Khảo sát thành phần loài và mật độ phytoplanton trong ao nuôi cá tra thâm canh ở Cồn Khương-Cần Thơ - Pdf 11

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ
KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG


 


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
MÃ SỐ: 304
ĐỀ TÀI
KHẢO SÁT THÀNH PHẦN LOÀI VÀ MẬT
ĐỘ PHYTOPLANKTON TRONG AO NUÔI
CÁ TRA THÂM CANH TẠI CỒN KHƯƠNG –
CẦN THƠ
Sinh viên thực hiện
BÙI THỊ KIM TIỀN
MSSV: 06803050
Lớp: Nuôi Trồng Thủy Sản K1 CẦN THƠ, 2010
ii


BÙI THỊ KIM TIỀN
MSSV: 06803050
Lớp: Nuôi Trồng Thủy Sản K1

iii

CAM KẾT KẾT QUẢ
Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả của của tôi và
các kết quả nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ luận văn cùng cấp nào
khác.

Ký tên BÙI THỊ KIM TIỀN
Ngày……………….



PGs.Ts. NGUYỄN VĂN BÁ

v

LỜI CẢM TẠ
Sau 3 tháng thu mẫu từ tháng 4 đến 6 năm 2010 tại Cồn Khương Thành Phố Cần
Thơ, áp dụng những kiến thức đã học kết hợp với những kinh nghiệm thực tế, nay
luân văn đã được chỉnh sửa và hoàn thành.
Em xin cám ơn thầy Nguyễn Hữu Lộc – Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại
Học Tây Đô đã tận tình hướng dẫn cho em trong suốt thời gian làm đề tài.
Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô – Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường
Đại Học Tây Đô đã hướng dẫn và chuyền đạt cho em những kiến thức quý báo
trong những năm học vừa qua, tạo dụng hành trang để bước vào cuộc sống.
Xin cảm ơn tất cả các Chú và các anh ở các ao nuôi ở Cồn Khương đã tạo điều
kiện giúp đở cho em hoàn thành các đợt thu mẫu được thuận lợi.
Cuối cùng em xin chúc quý Thầy Cô – Khoa Sinh Học Ứng Dụng – Trường Đại
Học Tây Đô vui, khỏe, công tác tốt và không ngừng cống hiến cho sự nghiệp giáo
dục.
Với sự hiểu biết còn hạn hẹp và thu thập tài liệu còn hạn chế nên báo cáo tốt
nghiệp không tránh khỏi sự sai sót. Kính mong được sự đóng góp ý kiến của quý
Thầy Cô và các bạn. Em xin chân thành cảm ơn và ghi nhớ!
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 8
3.2.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu 9
Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 10
4.1 Định tính Phytoplankton và sự biến động thành phần loài 10
4.1.1 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 1 10
4.1.2 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 2 12
4.1.3 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 3 13
vii

4.2 Định lượng Phytoplankton 16
4.2.1 Mật độ và sự biến động của Phytoplankton trong ao 1 16
4.2.2 Mật độ và sự biến động của Phytoplankton trong ao 2 18
4.2.3 Mật độ và sự biến động của Phytoplankton trong ao 3 20
Chương 5 KẾT LUẬN 22
TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
PHỤ LỤC A
aeruginosa (Cyanophyta): Pediastrum biradiatum, Pediastrum boryanum var.
boryanum, Scenedesmus obliquus, Scenedesmus dimorphus, Sphaerocystis
schroeteri,

Synechocystis aquatilis (Chlorophyta.
Một số loài có mật độ cao trong ao là Scenedesmus dimorphus, Pediastrum
biradiatum (Chlorophyta); Microcystis aerinosa (Cyanophyta); Coscinodiscus
subtilis (Ochrophyta)
ix

DANH SÁCH BẢNG

Trang
Bảng 4.1: Thành phần loài Phytoplankton ở các ao trong các đợt thu 15
Bảng 4. 2: Định lượng phytoplankton (đơn vị ct/lít) 16
Bảng 4.3: Số lượng Phytoplankton trong ao 1 (ct/lít) 17
Bảng 4.4: Số lượng Phytoplankton trong ao 2 (ct/lít) 18
Bảng 4.5: Số lượng Phytoplankton trong ao 3 (ct/lít) 20


xi

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮC
ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long
Ctv: cộng tác viên
TP: thành phố
Ct/ml: cá thể trên mililit
HCTG: Hội chứng teo gan
UBND:Ủy ban nhân dân
NXB: nhà xuất bản

