LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH SINH HỌC BIỂN: ĐIỀU TRA VỀ SỰ XUẤT HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC LOÀI RONG BIỂN TRONG CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM BIỂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA THỦY SẢN
TRẦN PHÁT ĐẠT

ĐIỀU TRA VỀ SỰ XUẤT HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
CÁC LOÀI RONG BIỂN TRONG CÁC MÔ HÌNH NUÔI
TÔM BIỂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SINH HỌC BIỂN


ĐIỀU TRA VỀ SỰ XUẤT HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC
LOÀI RONG BIỂN TRONG CÁC MÔ HÌNH NUÔI TÔM
BIỂN Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH SINH HỌC BIỂN
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:
PGs. Ts: TRẦN NGỌC HẢI
Ths: TRẦN NGUYỄN HẢI NAM
Năm 2011
TÓM TẮT
“Điều tra về sự xuất hiện và tác động của các loài rong biển trong các mô hình
nuôi tôm biển ở ĐBSCL” được thực hiện ở 3 tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu và Sóc Trăng từ
tháng 10 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011.
Kết quả khảo sát cho thấy, sản lượng trung bình tôm sú trong các ao nuôi tôm
quảng canh cải tiến tại Cà Mau là 269 kg/năm và tại Bạc Liệu là 261 kg/năm
. Đối
với mô hình nuôi tôm lúa tại Bạc Liêu sản lượng tôm sú là
206 kg/năm và tại Sóc
Trăng 1013 kg/năm.
Một số loài thực vật thủy sinh thường xuất hiện trong các ao
nuôi tôm như rong bún (
Enteromorpha
spp.),
rong đá (Najas), rong mền
(Cladophoraceae), rong nhớt (Spirogyra) và cỏ năng (Scrippus).
Hầu hết các loại rong phát triển nhiều ở độ mặn thấp 6-16 ppt và chỉ xuất hiện
theo mùa vụ, phân bố chủ yếu trong ao, kênh cạn, nước tĩnh và trong. Khi rong và
thực vật thủy sinh phát triển ở mức độ thích hợp (20-32% diện tích ao) thì có lợi cho
ao nuôi
. Khi phát triển mạnh thì gây nhiều tác hại cho tôm, cá, cua. Đặc biệt, khi
chết có thể làm thối nguồn nước nuôi.
Theo ý kiến người dân thì các loài rong và thực vật thủy sinh thường xuất hiện
nhiều trong ao nuôi tôm QCCT vào mùa mưa, trong khi đó chúng xuất hiện trong
ao nuôi tôm lúa chủ yếu vào mùa nắng.
Kết quả khảo sát thực nghiệm cho thấy có thể kết hợp một số loài thực vật thủy
sinh như rong bún, rong đá, cỏ năng để làm
thức ăn, cải thiện chất lượng nước…

2.2.4. Nhiên liêu sinh học 7
2.2.5. Chỉ thị môi trường 7
B. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng thủy sản vùng khảo sát 8
2.3. Tỉnh Cà Mau 8
2.4. Tỉnh Bạc Liêu 9
2.5. Tỉnh Sóc Trăng 11
CHƯƠNG III 13
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1. Phương pháp thu số liệu 13
3.2 Phương pháp xử lí và phân tích số liệu 13
CHƯƠNG IV 14
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 14
4.1 Hiện trạng kỹ thuật và vai trò của rong biển trong mô hình nuôi tôm
quảng canh cải tiến (QCCT) 14
4.1.1. Thông tin chung về ao nuôi 14
4.1.1.1 Cải tạo 15
4.1.1.2. Con giống 16
4.1.1.3 Thả giống 16
4.1.1.4 Thay nước 16
4.1.1.5 Sản lượng và năng suất 17
4.1.2 Phân tích hiệu quả kinh tế 17
4.1.2.1 Giá bán 17
4.1.2.2 Chi Phí 18
4.1.2.3 Thu nhập 18
4.1.3 Đánh giá tác động của Rong biển trong ao nuôi QCCT 19
4.1.3.1 Điều kiện sinh trưởng của Rong biển 19
4.1.3.2 Vai trò của các loài rong biển 22

