở những khu vực sống phụ thuộc vào nghề cá
(Williams L., 2010)
Nghiên cứu “Thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành công nghiệp nuôi hàu của
Úc: phân tích và thực thi chính sách” của Peat Leith và Marcus Haward năm 2010
cũng đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu sẽ ảnh hưởng tới nghề nuôi hàu theo nhiều hướng
Sự phát triển của các loài tảo độc; Giảm
lượng oxi hòa tan; Gia tăng các dịch
bệnh; Thay đổi hệ sinh thái; Thay đổi
thành phần các sinh vật phù du.
Thay đổi cơ sở hạ tầng và chi phí
vận hành .
Mùa sinh trưởng dài hơn; Tỷ lệ tử vong
tự nhiên giảm vào mùa đông; Tăng khả
năng trao đổi chất và tỷ lệ tăng trưởng.
Nhiều khả năng sẽ tăng sản
lượng và lợi nhuận
Tăng năng suất ban đầu.
Nhiều khả năng sẽ mang lại lợi
nhuận nhưng đánh đổi lại là sự
thay đổi thành phần các loài.
Thay đổi thời gian và khả năng di cư, đẻ
trứng và trưởng thành cũng như tỷ lệ
giới tính.
Ảnh hưởng tới khả năng cung
cấp con giống.
Thay đổi địa điểm và kích cỡ các khu
vực thích hợp cho từng loài.
Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực.
Nguy hiểm với các rạn san hô là nơi cư
trú của nhiều loài đồng thời bảo vệ bờ
biển khỏi các tác động của song.
Các mối nguy hại từ sóng biển
ảnh hưởng tới cơ sở hạ tầng và lũ
lụt sẽ trầm trọng hơn.
Mực nước
năng tăng trưởng. Nhiều khả năng sẽ
tăng năng suất ban đầu.
Có khả năng sẽ mang giúp tăng
lợi nhuận đặc biệt hệ thống ao
nuôi thâm canh và bán thâm
canh.
Thay đổi về địa điểm và kích thước các
khu vực tiềm năng cho một số loài nhất
định.
Ảnh hưởng tích cực và tiêu cực.
Giảm chất lượng nước, đặc biệt về khả
năng hòa tan oxi; Thay đổi về phạm vi
và sự sinh sôi của các độc tố, các loài ăn
thịt và loài cạnh tranh.
Thay đổi các loài nuôi trồng và
có thể làm tăng nguy cơ mất mát
do bệnh dịch (làm tăng chi phí
vận hành) đồng thời làm tăng chi
phí vốn cho các thiết bị sục khí
hoặc phải đào ao sâu hơn.
Thay đổi thời gian và khả năng di cư, đẻ
trứng và trưởng thành.
Ảnh hưởng tới khả năng cung
cấp con giống.
Thay đổi về
giáng thủy
và khả năng
cung cấp
nước
Lượng nước dùng cho nuôi trồng giảm.
Suy giảm chất lượng nước và lượng
nước cung cấp cho chăn nuôi.
Thay đổi độ mặn
Thiệt hại về trữ lượng vật nuôi
cũng như trữ lượng tự nhiên.
Tăng chi phí sản xuất. Mất cơ
hội do hạn chế về sản xuất.
(World Fish Center - WFC, 2007)
1.1.2. Tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản Việt Nam
Như đã đề cập ở trên, thủy sản là ngành ít đóng góp nhất vào sự thúc đẩy biến
đổi khí hậu toàn cầu nhưng lại là một trong những ngành chịu tác động nhiều nhất do
biến đổi khí hậu (Williams L., 2010). Cùng với những khó khăn ngày càng lớn của
ngành thủy sản như suy giảm nguồn lợi, ô nhiễm môi trường sinh thái, thiếu nguồn
nước ngọt cho nuôi trồng thủy sản nội địa và ven biển, nhu cầu ngày càng tăng của
cộng đồng ngư dân trong sử dụng nguồn lợi thủy sản và áp lực sử dụng tổng hợp tài
nguyên mặt nước…, biến đổi khí hậu đang đặt thêm một gánh nặng phải giải quyết
nhằm thực hiện mục tiêu phát triển thủy sản bền vững (Nguyễn V. N. et al, 2010)
Thật vậy, BĐKH không chỉ tác động tới môi trường thủy sinh trên biển, tới nền
kinh tế thủy sản nói chung mà còn tác động trực tiếp đến môi trường nuôi trồng thủy
sản (Nguyễn V.T., 2010).
