TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Tập 75A, Số 6, (2012), 209-220
209
THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ THEO ĐỘ CAO CỦA BỘ PHÙ
DU (INSECTA - EPHEMEROPTERA) Ở VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, TỈNH
THỪA THIÊN HUẾ
Hoàng Đình Trung, Nguyễn Thị Tuyết Mai, Huỳnh Đức Khanh,
Mai Thị Thảo Nhi, Phan Thị Thùy Dương, Nguyễn Anh Toàn
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Tóm tắt. Bài báo này nhằm cung cấp những dẫn liệu về đa dạng sinh học thành phần loài
côn trùng Phù du (Insecta - Ephemeroptera) ở Vườn Quốc gia Bạch Mã. Nghiên cứu được
tiến hành từ tháng 6 năm 2009 đến tháng 6 năm 2011 tại các thủy vực Bạch Mã, tỉnh Thừa
Thiên Huế. Kết quả phân tích và định loại mẫu thu được tại 08 điểm khảo sát đã xác định
được 61 loài Phù du thuộc 33 giống và 10 họ. Trong đó, họ Heptagenidae chiếm ưu thế nhất
với 21 loài (chiếm 28,57% tổng số loài), 11 giống (chiếm 33,33% tổng số giống). Họ
Baetidae có 10 loài (chiếm 16,39%), 6 giống (chiếm 18,18%); Họ Potamanthidae với 8 loài
(chiếm 13,11%), 3 giống (chiếm 9,09%). Các họ còn lại có số loài và số giống không cao.
Thành phần loài côn trùng ở nước phân bố theo độ cao tại Bạch Mã có sự phân bố không
đồng đều. Tần số bắt gặp các loài ở vùng giữa nguồn chiếm ưu thế hơn so với đầu nguồn và
cuối nguồn, số lượng các họ côn trùng Phù du ở vùng giữa nguồn thì thấp hơn so với hai vùng
còn lại.
1. Mở đầu
Bạch Mã là một trong những Vườn Quốc gia ở miền Trung được chính phủ Việt
Nam phê duyệt năm 1991 theo quyết định 214/CP, với diện tích 22.031ha, nơi chuyển tiếp
giữa Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Sau đó theo quyết định 01/QĐ -TTg ngày 02 tháng
01 năm 2008 của Thủ tướng chính phủ về việc điều chỉnh, mở rộng diện tích Vườn với
Vị trí các điểm
thu mẫu
Đặc điểm thuỷ vực
Ký
hiệu
1
Núi Tranh, giáp hồ
truồi, xã Lộc Hòa,
huyện Phú Lộc
Chiều rộng suối 18-45m, chiều rộng dòng chảy 3-
7m, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy
15cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước
đứng 11cm. Nền suối dạng cát, bùn có lẫn cuội sỏi
lớn. Thực vật hai bên bờ là chủ yếu cây bụi và cây
gỗ trồng. Độ che phủ khoảng 76%. Suối thường
xuyên chịu tác động của khách du lịch. Độ cao 57m
M1
2
Khe Đá Dựng –
đập thủy điện ở
Chân Vườn VQG
Bạch Mã
Chiều rộng suối 5-13m, chiều rộng dòng chảy 3-
6m, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy
9cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước
đứng 12cm. Nền suối dạng cát và sỏi. Độ che phủ
khoảng 85%. Độ cao 78m
M2
3
7m, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy
10cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước
đứng 20cm. Nước suối trong, sạch, chảy mạnh. Nền
đáy suối chủ yếu là đá cuội nhỏ xen kẽ nhiều các
tảng đá lớn. Xung quanh suối là cây gỗ nhỏ và cổ
thụ lâu năm, độ che phủ khoảng 90%. Suối có địa
hình không bằng phẳng với các ghềnh đá lớn nhỏ.
Độ cao 967m.
M6
7 Suối Đỗ Quyên
Chiều rộng suối 5-12m, chiều rộng dòng chảy 3-
5m, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy
12cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước
đứng 16cm. Suối nằm trong rừng, nước suối trong,
sạch. Nền đáy của suối là đá cuội cỡ nhỏ và trung
bình. Lòng suối có một số đá tảng cỡ trung bình.