DANH SÁCH BẢNG Bảng 4.1 Hiện trạng kỹ thuật, kinh tế trong mô hình nuôi quảng canh cải tiến
(QCCT) 14
Bảng 4.2: Độ mặn và độ sâu thích hợp cho rong biển phát triển trong ao nuôi
QCCT theo kiến nông dân 20
Bảng 4.3: Sự hiện diện, cơ cấu và sinh lượng của rong biển theo ước lượng của
nông dân (QCCT) 21
Bảng 4.4: Hiện trạng kỹ thuật, kinh tế trong mô hình nuôi tôm lúa 27
Bảng 4.5: Độ mặn và độ sâu thích hợp cho rong biển phát triển theo kiến nông
dân (tôm lúa) 32
Bảng 4.6: Sự kiện diện, cơ cấu và sinh lượng của rong biển theo ước lượng của
nông dân (tôm lúa) 33

vii
DANH SÁCH HÌNH

Hình 2.1: Rong Nhớt 3
Hình 2.2: Rong mền 4
Hình 2.3: Rong bún 4
Hình 2.4: Rong đá 5
Hình 2.5: Cơ năng 6
Hình 2.6 : Bản Đồ Hành Chính Tỉnh Cà Mau 8

rất quan trọng như là nguồn thức ăn tự nhiên, tạo dựng nền đáy và làm nơi cư trú
cho các đối tượng nuôi…( Đinh Thị Phương Anh và Hoàng Thị Ngọc Hiếu, 2010).
Hiện nay, nghề nuôi tôm ở khu vực ĐBSCL phát triển rất mạnh, diện tích
nuôi ngày càng được mở rộng, đặc biệt là diện tích nuôi thâm canh. Do đó, vấn đề
xử lí nguồn nước thải có hàm lượng dinh dưỡng cao từ ao nuôi tôm để tránh ô
nhiễm nguồn nước nuôi, cũng như tránh tình trạng lây lan dịch bệnh từ việc xả nước
thải ra kênh, sông đang là vấn đề cấp bách. Rong biển là đối tượng cũng được
nghiên cứu về tác động môi trường, khả năng xử lý ô nhiễm, giá trị kinh tế và sinh
trưởng của rong biển trong các điều kiện khác nhau. Cho đến nay, rong biển được
nghiên cứu chủ yếu là rong sụn, rong câu và một số loài rong khác nhằm tìm ra
được loài nuôi mới kết hợp với nuôi tôm để sử dụng những chất dinh dưỡng dư thừa
trong ao tôm chuyển thành sinh khối như vai trò lọc sinh học, giúp cải thiện chất
lượng của nước… Tuy nhiên, ở nước ta, các loài rong biển và thực vật thủy sinh
phát triển trong ao nuôi tôm chưa được nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu về chúng
hiện rất ít.
Để tìm hiểu thêm về đối tượng này và khả năng phát triển của mô hình nuôi
kết hợp với tôm trong ao nuôi, đề tài: “Điều tra về sự xuất hiện và tác động của các
loài rong biển trong các mô hình nuôi tôm biển ở ĐBSCL” được thực hiện nhằm
xây dựng mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp đạt hiệu quả kinh tế và tìm hiểu
những tác động của rong biển và thực vật thủy sinh trong ao nuôi tôm.
2
1.2. Mục tiêu đề tài
Tìm hiểu sự phân bố của một số loài rong biển và thực vật thủy sinh trong
các mô hình nuôi tôm, làm cơ sở cho việc nuôi sinh khối và phát triển mô hình nuôi
tôm biển kết hợp ở các tỉnh ĐBSCL.
1.3. Nội dung đề tài
Thu thập các thông tin của nông dân địa phương về sự phân bố, mùa vụ xuất
hiện, vai trò của rong biển và thực vật thủy sinh trong các mô hình nuôi tôm sú ở
các tỉnh vùng ven biển khu vực ĐBSCL, thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ dân.
1.4. Thời gian thực hiện