ĐHCT: Đại Học Cần Thơ

1

CHƯƠNG 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Giới Thiệu
Trong ao nuôi cá tra thâm canh, tảo góp phần cung cấp oxy, hấp thu bớt lượng khí độc
gây bất lợi cho cá, làm giảm chất hữu cơ từ thức ăn thừa, do khả năng hấp thụ thức ăn
(N, P, C) của cá rất thấp, mà tảo muốn phát triển thì cần phải có các chất đó (Lê Văn
Cát, 2006). Mặt khác tảo còn góp phần cân bằng hệ sinh thái và làm thức ăn tự nhiên
cho động vật thủy sản lúc còn nhỏ, nếu phát triển ở mức độ vừa phải, tảo cũng góp


LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Vai trò của tảo trong ao nuôi cá
Tảo là thực vật nhỏ có khả năng quang hợp, sống lơ lững trong nước. Theo Dương
Đức Tiến, 1996, Việt Nam có tới 1402 loài tảo, trong đó tảo lục có 530 loài, tảo silic
có 388 loài, tảo lam 344 loài, tảo mắt 78 loài, tảo giáp 30 loài, tảo vàng 14 loài, tảo
vòng 9 loài, tảo roi lệch 5 loài, tảo đỏ 4 loài. Mật độ thực vật nổi bình quân dao động
từ 179.767 – 401.611 cá thể/lít.
Vũ Trung Tạng (1994) nghiên cứu về thành phần loài tảo của hệ sinh thái Đồng Bằng
Sông Cửu Long đã phát hiện 278 loài tảo, trong đó tảo khuê chiếm 78,43%, tảo giáp
chiếm 20% và phần còn lại là tảo lam.
Những lợi ít của tảo trong nuôi trồng thủy sản (Lê Văn Cát, 2006) là tạo ra nguồn
năng lượng sơ cấp cho nuôi trồng thủy sản: tảo sử dụng sắc tố quang hợp chlorophyll
và một số chất khác hấp thụ ánh sáng để biến đổi thành năng lượng hóa học dự trữ và
một số chất khử khác dùng để khử carbon dioxit (CO
2
) thành dạng carbon hữu cơ dưới
dạng đường đơn. Tạo ra nguồn chất hữu cơ làm thức ăn cho động vật thủy sản như các
loài thuộc ngành tảo lục, tảo lam, tảo silic có hàm lượng protein và vitamin rất cao,
như Chlorella, Sketetonema, Chaetoceros, Spirulina,…còn nhiều loại tảo khác có mặt
trong ao làm thức ăn cho các loại Copepoda, Cladocera,…và cung cấp lượng oxy dồi
dào cho động vật thủy sản.
Dùng tảo để làm chất chỉ thị cho môi trường ao nuôi, tảo có vai trò rất quan trọng
trong quá trình tự làm sạch thuỷ vực bị nhiễm bẩn như: tảo lam, tảo mắt thường xuất
hiện ở môi trường nước thải giàu dinh dưỡng. Tảo là nguồn tiêu thụ lượng đạm vô cơ
mạnh nhất trong môi trường nuôi, trong các thành phần đạm vô cơ thì tảo hấp thu
nhiều nhất là amoni, chúng có thể làm giảm nồng độ của các chất trên tới 1- 2
mgN/m
3