Sinh cảnh hai bên bờ là rừng gồm cây gỗ lớn và
nhỏ, độ che phủ khoảng 95%. Độ cao 1012m
M7
8 Thác Ngũ Hồ
Chiều rộng suối 8-14m, chiều rộng dòng chảy 4-6m,
độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước chảy
21cm, độ sâu dòng chảy nơi thu mẫu ở chỗ nước
đứng 30cm. Lòng suối có nhiều đá tảng lớn và trung
bình. Sinh cảnh hai bên bờ gồm cây gỗ lớn đặc trưng
là thông 3 lá, tùng Bạch Mã, rừng chò đen, độ che
phủ khoảng 95%. Độ cao 1193m. Suối dẫn tới các
hồ có độ dốc lớn, nước chảy mạnh.
M8
680
M4
460
M5
516
M6
967
M7
1012
M8
1193
I EPHEMEROPTERA
(1) Austremerellidae
1 Vietnamella thani Tshernova, 1972 +
(2) Baetidae
2 Acentrella sp. + + + +
3
Baetis brunneicolor Swisher &
Bichards,1971
+
4 Baetis postitalus Say, 1934
+ + + +
5 Baetis sp.
1
+
(4) Ephemeridae
16 Ephemera duporti Lestage, 1921
+ + + +
17 Ephemera innotata Navás, 1922
+ + + + +
18 Ephemera longiventris Navás, 1928
+
19 Ephemera sp.
+
20 Hexagenia limbata Spieth, 1941
+
(5) Ephemerellidae
21 Cincticostella gosei Allen, 1969
+ +
22
Crinitella coheri Allen & Edmunds,
1963
+ + + +
23 Drunella perculta Allen, 1971
+
24 Ephacerella longicaudata Ueno, 1928
+ + + +
25
Serratella albostriata Tong &
Dudgeon, 2000
+
(6) Heptageniidae
26
Asionurus primus Braasch &
+
35
Epeorus hieroglyphicus Braasch &
Soldán, 1984
+
36
Epeorus tiberius Soldán & Braasch,
1984
+ + + +
37 Epeorus longimanus Navás,1943
+ + +
38 Heptagenia pulla Clemens, 1913
+ +
39 Maccaffertium sp.
+
40
Iron martinus
Braasch & Soldán,
1984
+
41 Paegniodes dao Nguyen & Bae, 2004
+ + + + + +
42
Trichogenia maxillaris Braasch &
Soldán, 1988
+ + + +
43
Rhithrogeniella tonkinensis Soldán, &
Braasch,1986
+ + +
(10)