Họ: Zygnemataceae
Giống: Spirogyra (Link in C.G. Nees)

Hình 2.1: Rong Nhớt
(Nguồn: www.google.com.vn/imgres?q=Spirogyra&hl=vi&sa)
Rong Nhớt (Spirogyra) phân bố chủ yếu ở các thủy vực nước ngọt và lợ,
trong các nguồn nước bị ô nhiễm rong Nhớt vẫn có thể sống được và có dạng sợi
dài 1 – 10cm, được kết nối với nhau bằng những tế bào hình trụ có màu xanh. Màng
tế bào có 2 lớp: lớp pectin và lớp cellulose, pectin là lớp ngoài cùng có thể hòa tan
trong nước nên sẽ sinh ra chất nhầy.Tế bào chất tạo thành một lớp màng mỏng giữa
các thành tế bào và không bào bao quanh. Các lục lạp là băng hình, răng cưa hoặc
vỏ sò, và sắp xếp thành vòng xoắn, kết quả là màu xanh lá cây đặc trong xoắn ốc và
nổi bật trên từng sợi. Rong Nhớt có thể sinh sản hữu tính hoặc vô tính
(www.answers.com/topic/spirogyra). Rong nhớt dạng sợi, một hàng tế bào, tập
trung thành những búi rối, thường chia nhánh theo kiểu chạc hai hoặc chia cách.
Bám vào vật bám nhờ rễ giả, cài quấn vào nhau, chia nhánh hoặc không, mọc ra từ
gốc. Sinh trưởng bằng cách chia cắt tế bào từ khắp mội chỗ trên thân, không có
vùng sinh trưởng chuyên hóa (Nguyễn Hữu Dinh & ctv, 1993).
4
2.1.2. Rong Mền
Ngành: Chlorophyta
Lớp: Ulvophyceae
Bộ: Cladophorales
Họ: Cladophoraceae
Giống: Cladophora (Kützing, 1843)

Hình 2.2: Rong mền
(Nguồn: www.google.com.vn/search?q=cladophora+sp&hl)
Rong Mền (Cladophora) dạng sợi, chi nhánh nhiều theo kiểu mọc bên, đối
nhau, chạc hai, chạc ba, mọc về một bên, hình lược hay mọc vòng thành chùm.

và nhiên liệu sinh học.

Chúng thường được tìm thấy tại các cửa sông, ven biển và
tạo ra một màu xanh rất đặc trưng ở khu vực có chúng xuất hiện (Hayden et al,
2003).
2.1.4. Rong Đá
Bộ: Alismatales
Họ: Hydrocharitaceae
Giống: Najas

Hình 2.4: Rong đá
(Nguồn: www.google.com.vn/imgres?q=Najas&hl=vi&sa)
Thân rong trụ tròn hay trụ dẹp, chi nhánh nhiều hay ít tùy từng loài, ở phần
thân thường có thân bó, từ đó mọc lên các thân cứng. Rong mọc thành bụi rậm hay
từng đám, màu dỏ lục hoặc đỏ nâu (Nguyễn Hữu Dinh & ctv., 1993). Rong Đá
(Najas sp) thuộc nhóm rong biển có kích thước lớn, chiều dài có thể lên đến 120cm
phổ biến ở môi trường nước ngọt, lợ. Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của rong
đá là từ 21 – 29
o
C, pH từ 6 – 7.2. Rong đá thường mọc ở những thủy vực nước tĩnh
hoặc dòng chảy yếu. Đây là loài phân bố rộng, được tìm thấy nhiều ở nước ta
(www.plantedtank.net/forums/191-Najas_sp_Roraima_Najas.html). 6
2.1.5. Cỏ Năng
Ngành: Tracheobionta

