khảo sát thành phần loài và đặc điểm sinh học của cá linh ống, cá chốt sọc, cá lăng - Pdf 28



TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP – TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN THỦY SẢN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM
SINH HỌC SINH SẢN CỦA CÁ LINH ỐNG,
CÁ CHỐT SỌC, CÁ LĂNG PHÂN BỐ Ở
TỈNH AN GIANG
Chủ nhiệm đề tài: Ths. VÕ THANH TÂN



Chủ nhiệm đề tài: Ths. VÕ THANH TÂN
Cán bộ phối hợp: Ths. PHAN THỊ THANH VÂN Long Xuyên, tháng 03 năm 2009
i
LỜI CẢM TẠ

Xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu, các Phòng Ban Trường Đại Học An
Giang, Ban Chủ Nhiệm Khoa Nông Nghiệp – Tài Nguyên Thiên Nhiên, cùng
Anh/Chị đồng nghiệp Bộ môn Thủy sản (Cơ Sở 2) đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
thực hiện và hoàn thành đề tài trong thời gian qua.
Xin gởi lời cảm ơn đến:
- PGs.Ts Nguyễn Thanh Phương và Ts Trần Đắc Định, Khoa Thủy
Sản – Trường Đại Học Cần Thơ đã hỗ trợ các trang thiết bị phục vụ cho phân tích và
định danh các loài cá trong thời gian qua.
- Ths. Phan Thị Thanh Vân đã cùng cộng tác tích cực trong suốt thời g
ian
thực hiện đề tài.

ii
TÓM TẮT

Nghiên cứu được thực hiện trong một năm, từ tháng 01 năm 2008 đến tháng 12
năm 2008 tại tỉnh An Giang. Nội dung của đề tài là xác định thành phần loài cá nước
ngọt phân bố ở các thủy vực khác nhau của huyện An Phú, huyện Tân Châu và Thị

dominant accounting for 36%, 24% and 22%, respectively, and the other orders
accounted for 18%. Results of the study also indicated that three introduced species
have dispersed extensively in all natural water bodies in An Giang including
Hypostomus plecostomus, Oreochromis niloticus and Piaractus brachypomum.
In addition, some characteristics of biological reproduction of Henicorhynchus
siamensis, Mystus mysticetus and Mystus wyckii were also determined. The results
showed that the gonadal somatic index (GSI) of these species ranged from 12,43% to
19,38%, in which lowest GSI was for Mystus wyckii (12,43%) and highest GSI was
for Mystus mysticetus(19,38%). The spawning seasons of most species were taken
place in the early raining season during June to July. The absolute fecundity of these
species ranged from 3.513 to 17.706 eggs/female fish, lowest fecundity was for
Mystus mysticetus (3.513 ± 952 eggs/female fish) and the highest (17.706 ± 7.478
eggs/female fish) found in Mystus wyckii. The relative fecundity ranged from 196 to
294 eggs/gram female fish, the lowest fecundity was in Henicorhynchus siamensis
(196 ± 53 eggs/gram female fish) and the highest (294 ± 37 eggs/gram female fish)
found in Mystus mysticetus.
Keywords: Species composition, GSI, Spawning Season, Fecundity iv
MỤC LỤC Trang
Lời cảm tạ .................................................................................................................... i
Tóm tắt ....................................................................................................................... ii
Abstract .......................................................................................................................iii
Mục lục .......................................................................................................................iv
Danh sách bảng ..........................................................................................................vii
Danh sách hình..........................................................................................................viii

2.3 Nhóm cá vùng ngập lũ ....................................................................33
3. Một số loài cá di nhập phân bố trong các thủy vực TN ở tỉnh AG..........34
3.1 Cá lau kiếng (Hypostomus plecostomus) ........................................34
3.2 Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus) ...........................................36
3.3 Cá chim trắng (Colossoma brachypomum).....................................37
4. Một số loài cá kinh tế phân bố trên các thủy vực tỉnh An Giang.............39
5. Những loài cá có dấu hiệu suy giảm trong các thủy vực ở tỉnh AG ........42
II. Đặc điểm sinh học sinh sản của cá linh ống, cá chốt sọc và cá lăng..............43
1. Đặc điểm sinh học sinh sản của cá linh ống (H. siamensis) ...................43
1.1 Vị trí phân loại và phân bố..............................................................43
1.2 Hình thái cấu tạo .............................................................................44
1.3 Đặc điểm sinh trưởng......................................................................45
1.4 Đặc điểm thành thục sinh dục.........................................................46
1.4.1 Sự phát triển của tuyến sinh dục .........................................46
1.4.2 Sự biến động các giai đoạn thành thục của TSD cá............47
1.4.3 Hệ số thành thục (GSI)........................................................49
1.5 Sức sinh sản.....................................................................................50
1.5.1 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối................50
1.5.2 Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và k.lượng thân....52
2. Đặc điểm sinh học sinh sản của cá chốt sọc (Mystus mysticetus)............53
2.1 Vị trí phân loại và phân bố..............................................................53
2.2 Hình thái cấu tạo .............................................................................54
2.3 Đặc điểm sinh trưởng......................................................................54
2.4 Đặc điểm thành thục sinh dục .........................................................55
2.4.1 Sự biến động các giai đoạn thành thục của TSD cá............55
2.4.2 Hệ số thành thục (GSI)........................................................56
2.5 Sức sinh sản.....................................................................................57
3..5.1 Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối................57
3.5.2 Tương quan giữa sức sinh sản tuyệt đối và k.lượng thân ...59