Potamanthidae
54 Rhoenanthus magnificus Ulmer, 1920
+ + +
55
Rhoenanthus distafurcus Bae &
McCafferty, 1991
+ +
HOÀNG ĐÌNH TRUNG VÀ CS. 215
56 Rhoenanthus sp.
+ +
57
Rhoenanthus obscussrus Soldán &
Putz,2000
+
58
Rhoenanthus speciosus Soldán &
Putz,2000
+ + +
59 Potamanthus formosus Eaton,1982
+ +
60 Potamanthus sp.
+ +
61 Tinodes waeneri Malicky,1995
+
Tổng 26 15 25 29 20 16 15 21
3.2. Cấu trúc thành phần loài
Tính đa dạng về cấu trúc thành phần loài Phù du ở Bạch Mã thể hiện ở số lượng
các taxon bậc loài đến taxon bậc giống. Theo đó, trong 10 họ Phù du ở Bạch Mã, họ
Drunella 1 1,64
Serratella 1 1,64
216 Thành phần loài và đặc điểm phân bố theo độ cao…
Ephacerella 1 1,64
6 Heptageniidae 21 34,43
Asionurus 2 3,28
Cinygmula 1 1,64
Ecdyonurus 3 4,92
Heptagenia 1 1,64
Epeorus 6 9,84
Paegniodes 1 1,64
Rhithrogena 2 3,28
Thalerosphyrus 2 3,28
Trichogena 1 1,64
Iron 1 1,64
Maccaffertium 1 1,64
7 Isonychiidae 1 1,64 Isonychia 1 1,64
8 Leptophlebiidae 4 6,56
Habrophlebiodes 1 1,64
Choroterpes 3 4,92
9 Neophemeridae 2 3,28 Potamanthellus 2 3,28
10 Potamanthidae 8 13,11
Potamanthus 2 3,28
Rhoenanthus 5 8,19
Tinodes 1 1,64
Tổng 61 100 33 61 100
3.3. Đặc điểm phân bố côn trùng Phù du theo sinh cảnh và độ cao ở Bạch Mã
Côn trùng ở nước là nhóm sinh vật thủy sinh, sự tồn tại và phát triển của chúng
trong một khu vực được quyết định trước hết do điều kiện sinh thái như nhiệt độ, thức ăn
và đặc tính thủy lý, thủy hóa của nước. Các điều kiện sinh thái lại bị chi phối bởi đai khí
2
) theo dạng thủy vực cho thấy số loài có mặt nơi nước chảy ưu thế hơn so với số
lượng loài ở nơi nước đứng: giá trị trung bình số lượng loài côn trùng nước ở nơi nước
chảy là 13±2,43; ở nơi nước đứng là 6,88±0,90. Tiến hành so sánh số lượng cá thể giữa
nước chảy và nước đứng cho thấy giá trị trung bình về ở nơi nước chảy là 66±14,56; nơi
nước đứng là 30±5,18. Khi so sánh hai giá trị trung bình này, nhận thấy có sự khác nhau
của 2 giá trị có ý nghĩa thống kê (mức ý nghĩa α <0,05). Như vậy, số lượng loài cũng như
số lượng cá thể ở nơi nước chảy luôn lớn hơn so với nước đứng.
Mức độ đa dạng loài theo độ cao
Nghiên cứu sự phân bố của côn trùng theo độ cao (lấy chuẩn theo mực nước biển)
có ý nghĩa rất quan trọng về việc khôi phục bảo vệ rừng và góp phần phát triển tham quan
du lịch sinh thái. Ở các độ cao khác nhau thì điều kiện nhiệt độ, ẩm độ, thành phần động
và thực vật khác nhau, nên thành phần côn trùng ở nước sẽ sai khác nhau tương ứng.
Căn cứ vào đặc điểm suối, khu vực suối có độ cao từ 967 - 1193m là vùng đầu
nguồn, từ 460m – 680m được coi là vùng giữa nguồn, còn khu vực suối có độ cao từ 57
– 78m có thể xem là vùng cuối nguồn của suối. Bước đầu khảo sát sự phân bố thành
phần loài theo độ cao cho thấy số lượng loài thu được tại các điểm nghiên cứu có sự
khác biệt: độ cao 57m (M1) thu được 26 loài (chiếm 42,62% tổng số loài), ở độ cao
78m (M2) có 15 loài (chiếm 24,59%), ở độ cao 680m (M3) có 25 loài (chiếm 40,98%),
độ cao 460m (M4) thu được 29 loài (chiếm 47,54%). Độ cao 516m (M5) thu được 20 loài
(chiếm 32,79%), độ cao 967m (M6) thu được 16 loài (chiếm 26,23%), độ cao 1012m
(M7) thu được 15 loài (chiếm 24,59% tổng số loài) và điểm M8 (1193m) có 21 loài
(chiếm 34,43%).
Kết quả nghiên cứu cho thấy hầu hết các loài thuộc họ Heptageniidae,
Potamanthidae, Baetidae, Ephemeridae, Leptophlebiidae phân bố khá rộng (bảng 2).
Nhiều loài xuất hiện ở tất cả các điểm thu thu mẫu từ vùng cuối nguồn, giữa nguồn cho
đến vùng đầu nguồn suối như Baetis sp.