alkane mannitol cho một lượng calo rất thấp, làm thực phẩm cho người bị tăng
7
huyết áp nhờ khả năng chống vón tiểu cầu, cung cấp iôt, cung cấp canxi.
(www.dacsandatphanrang.com)
2.2.2. Chống lại sự ấm lên của trái đất
Theo một số chuyên gia, tốc độ quang tổng hợp của rong rêu biển là yếu tố
chính đem lại hiệu quả cho việc hấp thu carbon. Có những loại rong biển có thể
mọc trải dài ba tới sáu mét chỉ trong 3 tháng và cũng có những loại rong biển khác
có thể hấp thu carbon dioxide nhiều gấp 5 lần các cây cối mọc trên đất liền.
2.2.3. Xử lí môi trường nước
Rong biển có thể làm giảm ô nhiễm môi trường nước do có khả năng làm
giảm hàm lượng nitơ và photpho trong nước thải. Rong biển có khả năng hấp thụ
photpho nhiều hơn nhu cầu cho sự phát triển của chúng.
Enteromorpha loài được sử dụng rộng rãi như máy lọc sinh học ở các vùng
nước ven biển ô nhiễm, E. linza và E. intestinalis hấp thu nitrat từ môi trường cao
hơn các loài rong biển khác (Harlin, 1978). E. linza và E. intestinalis có khả năng
hấp thụ niken, coban và crom trong nước (Martin and Marques, 2002). Burkholder
et al. (2007) Ulva là loài chiếm ưu thế trong thảm cỏ biển và có thể hấp thu chất
dinh dưỡng dư thừa trong các tầng nước, do đó ngăn ngừa sự phát triển quá mức
của thực vật phù du.
Một số loại rong biển có khả năng hấp thu kim loại nặng, do đó sử dụng
chúng để loại bỏ kim loại nặng trong nước thải để làm sạch nước. Theo Fujita
(1985), điều tra vai trò của các loài tảo lớn có khả năng hấp thu và tích lũy đạm
trong cơ thể. Thấy rằng, chúng sẽ tích lũy đạm rất cao ở môi trường giàu đạm. Điều
này rất quan trọng trong việc cải tạo chất lượng nước.
2.2.4. Nhiên liêu sinh học
Theo Aresta et al. (2003), cho rằng tảo là nguồn năng lượng phong phú, giá
trị năng lượng của tảo phụ thuộc vào số lượng các hợp chất chiết xuất, có thể sử
dụng làm nhiên liệu sinh học. Maceiras et al (2008) (Trích dẫn Nguyễn Văn Tròn,
2011), chiết suất diesel sinh học tiên tiến từ một số loài tảo ở biển như: Fucus

Bạc Liêu, phía Ðông và phía Nam giáp biển Ðông, phía Tây giáp vịnh Thái Lan.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 5.211km
2
, chiếm 1,58% diện tích cả nước và chiếm
13,6% diện tích của đồng bằng sông Cửu Long
Ðịa hình: Cà Mau là tỉnh vùng thấp, thường xuyên bị ngập nước, có tới 90%
diện tích đất ngập mặn có chứa phèn.
Khí hậu: Mang khí hậu nhiệt đới gió mùa ổn định và mang tính đặc trưng
phân mùa rõ rệt. Mùa mưa có từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình khoảng 2.400 mm. Nhiệt độ trung bình
trong năm là 26
0
C, số giờ nắng trung bình năm đạt 2.500 giờ.
Lợi thế hàng đầu của tỉnh Cà Mau là thuỷ sản, với chiều dài bờ biển khoảng
252 km, có nhiều cửa sông ăn thông ra biển như: Gành Hào, Bồ Ðề, Ông Ðốc, Ông
Trang, Do vậy rất thận lợi cho việc hình thành các trung tâm nghề cá và các khu
trung tâm kinh tế biển.
Diện tích nuôi trồng thuỷ sản hiện nay khoảng 202.000 ha. Các mô hình
nuôi phổ biến hiện nay là nuôi quảng canh cải tiến, bán thâm canh, nuôi tôm kết
hợp với trồng rừng, trồng lúa. Nuôi tôm công nghiệp một số diện tích nuôi tôm
công nghiệp ở Ngọc Hiển, Cái Nước, Ðầm Dơi đạt năng suất từ 4 - 5 tấn/ha/vụ.
Hàng năm Cà Mau sản xuất từ 23 tỷ con giống, đã giải quyết một phần về nhu cầu
con giống cho nghề nuôi trồng thuỷ sản. (www.camau.gov.vn)
2.4. Tỉnh Bạc Liêu