- Hàm lượng ô xy trong nước giảm nhanh, làm chậm tốc độ sinh trưởng của thủy
sản, tạo điều kiện bất lợi cho các thủy sinh đã thích nghi với môi trường thủy sản từ
trước đến nay, giảm lượng thức ăn của thủy sinh.
- Điều kiện thủy lý và thủy hóa có thể thay đổi, ảnh hưởng đến chất lượng sống
và tốc độ phát triển của thủy sinh.
- Mất nơi sinh sống thích hợp của một số loài thủy sản nước ngọt trong các rừng
ngập mặn. Ao hồ cạn kiệt trước thời kỳ thu hoạch, sản lượng nuôi trồng giảm đi rõ rệt.
Có thể kể ra các yếu tố biến đổi khí hậu có thể ảnh hưởng tới NTTS Việt Nam
như sau: (i) sự gia tăng nhiệt độ; (ii) nước biển dâng và xâm nhập mặn; (iii) lũ lụt, tiêu
thoát nước và sạt lở đất; (iv) bão và áp thấp nhiệt đới (Trương Q. H., 2011).
dâng sẽ làm biến đổi cấu trúc hệ sinh thái, các vùng nuôi tôm cua ven rừng ngập mặn;
khu vực nuôi ngao trên bãi triều sẽ bị thu hẹp; khu vực nuôi lồng bè, nuôi hầu ở khu
vực cửa sông bị thu hẹp hoặc ảnh hưởng đến sinh trưởng của loài nuôi.
Trong báo cáo “Kinh tế học thích ứng với Biến đổi khí hậu – Việt Nam” của
Ngân hàng thế giới năm 2010, các tác giả đã nêu rằng tác động trực tiếp của hiện
tượng mực nước biển dâng có thể đặc biệt trở nên quan trọng do lũ lụt ra tăng và hiện
tượng nhiễm mặt sẽ tác ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản vùng duyên hải đặc biệt là ở
các ao, hồ ngay sát bãi biển. Bất kỳ sự tăng lên nào về cường độ và tần suất của các
12 hiện tượng thời tiết cực đoan như bão đều có thể ảnh hưởng tới ngành nuôi trồng thủy
sản do phá hủy các tài sản sử dụng trong sản xuất và cơ sở hạ tầng giao cần thiết để
giao thương trên thị trường (World Bank, 2010).
Theo đánh giá mới nhất của Tổ chức DARA quốc tế phối hợp với Diễn đàn các
nước dễ bị tổn thương do biến đổi khí hậu (CVF) thực hiện trong khuôn khổ Chương
trình Sáng kiến về Tính dễ Tổn thương năm 2012, Việt Nam đứng đầu trong danh sách
các nước có mức thiệt hại ngành thủy sản do biến đổi khí hậu ở mức nguy cấp, tức là
mức báo động đỏ, khoảng 1,5 tỷ USD năm 2010 và mức thiệt hại này sẽ tăng tới 25 tỷ
USD vào năm 2030 (DARA International & Climate Vulnerable Forum, 2012).
1.2. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến tổn thất do biến đổi khí hậu đối với
ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới và Việt Nam
Như đã đề cập ở phần trên, thủy sản là một trong những ngành chịu ảnh hưởng
đáng kể do tác động của biến đổi khí hậu, đặc biệt là các nước có thu nhập trung
bình và thấp. Nghiên cứu của Allison (2008) đã cho thấy 33 nước có ngành thủy
sản dễ bị tổn thương nhất đối với tác động của biến đổi khí hậu chỉ đóng góp
khoảng 2,3% GDP toàn cầu, trong đó 22 nước nằm trong số những nước kém phát
triển nhất (Allison, 2008).