3
, Ecdyonorus venosus. Ngược lại, có loài chỉ
bắt gặp ở độ cao nhất định, các loài Vietnamella thani, Ephemera sp., Hexagenia
Baetidae
Austremerellidae
Hình 1. Số lượng loài Phù du theo độ cao ở Vườn Quốc gia Bạch Mã
Bảng 5. Số lượng và tỷ lệ (%) số loài Phù du thu được ở các độ cao
Stt Độ cao Điểm thu mẫu Số loài Tỷ lệ (%)
1 57 M1 26 42,62
2 78 M2 15 24,59
3 680 M3 25 40,98
4 460 M4 29 47,54
5 516 M5 20 32,79
6 967 M6 16 26,23
7 1012 M7 15 24,59
8 1193 M8 21 34,43
4. Kết luận
4.1. Đã xác định được 61 loài côn trùng Phù du thuộc 10 họ và 33 giống. Trong đó
HOÀNG ĐÌNH TRUNG VÀ CS. 219
Heptageniidae có số loài chiếm ưu thế nhất với 21 loài (chiếm 34,43% tổng số loài),
11giống (chiếm 33,33% tổng số giống). Thứ hai là họ Baetidae có 10 loài (chiếm
16,39%), 6 giống (chiếm 18,18%). Tiếp đến là Potamanthidae có 8 loài (13,11%), 3
giống (chiếm 9,09%). Hai họ Ephemeridae và Ephemerellidae mỗi họ đều có 5 loài
(chiếm 8,19%). Hai họ Caenidae, Leptophlebiidae, mỗi họ có 4 loài (6,56%);
Neophemeridae có 2 loài (chiếm 3,28%), 1 giống (3,03%). Hai họ còn lại
Austremerellidae, Isonychiidae chỉ có 1 loài (chiếm 1,64%) và 1 giống (chiếm 3,03%).
4.2. Thành phần loài côn trùng Phù du phân bố theo sinh cảnh và độ cao tại vùng
Bạch Mã có sự phân bố không giống nhau. Theo sinh cảnh, số lượng loài cũng như số
lượng cá thể ở nơi nước chảy luôn lớn hơn so với nước đứng. Thành phần loài Phù du ở
vùng giữa nguồn chiếm ưu thế hơn so với đầu nguồn và cuối nguồn, trong khi đó số
lượng họ Phù du có mặt ở đầu nguồn và cuối nguồn cao hơn vùng giữa nguồn của hệ
thống suối vùng Bạch Mã.
Mai Thi Thao Nhi, Phan Thi Thuy Duong, Nguyen Anh Toan
College of Sciences, Hue University
Abstract. Species composition and altitudinal distribution of Ephemeroptera at the stream
system of Bach Ma National Park were investigated. Eight sites (57m, 78m, 460m, 516m,
680m, 967m, 1012m, 1193m) from upper to lower reaches of the stream were sampled from
June 2009 to June 2011. The results showed a total of 61 species belonging to 33 genera and
10 families. Among the 61 species of aquatic insects recorded, the Heptageniidae is the most
diverse with 21 species, followed by Baetidae with 10 species, Potamanthidae with 8 species,
and Ephemeridae and Ephemerellidae each with 5 species. The families Caenidae and
Leptophlebiidae, each of them has 4 species; Neophemeridae has 2 species;
Austremerellidae and Isonychiidae each has 1 genera and one species. The altitudinal
distributrion of the species collected is not uniform. Distribution along the height is as
followed: There are 26 species at the altitude of 57m, 15 species (at 78m), 25 species (at
680m), 29 species (at 460m), 20 species (at 516m), 16 species (at 967m), 15 species (at
1012m) and 21 species (at 1193m). The Ephemeropteral species inhabiting the medium
altitudinal areas are more diverse than those inhabiting the lower and higher altitudinal
areas of the stream system. Moreover, the species and individuals of Ephemeropteral
inhabiting the lotic water are more diverse than those inhabiting the lentic water. The
species of Heptageniidae, Potamanthidae, Baetidae, Ephemeridae, and Leptophlebiidae are
widely distributed from upper to lower reaches of the stream. By contrast, the species of
Vietnamella thani, Ephemera sp., Hexagenia limbata, Ecdyonurus cervina, Epeorus
hieroglyphicus only occur at the lower reaches of the stream (57 – 78m).