Hình 2.7 : Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu (www.baclieu.gov.vn)
Địa điểm
khảo sát
10
Bạc Liêu là tỉnh thuộc Khu vực Đồng bằng Sông cửu Long nằm phía Đông

(731 ha), Đông Hải (232 ha).
Mô hình Tôm càng xanh – Lúa: Trong năm 2009 diện tích thả nuôi
tập trung nhiều nhất ở các huyện: Phước Long (5.190 ha), huyện Giá Rai (245 ha).
Mô hình Tôm – rừng: Năm 2009, diện tích được nông dân canh tác theo mô
hình này là 2.354 ha, tập trung ở các huyện: Đông Hải (1.573 ha), Hòa Bình (781
ha).
Năm 2009 Bạc Liêu có 127.000 ha nuôi tôm quảng canh, trong đó mô hình
nuôi tôm sú kết hợp với cua, cá đem lại hiệu quả kinh tế cao và chiếm diện tích
11
nhiều nhất, trong đó Giá Rai gần 16.900 ha, Đông Hải 36.900 ha, Hòa Bình 11.560
ha, Phước Long 9.800 ha. Năng suất tôm bình quân của mô hình là 370 kg/ha/năm,
năng suất cua 140 kg/ha/năm. So với năm 2006 thì sản lượng bình quân các
đối tượng nuôi trong mô hình này đều tăng tôm tăng 20kg, cua tăng
30kg, cá tăng 100kg/ha/năm. (www.baclieu.gov.vn/pages/dktn.aspx)
2.5. Tỉnh Sóc Trăng

Hình 2.8: Bản đồ hành chính tỉnh Sóc Trăng (www.soctrang.gov.vn)
Sóc Trăng là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long thuộc Việt
Nam, nằm ở bờ phải sông Hậu. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 3.223 km
2
.
Địa hình: địa hình của Sóc Trăng khá bằng phẳng. Đại bộ phận lãnh thổ của
tỉnh là thuộc vùng đất liền. Phần nhỏ còn lại kẹp giữa hai nhánh sông Hậu là một
dải cù lao với diện tích hàng trăm kilomet vuông. Địa hình của tỉnh có dạng lòng
chảo với độ cao trung bình từ 0.5 - 1m so với mực nước biển. Hướng dốc chính của
địa hình từ 3 phía là sông Hậu, biển Đông và kênh Quản Lộ thấp dần vào trung tâm.
Do địa hình lòng chảo nên khu vực thấp nhất ở phía Nam huyện Mỹ Tú và Thạnh
Trị khó thoát nước, bị ngập úng kéo dài.
Hiện nay, tỉnh Sóc Trăng có gần 51.000 ha tôm nuôi, trong đó có 41.136 ha
diện tích nuôi tôm sú, mỗi năm thu khoảng 23.500 tấn tôm nguyên liệu, đạt hơn 300
13
CHƯƠNG III
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Phương pháp thu số liệu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2011-11/2011.
Địa điểm thực hiện:
- Cà Mau: 15 hộ nuôi tôm quảng canh cải tiến ở Đầm Dơi, Cái Nước
và Trần Văn Thời.
- Bạc Liêu: 15 hộ nuôi tôm lúa luân canh ở Phước Long, 15 hộ nuôi
quảng canh cải tiến ở Đông Hải.
- Sóc Trăng: 15 hộ nuôi tôm lúa luân canh ở Mỹ xuyên.
Nguồn thông tin: Thu từ 60 nông hộ ở các tỉnh ven biển ĐBSCL (Cà Mau,
Bạc Liêu và Sóc Trăng) bằng cách sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn.
Nội dung thu thập: Thu thập thông tin từ nông hộ về: hiện trạng kỹ thuật,
kinh tế trong các mô hình nuôi tôm và mùa vụ xuất hiện, chu kì xuất hiện, điều kiện
môi trường thích hợp cho rong và thực vật phát triển, sinh khối của rong và thực vật
trong ao, tác động của rong biển và khả năng trồng rong biển trong ao nuôi tôm.
3.2. Phương pháp xử lí và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm excel để tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn cho các chỉ
tiêu. Ngoài ra các thông tin thu thập khác từ nông hộ cũng được đưa vào excel để
xử lý.