loại môi trường là rất tốt.
Theo Lam Mỹ Lan và csv. (2003), trong các ao nuôi kết hợp có bón phân ở xã Tân
Phú Thạnh-Cần Thơ, tảo phát triển với 4 nhóm ngành chính: tảo Lục, tảo Mắt
(Euglenophyta), tảo Khuê (Bacillariophyta) và tảo Lam trong đó tảo Lục (33-38,4%)
và tảo Mắt (24,2-36,9%) chiếm ưu thế.
Theo Robarts & Zohary (1987), ở nhiệt độ trên 25
o
C phần lớn tảo Lam có tốc độ phát
triển cao nhất, nhiệt độ này cao hơn nhiệt độ tối ưu của nhóm tảo Lục và tảo Khuê.
Ðiều này giải thích tại sao phần lớn tảo Lam nở hoa trong suốt mùa hè.
Nguyễn Khắc Lâm và csv (2007), nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tảo độc trong ao
nuôi và hàm lượng Aflatoxin (B1) trong thức ăn tới hội chứng teo gan (HCTG) ở tôm
sú, kết quả đã phát hiện 5 loài tảo nằm trong danh sách tảo độc có trong hệ thống ao
nuôi tôm Ninh Thuận, bao gồm: Trichodesmium erythraeum; Trichodesmium
thiebautii; Prorocentrum micans; Alexandrium sp và Dinophysis sp.
Lê Thị Thanh Hương và csv (2000), nghiên cứu về chất lượng nước và vi tảo ở một số
hồ ở Hà Nội bị ô nhiễm và những ảnh hưởng của chúng tới nghề nuôi trồng thủy sản.
Kết quả phân tích cho thấy quần thể tảo trong các hồ khá phong phú, bao gồm 218
loài thuộc 4 ngành chủ yếu là tảo Lam, tảo Lục, tảo Mắt, tảo Silic; còn các ngành tảo
ưa môi trường sạch như tảo Giáp, tảo Vàng, tảo vàng Ánh hoàn toàn không có mặt.
4

Theo Lewis (1978), nghiên cứu trên hồ Lanao ở Philippines thấy rằng, khi môi trường
có dinh dưỡng thấp, thông thường tảo Khuê và lớp tảo Giáp phát triển trước tiên. Khi
các chất dinh dưỡng tăng, tiếp nối sẽ là tảo Lục đến tảo Lam và sau đó là lớp tảo Giáp
hai roi.
Hình 2.1: Sự phát triển kế tiếp nhau của các quần thể tảo

khả năng làm giảm tối đa khoảng 60% lượng PO
4
3-
nhưng không ảnh hưởng đến sự
tăng trưởng của tôm.
2.3 Một vài đặc điểm của các ao nuôi cá tra thâm canh
Hiện nay việc nuôi cá tra chủ yếu cung cấp cho thị trường xuất khẩu vì vậy chất lượng
thịt cá phải đảm bảo. Chính vì thế môi trường ao nuôi cần phải được cải tạo tốt, nguồn
nước không bị ô nhiễm, hàm lượng oxy hoà tan >2ppm, pH phải ổn định từ 7 – 8,5 và
nguồn thức ăn phải có chất lượng cao. Theo Bùi Quang Tề (2006), sau khi cải tạo ao
cần cho nước vào khoảng 1-1,2m để gây màu nước (cho tảo phát triển) rồi mới thả cá.
Màu nước sẽ giúp ta biết được thành phần giống loài của phiêu sinh vật, sự phát triển
của tảo trong ao cũng góp phần ổn định môi trường. Theo Huỳnh Văn Đại và csv.
Bacillariophyta Chlorophyta Cyanophyta
Pyrrophyta (nước lợ)
Euglenophyta (nước ngọt)
Số lượng
Thời gian và mức dinh dưỡng

5

(2002) thực vật phù du trong ao cá tra có 79 loài. Thành phần loài trong các thuỷ vực
của sông, ao nuôi và ao thải từ nuôi cá tra thâm canh phong phú dao động từ 7- 30 loài
tảo, trung bình từ 12- 20 loài trong đó nhóm tảo Lục chiếm ưu thế 56,1%, kế đến là
các nhóm tảo Ochrophyta (24,6%), Euglenophyta (15,65%), Cyanophyta (3,65%).
Mật độ tảo trong hệ thống nuôi cá tra thâm canh dao động từ 47.150- 7.000.867 cá
thể/lít. Một số loài thường gặp là Melosira granulata (Ochrophyta), Actinastrum
gracillium, Coeastrium microsporum, Pediastrum simplex, Pediastrum duplex,
Pediastrum tetras, Scenedesmus acuminatus, Scenedesmus bijugatus (Chlorophyta),
Phacus alata (Euglenophyta), Spirulina major (Cyanophyta).

tra, ba sa có trọng lượng từ 12g đến 200g phân bổ thức ăn trong ngày từ 8 đến
10%/trọng lượng đàn cá; từ 200-300g phân bổ từ 6-7%; từ 300-700g phân bổ 4-5%; từ
800-1,1kg phân bổ từ 1,5-3%/trọng lượng đàn cá. Với công thức này, chúng ta vừa
giảm lượng thức ăn cho cá, giảm chi phí, hạn chế ô nhiễm môi trường nước mà cá vẫn
phát triển bình thường, đảm bảo trọng lượng khi thu hoạch
2.4 Tình hình nuôi cá tra thâm canh ở Cần Thơ
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, kỹ thuật không ngừng cải tiến giúp nghề nuôi cá tra