Bảng 7: So sánh thành phần loài cá xác định được ở tỉnh An Giang với
nghiên cứu của các tác giả khác..................................................................27
Bảng 8: Thành phần cá đồng có giá trị kinh tế cao ở tỉnh An Giang.......................32
Bảng 9: Thành phần cá sông có giá trị kinh tế cao ở tỉnh An Giang .......................33
Bảng 10: Thành phần cá vùng ngập lũ có giá trị kinh cao tế ở tỉnh AG..................34
Bảng 11: Thành phần cá kinh tế phân bố ở tỉnh An Giang năm 2008 ....................40
Bảng 12: Các giai đoạn thành thục của cá linh ống theo thời gian..........................48
Bảng 13: Hệ số thành thục của cá linh ống theo thời gian.......................................49
Bảng 14: Sức sinh sản của cá linh ống qua các đợt thu mẫu (n=30) .......................51
Bảng 15: So sánh sức SS của cá linh ống với một số loài cá trong họ cá chép .......52
Bảng 16: Các giai đoạn thành thục của cá chốt sọc theo thời gian..........................55
Bảng 17: Hệ số thành thục của cá chốt sọc theo thời gian.......................................56
Bảng 18: Sức sinh sản của cá chốt sọc trong thời gian nghiên cứu (n=30) .............58
Bảng 19: Các giai đoạn thành thục của cá lăng theo thời gian ................................64
Bảng 20: Hệ số thành thục của cá lăng theo thời gian
.............................................65
Bảng 21: Sức sinh sản của cá lăng trong thời gian nghiên cứu (n=30)....................67
viii
DANH SÁCH HÌNH

Trang
Hình 1: Sản lượng khai thác thủy sản tỉnh An Giang năm 2003 – 2007 .................12
Hình 2: Sản lượng thủy sản nuôi tỉnh An giang năm 2003 – 2007..........................12
Hình 3: Sơ đồ bố trí thu mẫu nguồn lợi thủy sản ở tinh An Giang..........................15
Hình 4: Tỷ lệ (%) số lượng các loài cá thuộc bộ ở tỉnh An Giang...........................25
Hình 5: Thành phần số lượng các loài cá thuộc các họ ở tỉnh An Giang.................25
Hình 6: Cá lau kiếng (Hypostomus plecostomus Linnaeus, 1758) ..........................35
Hình 7: Cá rô phi vằn (Oreochromis niloticus L
innaeus, 1757)..............................37
Hình 8: Cá chim trắng (Colossoma brachypomum Cuvier, 1818)...........................38

ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
TSD: Tuyến sinh dục
GSI : Hệ số thành thục
SSS: Sức sinh sản
TB: Trung bình
T.T.Khoa: Trương Thủ Khoa
T.T.T.Hương: Trần Thị Thu Hương
HSTT: Hệ số thành thục
AG: An Giang1
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU

Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 39.000 km
2
, chiếm khoảng 12% diện
tích cả nước. Đây là một vùng đất có tiềm năng to lớn trong sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp. Hội tụ ở vùng đất này có rất nhiều loài thủy sản giá trị kinh tế cao từ hai
nguồn phân bố tự nhiên và bằng con đường di nhập. Do ngập lụt mùa mưa và nhiễm
mặn mùa khô mà vùng Đồng bằng sông Cửu Long có nguồn lợi tôm cá tự nhiên rất
đa dạng về thành phần loài và phong phú về sản lượng khai thác.
An Giang là tỉnh đầu nguồn của vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích
3.424 km
2
, một phần nằm trong vùng Tứ giác Long Xuyên, phần khác giáp với biên
giới Campuchia. Nguồn lợi thủy sản nước ngọt của tỉnh An Giang được coi là lớn
nhất nước. Nơi đây tập trung nhiều loài cá có xuất xứ từ các nước ở lưu vực sông
Mekong đổ về và của các loài cá sinh sản tại chỗ. Tiềm năng to lớn này, được thiên