Nghiên cứu “Đánh giá tác động kinh tế của biến đổi khí hậu đối với ngành nông
nghiệp Guyana” của Ủy ban Kinh tế châu Mỹ La-tinh và Ca-ri-bê năm 2011 sử dụng
2011). Tác giả đã sử dụng các số liệu thứ cấp của các tác giả khác (van Vuuren,
Gaffin) để chỉ ra được các quốc gia có doanh thu từ động vật thân mềm thay đổi cũng
như tính toán được tổn thất lợi nhuận của người sản xuất.
Tại Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu lượng giá tác động của biến đổi khí hậu
đối với thủy sản nói chung và đối với nghề nuôi ngao nói riêng theo các kịch bản của
biến đổi khí hậu ở khu vực miền Bắc (đồng bằng sông Hồng). Tuy nhiên, đã có một số
nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu đối với nuôi trồng thủy sản được thực hiện ở
miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu của Kam và các cộng sự (2010)
ở đồng bằng sông Cửu Long cho thấy nếu không có giải pháp thích ứng, thu nhập của
các hộ nuôi cá tra có thể giảm 3 tỷ đồng/ha vào năm 2020 và các hộ nuôi tôm có thể
giảm 130 triệu đồng/ha vào năm 2020 và lên đến 950 triệu đồng/ha năm 2050. Chi phí
thích ứng biến đổi khí hậu trong nuôi tôm có thể sẽ tăng bao gồm các gia tăng chi phí
bơm nước và lấy nước, tại các đầm nuôi tôm có thể chiếm khoảng 2,4 tổng chi phí
hàng năm giai đoạn 2010-2050 (World Bank, 2010). Tuy vậy, nghiên cứu này chỉ
đánh giá một cách định tính tác động của biến đổi khí hậu thông qua chỉ số tổn thương.
1.3. Phương pháp lượng giá tổn thất rủi ro liên quan đến biến đổi khí hậu
Phương pháp tiếp cận của hầu hết các phân tích kinh tế liên quan đến biến đổi khí
hậu đều dựa trên cơ sở việc giải thích hiện tượng ngoại ứng và dịch vụ - hàng hóa
14 công cộng (Stern, 2007). Báo cáo năm 2007 của Nicolas Stern đã coi biến đổi khí hậu
do con người gây ra là một hiện tượng ngoại ứng và giải thích rằng những đối tượng
đã góp phần phát thải khí nhà kính – nhân tố gây ra biến đổi khí hậu, theo đó làm thiệt
hại tới nền kinh tế toàn cầu cũng như các thế hệ tương lai lại không hề phải đối mặt
trực tiếp với các hậu quả mà họ gây ra. Thật vậy, rất nhiều hoạt động kinh tế liên quan
đến phát thải khí nhà kính và các khí này tích tụ dần trong không khí làm cho nhiệt độ
tăng dẫn tới biến đổi khí hậu làm gia tăng các chi phí (ở một số nơi là lợi nhuận) cho
xã hội. Tuy nhiên, chi phí cho việc phát thải này lại không được chi trả bởi những bộ
phận đã tạo ra sự phát thải đó cũng như họ không phải bồi thường cho những thiệt hại
Khung chính sách này cũng đưa ra 4 phương pháp tiếp cận để thực hiện:
(i) Phương pháp tiếp cận Rủi ro Khí hậu: phân tích các kết quả đầu ra có thể xảy ra
do 1 rủi ro khí hậu cụ thể;
(ii) Phương pháp tiếp cận dựa vào Tính dễ bị tổn thương: xác định khả năng của các
tổn thương có thể xảy ra do các thảm họa khí hậu trong tương lai;
(iii) Phương pháp tiếp cận Phân tích Chính sách: điều tra tính hiệu quả của chính sách
hiện tại hoặc đề xuất có lưu ý tơi sự thay đổi về độ phơi lộ và độ nhạy cảm;
(iv) Phương pháp tiếp cận dựa trên Năng lực thích ứng: phân tích các rào cản đổi với
thích ứng và đề xuất giải pháp để vượt qua.