Độ sâu mương (m) 0,95±0,30 1,05±0,23
Cải tạo (lần/năm) 1,57±1,08 2,16±1,58
Thả tôm giống (lần/năm) 8,93±2,66 7,36±4,05
Mật độ thả tôm (con/m
2
)
1,95±0,97 1,98±1,27
Mật độ thả cua (con/m
2
) 0,60±1,42 0,15±0,15
Thay nước (lần/tháng) 1,70±0,82 1,90±1,03
Số ngày thay nước (ngày/lần) 9,25±5,93 8,50±2,07
Tỉ lệ thay nước (%/ngày) 32,31±17,87 42,92±21,37
Độ mặn mùa khô (ppt) 26,27±9,42 30,14±7,40
Độ mặn mùa mưa (ppt) 5,42±2,68 5,29±3,87
Sản lượng (kg/hộ/năm)

Tôm sú 269±140 261±179
Tôm khác 94±36 315±372
Cá 197±142 240±302
Cua 60±36 189±132
Năng suất(kg/ha/năm)

Tôm sú 277±286 156±111
Tôm khác 27±62 90±118
Cá 109±151 98±119
Cua 34±44 113±57
Giá (1000 VND/kg)

Tôm sú 178±39 170±22

4.1.1.1. Cải tạo
Đây là một trong những khâu quan trọng nhất trong nuôi trồng thủy sản góp
phần quyết định đến thành công của vụ sản xuất. Các yếu tố gây hại đến các đối
tượng nuôi đều tồn tại phần lớn ở đáy ao.
Sên vét bùn: sau mỗi vụ nuôi các ao thường bị bồi lắp bởi một lượng lớn phù
sa từ sông, gạch và sạt lở đất từ bờ. Do đó, sên vét đáy ao là cách làm bắt buộc sau
mỗi vụ nuôi. Phương thức thực hiện là thủ công hoặc cơ giới và thường 1 - 2
lần/năm.
Dùng thuốc - hóa chất: Nhìn chung trong các mô hình nuôi tôm được khảo
sát việc dùng thuốc và hóa chất rất hạn chế

16
4.1.1.2. Con giống
Người dân thường sử dụng nguồn tôm giống địa phương hoặc các tỉnh lận
cận là chính, một số hộ sử dụng nguồn giống tại các tỉnh miền trung nhưng cũng đã
qua trung gian tại các trại giống địa. Hầu hết các nguồn giống này không được
người dân đem xét nghiệm trước khi thả do số lượng thả mỗi lần không lớn và được
thả nhiều lần trong năm nên việc xét nghiệm thường không được chú trọng.
Trong mô hình nuôi tôm Quảng canh cải tiến cua giống được mua từ trại
giống hoặc từ tự nhiên. Kích cỡ cua giống thường tương đối nhỏ (cua me hoặc cua
tiêu) do đó lượng cua giống được thả tương đối nhiều. Cua là đối tượng đang được
nuôi kết hợp trong ao nuôi tôm hiện nay.
4.1.1.3.Thả giống
Trong nuôi QCCT số đợt thả tôm sú giống trong một năm khoảng 8-9 lần.
Hầu hết giống được thả đều vào mỗi tháng, chỉ vào những tháng cải tạo thì giống
mới không được thả. Tuy nhiên, do được thả nhiều lần trong năm nên số lượng mỗi
lần thả tương đối thấp và nguồn giống cũng không được kiểm tra chất lượng.


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status