- Khảo sát về thành phần các loài cá phân bố ở tỉnh An Giang trong năm 2008.
2
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của 3 loài cá: cá linh ống
Henicorhynchus siamensis (Sauvage, 1881), cá chốt sọc (Mystus mysticetus Robert,
1992), cá lăng (Mystus wyckii Bleeker, 1858) để làm cơ sở phát triển kỹ thuật sinh
sản nhân tạo các đối tượng này.
2. Nội dung
- Xác định thành phần các loài cá phân bố trong các thủy vực tự nhiên nước
ngọt ở huyện An Phú, huyện Tân Châu và thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang trong năm
2008.
- Nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh sản của cá linh ống Henicorhynchus
siamensis (Sauvage, 1881), cá chốt sọc (Mystus mysticetus Robert, 1992), cá lăng
(Mystus wyckii Bleeker, 1858):
○ Quan hệ giữa chiều dài và khối lượng.
○ Các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục.
○ Sức sinh sản tuyệt đối và sức sinh sản tương đối.
○ Hệ số thành thục.
○ Mùa vụ sinh sản.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là nguồn lợi cá nước ngọt phân bố ở tỉnh An Giang.
2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được thực hiện tại Huyện An Phú, Huyện Tân Châu và Thị xã Châu Đốc
tỉnh An Giang.
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Cơ sở lý luận
1.1 Sự đa dạng hóa giống loài cá ở lưu vực sông Mekong
Nguồn lợi thủy sản được coi là nguồn tài nguyên của quốc gia. Sự phong phú về
thành phần giống loài thủy sản có thể được coi như là một chỉ tiêu để đánh giá mức
độ thuận lợi cho sự sống của thủy vực. Tuy nhiên, trong những năm gần đây nguồn

Bảng 2: Danh sách 3 loài cá có nguy cơ tuyệt chủng ở hạ lưu sông Mekong
TT Tên tiếng Việt Tên khoa học
1 Cá tra dầu Pangasianodon gigas Chevey, 1930
2 Cá cháy Lào Tenualasa thibaudeaui (Durand, 1940)
3 Cá trà sóc Probarbus jullieni Sauvage, 1880
1.2. Tình hình nghiên cứu nguồn lợi cá nước ngọt Việt Nam
Ở Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về
nguồn lợi cá nước ngọt của các tác giả: Mai Đình Yên (1978), Mai Đình Yên và ctv
(1992), Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993), Kottelat (2001) và
Kottelat (2004). Trong các nghiên cứu trên, các tác giả đã phân loại, mô tả các loài
thủy sản nước ngọt hiện có trong các loại hình thủy vực ở Việt Nam. Theo Mai Đình
Yên và ctv (1992) thì các loài cá nước ngọt ở Nam bộ có 255 loài thuộc 41 họ của 14
bộ. Còn theo Bộ Thủy sản (1996), khu hệ cá nước ngọt Việt Nam có 544 loài, 228
giống, 57 họ. Theo Kottelat (2001) thì có 268 loài cá nước ngọt phân bố ở khu vực
miền Bắc Việt Nam. Nguyễn Văn Hảo, Ngô Sỹ Vân (2001) và Nguyễn Văn Hảo
(2005) ghi nhận khu hệ cá nước ngọt Việt Nam có trên 700 loài, 243 giống, 58 họ.
Tuy nhiên, theo Fishbase.org (truy cập ngày 25/7/2008) thì ghi nhận chỉ có 625 loài
cá nước ngọt ở Việt Nam. Điều này cho thấy có sự khác biệt về số lượng loài giữa
các tác giả khi khảo sát về khu hệ cá nước ngọt của Việt Nam.