6

đã phát triển khá mạnh tại vùng ĐBSCL. Năm 2003 diện tích nuôi cá tra của ĐBSCL
là 2.792 ha đến 2007 lên tới 5.429 ha; tốc độ tăng trưởng bình quân là 18,1%/năm.
Cần Thơ là một trong những địa phương có diện tích và sản lượng cá tra lớn tại
ĐBSCL, có diện tích nuôi cá tra (1.569 ha) (Theo thống kê của sở nông nghiệp nông
thôn Cần Thơ, 2003).
Năm 2008, diện tích thả giống cá tra của Cần Thơ đã tăng lên 1.331 ha mặt nước,
trong khi theo quy hoạch phát triển của ngành nông nghiệp thành phố Cần Thơ trước
đây, cho đến năm 2010, diện tích nuôi cá tra trên địa bàn mới đạt 1.000 ha. Ðây là
những vấn đề đang gây bất ổn cho nghề nuôi cá tra hiện nay và nhất là ở Côn Khương
là khu vực mới phát triển nghề nuôi thủy sản cần được chú ý quan tâm để tránh tình
trạng phát triển ồ ạt không theo quy hoạch sẽ làm ô nhiểm môi trường (Theo
vietlinh.com).
7

Chương 3
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Địa điểm và thời gian thu mẫu


8

3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Lưới phiêu sinh thực vật mắt lưới 25-27µm.
Xô nhựa 14 lít, ca nhựa.
Chai nhựa 100 ml
Chai nhựa 1 lít.
Ống nhỏ giọt.
Bút lông dầu.
Kính hiển vi độ phóng đại 10X, 40X,100X.
Lame, lamelle.
Ống đong.
Buồng đếm Sedgwick Rafter.
Một số dụng cụ khác trong phân tích…
Tài liệu phân loại thực vật thủy sinh tại Phòng thí nghiệm Sinh hóa- Thủy sản.
Formol thương mại 38%.
3.2.2 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu
Định tính: Dùng lưới phiêu sinh (mắt lưới 27 µm) kéo lưới ở 4 gốc ao và 1 điểm giữa
ao. Cố định mẫu phytoplankton tại chổ bằng formol 4% tại chổ, đem mẫu về phòng
thuỷ sinh phân tích trên kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 10X, 40X, 100X và sử
dụng tài liệu phân loại phiêu sinh thực vật phân loại đến các loài.
Tài liệu phân loại: A.Shirota (1966); Dương Đức Tiến và ctv. (1997) và Dương Đức
Tiến (1996).
Định lượng: Mẫu sẽ được thu tại 4 điểm gốc ao và 1 điểm giữa ao, mẫu nước được
trộn đều, lấy đầy nước vào chai nhựa 100 ml, cố định bằng formol 4% đem về phòng
thí nghiệm phân tích mẫu. Mẫu sau khi thu được cô đặc lại hoặc pha loãng cho thích
hợp và dùng buồng đếm Swedgwick Rafter để định lượng mật độ phytoplankton theo
từng ngành. 10Chương 4
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 Định tính Phytoplankton và sự biến động thành phần loài
Kết quả phân tích định tính trong ao cá tra ở Cồn Khương thu được 224 loài
Phytoplanton thuộc 4 ngành tảo chủ yếu. Trong đó tảo Chlorophyta có thành phần loài
nhiều nhất chiếm 95 loài (42,41%), tảo Cyanophyta có 56 loài (25%), tảo Ochrophyta
có 45 loài chiếm (20,09%), tảo Euglenophyta có 28 lòai (12,5%).
Các giống loài thường xuất hiện là: Closterium navicula, Closterium gracile,
Crucigenia tetrapedia, Ankistrodesmus falcula, Asterococcum limneticus, Pediastrum
simplex var. simplex, Scenedesmus dimorphus, Scenedesmus acuminatus
(Chlorophyta); Microcystis aeruginosa, Spirulina major (Cyanophyta); Coscinodiscus
rothii, Coscinodiscus subtilis, Cyclotella comta, Melosira malayensis, Nitzschia
longissima (Ochrophyta).
4.1.1 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 1
Kết quả ao 1 thu được 148 loài, trong đó ngành Chlorophyta có 66 loài (44,59%),
ngành Cyanophyta có 35 loài (23,65%), ngành Ochrophyta có 27 loài (18,24%),
ngành Euglenophyta có 20 loài (13,51%)
18.24
44.59
23.65
13.51
Ochrophyta
Chlorophyta

