BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
NGUYỄN THANH THỦY THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA
GIUN ĐẤT Ở KHU VỰC XÃ LIÊN HÒA, LẠC THỦY, HÒA
BÌNH KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Phòng Đào tạo Đại học, phòng khảo thí và Bảo đảm chất lượng giáo dục
trường Đại học Tây Bắc.
Ban Chủ nhiệm khoa Sinh - Hóa; cán bộ, giảng viên Bộ môn Động vật -
Sinh thái khoa Sinh – Hóa, trường ĐH Tây Bắc.
Nhân dân và chính quyền địa phương ở những nơi chúng tôi đến thu mẫu.
Gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Các đơn vị trên đã tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục, thời gian, trang thiết
bị, hóa chất, địa điểm phân tích mẫu để đề tài được thực hiện và giúp cho việc
thu mẫu ở các địa phương.
Đặc biệt chúng tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của ThS. Đỗ Đức
Sáng trong công tác định loại, phân tích mẫu và định hướng các nội dung
nghiên cứu, tôi xin chân thành cảm ơn thầy.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn tất cả các đơn vị và cá nhân đã nêu
trên. Sơn La, tháng 5 năm 2014
Nguyễn Thanh Thủy
MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài 3
1.3. Nội dung nghiên cứu 3
1.4. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 4
1.5. Ý nghĩa khoa học của đề tài 4
1.6. Khái quát tình hình nghiên cứu giun đất 4
KVNC
Khu vực nghiên cứu
Ph
Pheretima
TT
Thị trấn
Tp
Thành phố
nnk
Những người khác
tr
Trang
Nxb
Nhà xuất bản DANH SÁCH HÌNH VÀ BẢNG
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và các điểm thu mẫu 11
Hình 2. Hình thái ngoài một số giống giun đất ở nước ta 13
Hình 3. Hình thái và vị trí của tinh hoàn, túi tinh hoàn (A); túi nhận tinh (B) của
giun đất 14
Hình 4. Hình thái ngoài và cấu tạo trong của Pheretima posthuma 14
Bảng 1. Thành phần loài và phân loài, sinh cảnh, địa điểm thu mẫu và đặc điểm
túi nhận tinh của các loài giun đất ở khu vực nghiên cứu 16
Bảng 2. Các loài chung nhau giữa KVNC với một số khu vực lân cận……….32
Bảng 3. Tỷ lệ các loài và phân loài giun đất chung giữa các khu vực 34
trên mặt đất xuống lớp sâu hơn, tạo nên lớp đất màu mỡ giàu mùn, giàu khoáng.
Hang giun đất tạo điều kiện đưa không khí và nước vào đất, làm cho đất thoáng
và ẩm [5, 6].
Giun đất đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hóa vật chất hữu cơ
trong đất. Chúng đưa vào ống tiêu hóa của mình các vụn hữu cơ và đất trong quá
trình đào hang. Các vụn hữu cơ từ thực vật, động vật khi được đưa vào ống tiêu
hóa của giun sẽ được nghiền nhỏ và phân loại nhờ hệ thống enzyme tiêu hóa.
Chất thải sau đó được tống ra ngoài dưới dạng phân giun giàu các hợp chất trao
đổi, có giá trị dinh dưỡng cao đối với thực vật và vi sinh vật [5, 6].
Trong nông nghiệp, giun đất là một trợ thủ đắc lực của người nông dân. Với
hoạt động cơ học của mình, giun đất giúp giảm đáng kể công đoạn làm đất nhất
là công cày, cuốc, giun làm tăng độ phì nhiêu cho đất. Trong nông nghiệp hiện
nay phân bón hóa học là nguồn bổ sung dinh dưỡng chính cho cây trồng, nhưng
do việc sử dụng không hợp lý nên lượng phân bón trở thành hiểm họa cho môi
trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước ngầm. Giun đất đã góp phần giải quyết
vấn đề này [7].
Căn cứ vào thành phần, số lượng, mật độ của các loài giun đất ở những ổ
sinh thái khác nhau có thể xác định được mức độ thay đổi cảnh quan hay dự
đoán được một số tính chất của môi trường đất như Ph. posthuma thường gặp ở
đất cát pha, Ph. elongata ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ở đất nghèo mùn
và chua [8, 21, 31]…
2
Do thịt giun đất có giá trị dinh dưỡng cao nên trong tự nhiên chúng là
nguồn thức ăn phong phú của nhiều nhóm động vật như chim, rùa, rắn, cá
Ngoài ra, giun đất cũng là những mắt xích vật chất quan trọng trong chuỗi và
lưới thức ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên. Đa số chúng là sinh vật tiêu
thụ bậc 1 chúng ăn các vụn hữu cơ trong đất [13].