Theo FAO (1999), nguồn lợi thủy sản ở Việt Nam góp phần quan trọng tạo nên
thu nhập cho gần 50% cộng đồng ở vùng nông thôn. Tuy nhiên, sản lượng khai thác
của một số loài đã bị giảm sút đáng kể, với hơn 241 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng
(Nguyễn Văn Chiê
m, 2002). Số loài có giá trị kinh tế bị đe dọa cao hơn gấp 9 lần so
với trước năm 1990 (Phạm Thành, 2002). Nguyên nhân là do khai thác với cường độ
cao, ô nhiễm môi trường, phá hủy môi trường sống và nơi sinh sản của các loài thủy
sản (Bộ Thủy sản, 2005). Trong khi đó, để có được một hệ sinh thái bền vững nhằm
khai thác ổn định nguồn lợi trong hệ sinh thái đó, điều quan trọng là phải duy trì tính
đa dạng về thành phần loài (Charles, 2001). Ngoài ra, King (1995) cũng cho thấy

xuất hiện ở ĐBSCL. Vì vậy, cần sớm định hướng nghiên cứu về đặc điểm sinh học
của loài cá này nhằm phục vụ cho nghề nuôi của ĐBSCL.
Ngoài các nghiên cứu về sự phân bố, thành phần giống loài như đã nêu ở trên,
một số nghiên cứu khác về đặc điểm sinh học như: Nguyễn Bạch Loan (2004) nghiên
cứu một số chỉ tiêu sinh học cá ngát (Plotosus canius Hamiton, 1822) đã khẳng định
mùa vụ sinh sản của cá ngát là mùa mưa và thường đẻ rộ vào tháng 5, 6 và 7 hàng
năm. Sức sinh sản của cá ngát không cao, sức sinh sản tương đối d
ao động từ
1.480 – 2.076 trứng/kg cá cái. Nguyễn Văn Triều và ctv (2004) nghiên cứu đặc điểm
sinh học cá kết (Kryptopterus bleekeri Günther, 1864) đã cho biết, cá sinh sản 2
lần/năm vào tháng 6 – 7 và 10 – 11, sức sinh sản tương đối trung bình của cá kết là
10 – 70 trứng/g cá cái (tương ứng với khối lượng thân 201g đến lớn hơn 400g). Năm
2006, Phan Thị Thanh Vân khi nghiên cứu sinh học sinh sản của lươn đồng
(Monopterus albus) đã đi đến kết luận: lươn đồn
g là loài lưỡng tính tính cái xuất hiện
trước, chỉ tồn tại một tuyến sinh dục trong xoang bụng, lươn có chiều dài nhỏ hơn
30cm đa số là lươn cái, chiều dài lớn hơn 50cm lươn đực chiếm tỷ lệ cao, ở khoảng
chiều dài 40 – 50cm xuất hiện phase lưỡng tính; mùa vụ sinh sản của lươn tập trung
vào tháng 5 hàng năm và đẻ rãi rác quanh năm, sức sinh sản tương đối cao nhất
56.771 trứng/ kg). Ngoài ra, đặc điểm sinh học cá leo (Wallago attu) cũng được Phan
Phương Loan (2006) nghiên cứu tại An Giang, kết quả cho thấy cá leo chỉ sinh sản
một lần trong năm, mùa vụ sinh sản của cá tập trung vào các tháng 5, 6, 7; sức sinh
5
sản tương đối trung bình của cá leo là 58.821 trứng/kg cá cái (tương ứng với khối
lượng thân trung bình là 1.959g). Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học của các loài cá
trên là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu tiếp theo về sinh sản nhân tạo, đặc biệt
nghiên cứu sinh học sinh sản của lươn đồng sẽ góp phần quan trọng tạo ra con giống
cung cấp kịp thời cho nhu cầu nuôi lươn thương phẩm hiện nay.
Ngoài những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, nghiên cứu về sản xuất giống các
loài cá và đánh giá nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng được quan tâm. Năm 2007,

An Giang (tính từ Thành phố Long Xuyên) cách Thành phố Cần Thơ 65km, Thành
phố Hồ Chí Minh 190km và Thủ đô Phnompenh 150km.
An Giang có các đơn vị hành chính: Thành phố Long Xuyên, Thị xã Châu Đốc
và 9 huyện (An Phú, Tân Châu, Châu Phú, Phú Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu
Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới).
1.3.1.2 Hệ thống thủy vực ở An Giang
Hệ thống sông
Sông Mekong chảy vào Việt Nam và tách thành 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu.
Sông Tiền đi qua địa giới tỉnh An Giang 87km và sông Hậu chảy ngang qua tỉnh
100km theo hướng Tây Bắc – Đông Nam và đổ ra biển.
Hệ thống rạch tự nhiên
Ngoài các sông lớn, An Giang còn có một hệ thống rạch tự nhiên rải rác khắp
địa bàn của tỉnh, với độ dài từ vài km đến 30 km, độ rộng từ vài m đến 100m và độ
uốn khúc quanh co khá lớn. Các rạch trong khu vực giữa sông Tiền và sông Hậu
thường lấy nước từ sông Tiền chuyển sang sông Hậu. Các rạch nằm trong hữu ngạn
6
sông Hậu thì lấy nước từ sông Hậu chuyển sâu vào nội đồng vùng trũng Tứ giác
Long Xuyên.
Những rạch lớn hiện có ở An Giang gồm Mương Khai, Cái Đầm, Cái Tắc
(huyện Phú Tân), Ông Chưởng và Cái Tàu Thượng (huyện Chợ Mới), Long Xuyên
(thành phố Long Xuyên), Chắc Cà Đao và Mặc Cần Dưng (huyện Châu Thành) và
rạch Cần Thảo (huyện Châu Phú). Trong đó rạch Ông Chưởng và rạch Long Xuyên
là 2 rạch quan trọng, khá dài, rộng và sâu hơn các rạch còn lại.
Rạch Ông Chưởng: có hình dạng uốn khúc như mình rồng, lấy nước sông Tiền
ngay đầu thị trấn Chợ Mới, chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam trên chiều dài
20km, chia huyện Chợ Mới thành 2 khu vực nằm ở phía Đông và Tây của rạch này,
cuối cùng đổ nước vào sông Hậu tại đỉnh cua cong của cù lao Mỹ Hòa Hưng. Rạch
Ông Chưởng có độ rộng gần 100m và sâu hơn 8m, khả năng tải nước mùa lũ ở mức
800m
3