Do nghiên cứu này tập trung vào bước số 2 và 3 của APF: Đánh giá tính dễ bị tổn
thương trong hiện tại và Xác định các rủi ro trong tương lai để từ đó lượng hóa được
các tổn thất, rủi ro do biến đổi khí hậu gây ra, 2 phương pháp tiếp cận được áp dụng ở
đây là: Phương pháp tiếp cận Rủi ro khí hậu và Phương pháp tiếp cận dựa vào Tính dễ
bị tổn thương.
Phương pháp tiếp cận dựa trên các thảm họa thiên nhiên (Natural hazards-
based approach): được dùng để đánh giá các rủi ro về khí hậu dựa trên việc xác định
các tai biến về khí tượng và được mô tả bằng công thức:
R = P*V (1)
Trong đó:
R: là khả năng tổn thất do tai biến gây ra
P: xác suất xảy ra tai biến theo thời gian
V: khả năng xảy ra có thể gây ra tổn thương đến con người, môi trường và các
đối tượng liên quan tới đời sống sản xuất, sinh hoạt của con người
Nhìn chung, tai biến sẽ được cố định ở 1 mức nhất định để ước lượng sự thay đổi
về khả năng tổn thương theo không gian và thời gian. Ví dụ, một đợt lũ với độ cao
nhất định hoặc một cơn bão với tốc độ gió nhất định có thể tăng về tần suất xảy ra theo
thời gian sẽ làm tăng rủi ro sẽ phải đối mặt (giả định rằng tính dễ bị tổn thương là
không đổi).
16
ra, có giá trị từ 0 đến 1), và E là giá trị của thiệt hại hoặc mức thiệt hại lớn nhất có thể
khi thảm họa xảy ra. Trong phần lớn các trường hợp, công thức này được coi là tổng
hợp của 3 hàm nói trên và là tổng của tất cả các kịch bản có thể xảy ra.
17 Trên thực tế, người ta sẽ đặt ra một số giả định và đơn giản hóa vấn đề. Để lượng
giá tổn thất do biến đổi khí hậu, người ta sẽ áp dụng phương pháp tiếp cận dựa trên
kịch bản. Có thể áp dụng các kịch bản biến đổi khí hậu của IPCC làm cơ sở tính toán.
Ở Việt Nam, ta thường sử dụng kịch bản biến đổi khí hậu do Bộ Tài nguyên & Môi
trường ban hành. Ta có thể giả định xác suất xảy ra của các kịch bản dựa trên phương
pháp phân tích cây sự kiện (Event Tree Analysis) nhưng tổng tất cả các giá trị xác suất
phải bằng 1. Phương pháp này sẽ được trình bày cụ thể hơn ở phần 2.2.2.
Và đối với mỗi kịch bản, ta cũng cần phải xác định tính dễ bị tổn thương mà bản
thân các giá trị này cũng là những giá trị không chắc chắn nhưng nó sẽ tăng lên khi
cường độ của thảm họa tăng.
Và cuối cùng, E sẽ là giá trị của yếu tố dự đoán sẽ chịu rủi ro do biến đổi khí hậu.
Như vậy, công thức (1) như trình bày ở trên có thể sử dụng đối với mọi rủi ro do
tai biến thiên nhiên gây ra trong đó có biến đổi khí hậu.
18 CHƯƠNG 2: ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, PHƯƠNG PHÁP VÀ SỐ LIỆU
2.1. Đặc điểm tình hình nuôi ngao xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh
Nam Định
Vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng
Xã Giao Xuân là một xã thuộc huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, là khu vực
đồng bằng tương đối bằng phẳng, nằm trong hành lang trọng điểm của vùng đồng