Nhiều vùng của nước ta và nhiều nước trên thế giới đã tiến hành gây nuôi
giun đất trên quy mô gia đình hoặc công nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi cho
1.2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
+ Mục tiêu
Đề tài nhằm giải quyết 3 mục tiêu sau:
- Thống kê thành phần loài giun đất của khu vực nghiên cứu.
- Xác định một số đặc điểm chẩn loại về hình thái ngoài, đặc điểm manh
tràng, túi nhận tinh các loài giun đất ở KVNC.
- Xác định đặc điểm phân bố theo sinh cảnh các loài giun đất của KVNC.
+ Nhiệm vụ
- Thu thập nguồn tài liệu có liên quan đến đề tài như tài liệu về đặc điểm tự
nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu, đặc điểm cấu tạo, giải phẫu, tài liệu dùng
trong việc định loại nhóm giun đất.
- Tiến hành công việc thu mẫu vật theo những phương pháp phù hợp, xử lý
mẫu tại thực địa và trong phòng thí nghiệm.
- Quan sát các loại môi trường và sinh cảnh có giun đất phân bố và không
có mặt, ghi chép để có sự phân tích, đánh giá và nhận xét.
- Tiến hành công tác định loại nguồn mẫu vật trong phòng thí nghiệm.
- Xử lý các kết quả thu được ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm.
- Tổng kết thành phần loài và báo cáo.
1.3. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài giun đất KVNC: định loại, lập
danh sách các loài giun đất ở KVNC; đánh giá độ đa dạng thành phần các loài
giun đất KVNC; mô tả đặc điểm hình thái ngoài của các loài giun đất, đặc điểm
phân bố theo sinh cảnh các loài giun đất ở KVNC.
- So sánh thành phần loài giun đất ở KVNC với khu vực lân cận. 4
1.4. Đối tƣợng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là các loài giun đất ở xã Liên Hòa, huyện Lạc Thủy,
tỉnh Hòa Bình.
nước ngoài thực hiện [27, 30].
Mở đầu là công trình của Perrier năm 1872, có mô tả loài Perichaeta
aspegillum ở Việt Nam. Năm 1875, Perrier phát hiện thêm ba loài mới cho khu vực
này, trong đó có 1 loài mới là Ph. juliani và 2 loài lần đầu tiên gặp ở Việt Nam là
Ph. posthuma và Ph. houlleli. Năm 1931, Stephenson công bố thêm hai loài mới ở
vùng cao nguyên phía nam Việt Nam là Ph. bianensis và Ph. annamensis [27, 31].
Sau đó năm 1934, Michaelsen đã công bố danh sách của 20 loài giun đất
đã biết ở Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam và Campuchia), trong đó có 16 loài
mới 15 loài thuộc giống Pheretima và 1 loài thuộc giống Drawida [27, 31].
Năm 1956, Omodeo công bố các giun đất ở Đông Dương và Địa Trung
Hải có nhắc tới 6 loài giun thu ở Sài Gòn và Vũng Tàu, với 1 loài mới là Ph.
saigonensis [31].
Như vậy, trong giai đoạn 1872 - 1965, chỉ có các tác giả nước ngoài công
bố được 26 loài giun đất cho Việt Nam (thuộc 5 giống, giống Pheretima chiếm
ưu thế với 23 loài). Các nghiên cứu này mang tính chất tản mạng, mẫu thu chủ
yếu ở một vài thành phố lớn hay các điểm du lịch [27, 28, 31].Trong giai đoạn từ 1965 - 1975, việc nghiên cứu giun đất ở Việt Nam tạm
thời bị gián đoạn bởi chiến tranh. Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu chỉ
tập trung được dẫn liệu về hình thái và sinh thái học của một vài loài giun đất
phổ biến để phục vụ cho công tác biên soạn giáo trình động vật không xương
sống [31].