Phú Vĩnh nối liền kênh Vĩnh An đến rạch Cái Đầm dài 25km, rộng 6m và sâu 3m, để
tưới tiêu cho toàn huyện.
Kênh Vàm Xáng: Đào từ năm 1914 – 1918. Kênh Vàm Xáng cách kênh Vĩnh An
4 km

về phía thượng lưu, để lấy nước sông Tiền bổ sung cho sông Hậu, đồng thời tạo
ra trục giao thông mới thay cho kênh Vĩnh An. Ban đầu kênh dài 9km, rộng 30m và
7
sâu 6m, sau do cửa đổ nước có lợi thế tạo ra được độ dốc dòng chảy lớn, nên đến nay
kênh có độ rộng trên 100m, sâu trên 20m.
1.3.1.3 Khí hậu
Điều kiện địa lý
Vĩ độ địa lý của An Giang nằm trong khoảng 10 – 11
0
vĩ bắc, tức là nằm gần với
xích đạo, nên các quá trình diễn biến của nhiệt độ cũng như lượng mưa đều giống với
khí hậu xích đạo.
Điều kiện hoàn lưu khí quyển
An Giang chịu ảnh hưởng của 2 mùa gió là: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông
Bắc. Gió Tây Nam mát và ẩm nên gây ra mùa mưa. Gió mùa Đông Bắc thổi vào An
Giang xuất phát từ biển nhiệt đới phía Trung Quốc, nên có nhiệt độ cao hơn vùng
băng tuyết Siberi và có độ ẩm lớn hơn, không tạo ra rét, mà chỉ hanh khô, có phần
nắng nóng.
Các yếu tố khí tượng
Mây: Lượng mây ở An Giang tương đối ít. Trong mùa khô, có khi trời có mây
nhưng vẫn nắng. Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn. Lượng mây trung
bình tháng của các tháng mùa khô là 3,1/10 và của các tháng mùa mưa là 6,9/10.
Nắng: An Giang có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng
trong năm lớn kỷ lục của cả nước. Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ngày; mùa
mưa tuy ít hơn nhưng cũng còn tới gần 7 giờ nắng/ngày. Tổng tích ôn cả năm lên

lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng, nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất
hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao.
Độ ẩm: Ở An Giang, mùa có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu từ tháng
12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô.
Mùa khô độ ẩm ở thời kì đầu là 82%, giữa 78% và cuối còn 72%.
8
Mùa mưa ở đây thật sự là một mùa ẩm ướt. Độ ẩm trung bình trong những tháng
mùa mưa đều 84%, cá biệt có tháng đạt xấp xỉ 90%.
Đặc điểm khí hậu của An giang cơ bản là rất thuận lợi cho sự phát triển nông
nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, cần chú ý là thời tiết vào những tháng cuối
mùa khô (tháng 3 – 4) thường kéo theo các lung bàu vùng ngập thường bị cạn khô
nước, các vùng cư trú của nhóm cá đồng bị đe dọa, cho nên cần phải có những giải
pháp hữu hiệu để tạo ra nơi cư trú trong mùa khô chờ thời gian mưa lũ tới
1.3.1.4 Thủy văn
Dòng chảy mùa lũ
Lũ đầu mùa: Tháng 7 và tháng 8 hàng năm thường có các nhiễu động nhiệt đới
hoạt động gây mưa to và dài ngày làm xuất hiện những trận lũ đầu mùa ở cả trung và
hạ lưu sông Mekong. Vào thời gian này, trên địa bàn An Giang do nước sông còn
chảy gọn trong lòng chính nên khả năng tập trung lũ nhanh, làm
xuất hiện các trận lũ
đầu mùa dọc sông Tiền và sông Hậu lên với cường suất từ 10cm/ngày đến
20cm/ngày, biên độ lũ có năm lên tới 2,5m. Khi đạt tới đỉnh lũ đầu mùa, mực nước
sông xuống chậm trong khoảng 10 đến 15 ngày với biên độ xuống xấp xỉ 1m, rồi tiếp
tục lên cho tới khi đạt đỉnh lũ lớn nhất năm.
Lũ lớn nhất trong năm: Khu vực phí
a trên Vàm Nao đa số lũ lớn nhất năm xảy
ra vào tháng 9 và 10, còn khu vực phía dưới Vàm Nao do ảnh hưởng của sự phân
chia nước và thủy triều nên lũ lớn nhất năm xảy ra muộn hơn khoảng từ 10 ngày đến
1 tháng.
Lũ lớn nhất xảy ra ở An Giang vào 1961 với mực nước đỉnh lũ tại Tân Châu là

3
/s, của sông Hậu qua mặt cắt
Châu Đốc biến thiên từ 200m
3
/s đến 350m
3
/s.
Chế độ thủy văn của sông Tiền và sông Hậu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi
thủy sản tỉnh An Giang. Các yếu tố thủy văn sông Mekong có ảnh hưởng rất lớn đến
lượng cá bột trôi dạt về phía hạ lưu. Những năm có lũ về sớm và lớn thì lượng cá bột,
cá con về An Giang nhiều và sản lượng khai thác thủy sản tự nhiên của An Giang
năm đó sẽ tăng cao hơn
1.3.1.5 Mặn và chua phèn
Do nằm gần đầu nguồn nước sông Cửu Long và cách xa biển gần 200km, nên
An Giang vào những năm cạn kiệt, dòng mặn từ biển Đông theo sông Tiền và sông
Hậu không có khả năng xâm nhập vào. Gặp các năm lũ nhỏ, nguồn ngọt ít, mùa khô
năm sau có triều mạnh và gió chướng hoạt động dài ngày thì mặn ở biển Tây theo
kênh Ba Thê, Rạch Giá-Long Xuyên và Tám Ngàn mon men ranh giới 2 tỉnh An
Giang và Kiên Giang với độ mặn 4‰.
Chua phèn ở An Giang tập trung chủ yếu ở 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn, vùng
có nguồn gốc từ đất phèn. Vào đầu mùa mưa, các trận mưa đầu đã làm tan vỡ các
váng phèn được đọng lại và tích lũy trong suốt mùa khô trên bề mặt đồng ruộng, rồi
mang tải vào các lòng sông kênh làm ô nhiễm nguồn nước trong các tháng 5, 6, 7, và
8 với độ pH phổ biến từ 2 - 4, sau đó được dòng lũ tràn qua loãng dần mang tải tiêu
thoát ra biển Tây.
1.3.1.6 Đất đai
An Giang là một tỉnh đầu nguồn sông Cửu Long, là một trong những tỉnh có
diện tích đất canh tác lớn nhất trong vùng ĐBSCL. Tổng diện tích đất nông nghiệp là
246.821 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm hơn 82%. Đất An Giang hình thành qua quá
trình tranh chấp giữa biển và sông ngòi, nên rất đa dạng. Mỗi một vùng trầm tích