Hình 4.2: Biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 1
Thành phần loài trong ao phong phú do nguồn nước cấp vào được lấy trực tiếp từ sông
Cần Thơ. Trong đó có xuất hiện một số loài có nguồn gốc nước lợ nguyên nhân do
chúng có khả năng phân bố rộng như các loài Coscinodiscus, Nitzschia, Cyclotella.
Trong ao thành phần loài không ổn định thay đổi theo mỗi đợt thu, có một số loài mới
xuất hiện và vài loài đang xuất hiện nhiều trong đợt trước thì đợt sau lại biến mất như
Volvox xuất hiện nhiều ở đợt đầu và đợt cuối nhưng không thấy xuất hiện ở các đợt
khác, cũng có các loài xuất hiện suốt các đợt thu như Scenedesmus. Nguyên nhân các
đợt thu đó ngay vào thời điểm tảo tàn hoặc có thể xuất hiện ít trong quá trình phân tích
không phát hiện được.
Trong các đợt thu thì 2 đợt có số loài cao nhất là đợt 3 có 51 loài và đợt 10 có 46 loài.
Trong đó tảo lục vẫn chiếm ưu thế là 27 loài kế đến tảo lam cũng xuất hiện nhiều, chủ
yếu là Microcystis aeruginosa. Nếu trong ao có sự xuất hiện thường xuyên của
Microcystis aeruginosa khi chúng nở hoa hoặc khi pH giảm đột ngột nó sẽ tiết ra chất
độc làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cá.

124.1.2 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 2
Kết quả thu mẫu tảo thu được 121 loài Phytoplankton thuộc 4 ngành là ngành
Chlorophyta có 55 loài (45,45%), ngành Cyanophyta có 33 loài (27,27%), ngành
Ochrophyta có 21 lòai (17,36%), ngành Euglenophyta có 12 loài (9,91%).
17.36
45.45
27.27
9.91
Ochrophyta
Chlorophyta
Cyanophyta

CHLO
OCHR

Hình 4.4: Biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 2
Nhìn chung thành phần loài cũng ít biến động, trong những đợt đầu thì thành phần loài
tảo Khuê cao nhưng càng về cuối vụ thì số loài giảm hẳn từ 11 loài giảm xuống còn 1
loài, còn tảo Lục thì có thành phần loài cao hơn về cuối vụ từ 7 loài tăng lên 20 loài,
nguyên nhân có thể do tảo Khuê có đặc điểm rất nhạy cảm với môi trường nên càng
về cuối vụ thì sự xuất hiện càng ít còn tảo Lục thì dễ thích nghi với môi trường giàu
chất dinh dưỡng. Trong khi đó tảo Lam và tảo Mắt có thành phần loài không ổn định,
tảo Lam thì cao nhất ở đợt thu 6 có 15 loài và giảm xuống vào cuối vụ chỉ còn có 5
loài, tảo Mắt thì xuất hiện nhiều trong đợt 5 có 5 loài và giảm xuống ở các đợt cuối
vụ, còn trong đợt 9 thì không thấy xuất hiện.
Qua kết quả thu mẫu tảo của ao 1 và ao 2 thấy có sự chênh lệch về thành phần loài với
nhau nhưng nhìn chung thì thành phần loài của 2 ao đều có xu hướng giảm xuống và
thời điểm thành phần loài cao nhất của 2 ao là đợt thu thứ 3, có thể đó là chu kỳ phát
triển mạnh nhất của tảo, ao 1 thu được 51 loài và ao 2 là 38 loài còn các đợt khác thì
thành phần loài trung bình trong khoảng từ 20 – 30 loài là chủ yếu.
4.1.3 Sự biến động thành phần loài Phytoplankton trong ao 3
Kết quả có 149 loài Phytoplankton thuộc 4 ngành trong đó ngành Chlorophyta vẫn
chiếm ưu thế có 60 loài (40,27%), ngành Cyanophyta có 46 loài (30,87%), ngành
Ochrophyta có 31 loài (20,80%), ngành Euglenophyta có 12 loài (8,05%).

14

20.8
40.27
30.87
8.08
Ochrophyta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status