Bao đê rất cần thiết cho sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc bao đê lại ngăn
chặn lượng phù sa, các chất dinh dưỡng cung cấp cho đồng ruộng. Hơn nữa, đê bao
còn ngăn chặn việc di cư dinh dưỡng và di cư sinh sản của một số loài cá và do đó sẽ
ảnh hưởng phần nào đến sản lượng cá khai thác tự nhiên.
1.3.2 Hiện trạng nghề cá và nguồn lợi cá nước ngọt ở tỉnh An Giang
Nguồn lợi cá nước ngọt tự nhiên ở tỉnh An Giang có liên quan mật thiết đến các
khu vực cư trú cũng như bãi đẻ của cá thuộc lưu vực sông Mekong trên lảnh thổ
Campuchia như Stung Streng, Kratie, Tonle Sap, Biển Hồ...Hàng năm, vào đầu mùa
lũ khoảng tháng 5 âm lịch, khi nước thượng nguồn sông Mekong chảy về hạ lưu đổ
vào Việt Nam và mực nước bắt đầu tăng lên, cũng là mùa sinh sản tập trung của các
loài cá trên thượng nguồn, cá bột và cá con di chuyển và bị cuốn trôi về phía hạ lưu.
Sau đó đàn cá con theo dòng nước phân tán vào sông rạch, vùng ngập lũ để sinh
trưởng và phát triển. Nguồn lợi cá con này có ý nghĩa rất lớn trong việc phục hồi và
duy trì nguồn lợi cá nước ngọt ở An Giang nói riêng và vùng ĐBSCL nói chung.
Rất nhiều loài cá ở sông Cửu Long di cư lên thượng nguồn để sinh sản vào đầu
mùa lũ, nhưng vị trí bãi đẻ gần như chưa được biết chính xác. Nhìn chung chỉ có nơi
đẻ của một số loài thuộc nhóm cá đen là được biết đến trong các ruộng cạn hoặc
trong các vùng ngập tương tự. Nhiều loài cá thuộc họ Pangasiidae như cá tra, cá
basa…theo các nhà khoa học cá đẻ trứng tại các vùng ngập ven dòng chính nhưng
thực tế điều này cũng rất khó kiểm chứng vì nước chảy mạnh và rất đục vào mùa lũ.
Từ các bãi đẻ này, ấu trùng trôi theo dòng nước vào các vùng ngập vùng ven hạ lưu,
ở đó cá bột sẽ phát triển cho đến cuối mùa lũ thì di cư trở về dòng chính qua các
kênh, rạch.
Vùng An Giang khi nói đến mùa cá bột và cá con cũng đồng nghĩa với mùa lũ
bắt đầu, do đó mùa vụ sinh sản của các loài cá trên dòng chính sông Mekong đồng
pha với chu kỳ lũ hàng năm. Đa số loài cá đẻ trứng vào đầu mùa lũ đảm bảo cho cá
con có thể di cư vào vùng ngập, nơi có thức ăn phong phú. Một số loài cá sinh sản
ngay tại vùng ngập và cá con có thể tìm thấy thức ăn ngay khi mới nở.
Đặc điểm di cư của các loài cá trên dòng chính sông Mekong là sự di cư được
điều khiển bởi sự thay đổi theo mùa của môi trường nơi sinh sản và nơi cá có thể cư

(Nguyễn Thanh Tùng và ctv., 2007).
Nếu so sánh sản lượng khai thác của năm 2007 là 52.000 tấn với năm 2003 là
67.473 tấn thì sản lượng khai thác sau 5 năm giảm sút đi 22,93%, bình quân mỗi năm
giảm gần 4,59%, đó là sự cảnh báo suy thoái về nguồn lợi thủy sản. Đây là vấn đề
cần quan tâm
trong công tác quy hoạch phát triển ngành thủy sản trong thời gian sắp
tới của An Giang.
Bảng 3: Sản lượng khai thác thủy sản tỉnh An Giang từ 2003 – 2007
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Sản lượng khai thác (tấn) 67.473 58.062 51.329 53.400 52.000
(Nguồn: Sở Thủy sản An Giang)
12
0.000
20.000
40.000
60.000
80.000
2003 2004 2005 2006 2007
Năm
Sả n lượng (Tấ n)
Thủy sản được xác định là thế mạnh ở An Giang, cho nên nghề nuôi cá bè, nuôi
cá ao, nuôi tôm cá trong ruộng lúa rất phát triển. Sản lượng nuôi trồng thủy sản hàng
năm của An Giang chiếm một tỷ trọng đáng kể trong khu vực ĐBSCL và có xu thế
ngày một gia tăng. Sản lượng nuôi trồng thủy sản liên tục tăng theo hàng năm, năm
2003 sản lượng đạt 151.231 tấn, nhưng đến năm 2007 sản lượng đã tăng lên 263.592
tấn. Như vậy, trong 5 năm sản lượng nuôi trồng thủy sản đã tăng lên 112.361 tấn,
bình quân tăng 22.472,2 tấn/năm

nhóm chính: nhóm cá đen gồm các loài có giá trị kinh tế như cá trê, cá lóc, cá rô
đồng, cá sặc…các loài này phân bố ở các dạng thủy vực nước ngọt, chủ yếu trên nội
đồng và nhóm cá trắng như cá mè vinh, cá linh, cá dảnh, cá he, cá mè hôi…các loài
này phân bố ở hầu hết các dạng thủy vực nước ngọt chủ yếu trên thủy vực nước chảy
như sông, kênh mương ở các khu vực khảo sát. Sự phân bố của các loài này phụ
thuộc vào nước lũ trong năm. Các loài cá này tăng trọng nhanh trong mùa lũ, và sản
lượng khai thác thì năm nào lũ về nhiều thì sản lượng đánh bắt của bà con tăng lên và
ngược lại.
Một điều tra sơ bộ về nghề cá ở An Giang, đã xác định sản lượng thủy sản đánh
bắt (bao gồm bất kỳ cách thức thu nhặt hay đánh bắt với bất kỳ loại thủy sản nào)
theo khu vực, theo ngư trường, theo hoạt động, theo ngư cụ và các loài thủy sản quan
trọng ở các mức nông hộ và cá nhân. Tổng số 76 loài và nhóm loài đã được quan sát
và định danh. Chỉ có một loài chiếm ưu thế trong đánh bắt là Cirrhinus jullieni (cá
linh ống). Kết quả này có thể bị ảnh hưởng bởi sự di cư tự nhiên của loài này và các
sự di cư như vậy rất phổ biến ở thời điểm tiến hành khảo sát (Viện nghiên cứu nuôi
trồng thủy sản II, 2000). Đây cũng chính là sự cần thiết phải tiến hành cập nhật thành
phần giống loài cá ở tỉnh An Giang trong giai đoạn hiện nay.
Việc bao đê để ổn định đời sống và sản xuất của nhân dân trong mùa lũ ở một số
khu vực của An Giang cũng có ảnh hưởng đến thành phần loài, một số loài cá có
khuynh hướng giảm và tiến tới mất dần khi đánh bắt trên đồng. Bao đê còn ảnh
hưởng đến kích cỡ cá và sản lượng cá khai thác được, tất cả 100% người dân trên địa
bàn nghiên cứu đều cho rằng kích cỡ cá đánh bắt được sau khi bao đê nhỏ hơn trước
đây, và sản lượng cũng giảm sút đi rất nhiều (Dương Văn Nhã, 2006).
Nguyễn Thanh Tùng và ctv (2007) đã xác định được 130 loài cá thuộc 40 họ và
13 bộ hiện diện trên địa bàn tỉnh An Giang. Chiếm ưu thế nhất là bộ Cypriniformes
với 46 loài, chiếm 35,38%; kế đến là bộ Siluriformes với 33 loài, chiếm 25,38% và
sau cùng là bộ Perciformes với 27 loài hiện diện chiếm 20,77%; còn lại là các loài
khác. Loài cá kinh tế chiếm 51 loài đạt 38%, đàn cá tạp trội hơn so với đàn cá kinh
tế. Với 40 họ cá được ghi nhận thì có một số họ chiếm ưu thế về số loài như họ
Cyprinidae có số lượng loài lớn nhất với 39 loài chiếm 30% tổng số 130 loài được

lượng khai thác…) ở tỉnh An Giang vẫn chưa được coi trọng. Các tài liệu chính
thống đề cập đến những vấn đề trên còn rất hạn chế và có nhiều khác biệt.
Qua đó, có thể khẳng định:
- Kết quả khảo sát về thành phần các loài cá của các tác giả trên địa bàn tỉnh
An Giang còn có sự khác biệt.
- Sản lượng khai thác cá tự nhiên đang bị giảm dần.
- Chưa có nhiều những nghiên cứu và đánh giá khoa học đầy đủ về nguyên
nhân sản lượng khai thác đang bị giảm.
- Chưa có khảo sát cụ thể để tiến hành cập nhật về thành phần loài và đặc điểm
sinh học của một số loài cá kinh tế đang phân bố trong tỉnh.
- Chưa có những giải pháp quản lý và sử dụng ổn định nguồn lợi thủy sản của
tỉnh An Giang.
Đây là vấn đề cần được giải quyết, đặt ra cho các nhà sinh học nói chung và các
nhà nuôi trồng thủy sản nói riêng nhằm hỗ trợ cho việc quản lý và sử dụng nguồn lợi
ở tỉnh An Giang được tốt hơn, ổn định hơn.
2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: thu mẫu nguồn lợi phân bố trên các thủy vực tự
nhiên (sông rạch, nội đồng, vùng ngập lũ) trong phạm vi huyện An Phú, huyện Tân
Châu và Thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang.
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 02 năm 2008 đến tháng 01 năm 2009.
Định kỳ mỗi tháng thu mẫu 1 lần.
2.2 Vật liệu nghiên cứu
- Mẫu thành phần các loài cá thu
tại các điểm được chọn khảo sát ở tỉnh An
Giang.
- Vật liệu bảo quản và phân tích mẫu thành phần các loài cá.
2.3 Phương pháp nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status