Cho đến năm 1979, công tác thu mẫu giun đất ở Việt Nam mới được tiến
hành rộng rãi và có hệ thống nhằm phục vụ cho nội dung nghiên cứu luận án tiến sĩ
khoa học “Giun đất Việt Nam - Hệ thống học, khu hệ, phân bố và địa lý động vật”
của Thái Trần Bái (1983). Trong nghiên cứu này ông đã công bố được 109 loài và
phân loài, thuộc 6 họ và 17 giống cho khu hệ giun đất Việt Nam. Trong số trên có
39 loài và phân loài là loài mới. Ngoài ra, công trình còn thảo luận thêm về hệ
thống phân loại học của nhóm Pheretima và rút ra những quy luật tiến hóa của một
đất như: năm 2007, khi nghiên cứu khu hệ giun đất tỉnh Sơn La, Đỗ Đức Sáng
đã tổng kết được 41 loài thuộc 10 giống và 7 họ. Nghiên cứu này đã cung cấp
thêm dẫn liệu về giun đất cho khu vực Tây Bắc [27]. Năm 2013, Nguyễn Thanh
Tùng đã thống kê được 34 loài thuộc 9 giống, 6 họ ở khu hệ giun đất ở Đồng
7
bằng sông Cửu Long, trong đó có 2 loài mới cho khoa học là Pheretima
mangophila Nguyen, 2011 và Pheretima thaii Nguyen, 2011; 1 loài mới gặp ở
Việt Nam Drawida barwelli (Beddard, 1886) [31].
Nếu theo hệ thống phân loại của Sims và Easton (1972) và Easton (1979)
thì 176 loài và phân loài trong giống Pheretima ở Việt Nam được chia thành 7
giống: Amynthas (111 loài và phân loài), Metaphere (46 loài và phân loài),
Polypheretima (9 loài), Planapheretima (5 loài), Metapheretima (3 loài) và 2
giống (Pheretima, Pithemera) mỗi giống có 1 loài (Pheretima domasa và
Pithemera bicincta). Như vậy, giống Amynthas và Metaphere có số loài chiếm
ưu thế ở Việt Nam [30, 31].
1.6.2. Ở khu vực nghiên cứu
Từ năm 1992 - 1995, trong luận án Tiến sĩ khoa học sinh học “Khu hệ giun
đất miền Tây Bắc Việt Nam” Độ Văn Nhượng đã tiến hành nghiên cứu giun
đất ở khu vực Hòa Bình - Thanh Hóa [27]. Năm 2010, có đề tài khoa học cấp
trường của sinh viên đại học Tây Bắc “Nghiên cứu khu hệ giun đất ở xã Hòa
Sơn và thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình” [34].
Từ đó đến nay chưa có thêm một công trình nghiên cứu nào về giun đất ở
một xã của Hòa Bình.
1.7. Khái quát đặc điểm tự nhiên - xã hội khu vực nghiên cứu
1.7.1. Đặc điểm tự nhiên
- Vị trí địa lý và lãnh thổ
Xã Liên Hòa có ranh giới phía đông giáp xã Cố Nghĩa, phía tây giáp xã
Hưng Thi và xã Đồng Môn, phía nam giáp xã An Lạc, phía bắc giáp xã Khoan
Dụ [36]. Xã Liên Hòa có tọa độ địa lí: 20
o
- Tài nguyên đất
Cơ cấu đất của xã Liên Hòa: có tổng diện tích tự nhiên 1454,87 ha, diện
tích đất nông nghiệp là 862,65 ha, đất lâm nghiệp có rừng là 199,65 ha [36].Về
mặt chất lượng, nhìn chung tầng đất canh tác nơi đây mỏng, có nguồn gốc hình
thành từ đá vôi, granít, sa thạch, trầm tích [36] Kết quả phân tích định lượng
cho thấy: lớp đất có độ phì khá, thuận lợi cho giun đất sinh sống.
- Tài nguyên sinh vật
Với tình trạng rừng bị tàn phá như hiện nay đã tác động đến cảnh quan và
môi trường sống của nhiều nhóm động vật, trong đó có giun đất với các loài liên
quan trực tiếp đến môi trường đất và thảm thực vật.
Về động vật: diện tích rừng do bị tàn phá nhiều nên ít gặp các loài thú lớn,
các bộ thường gặp gồm: Ăn sâu bọ, Dơi, Tê tê, Gặm nhấm, Ăn thịt, Ngón chẵn.
Trong rừng có nhiều loài thú sống trong đất và trên mặt đất. Ở đồi trọc, tuy
không nhiều các loài thú sống định cư nhưng thường gặp một số sống vãng lai
như sóc, chồn, chuột [36].
9
Về chim: do địa hình, vị trí địa lý và thảm thực vật nên đã gặp nhiều loài
chim sinh sống, bao gồm các loài chim là tổ, chim không làm tổ, chim định cư,
chim trú đông… trong đó có nhiều loài ăn thịt [36].
Về lưỡng cư, bò sát có các họ Tắc kè, Nhông, Thằn lằn bóng, Thằn lằn chính
thức, Kỳ đà, Rắn mống, Rắn nước, Rùa, Cóc bùn, Cóc, Nhái bén, Ếch, Ếch cây,
Nhái bầu Các họ lưỡng cư phân bố chủ yếu ở rừng, suối, các hố nước [36]….
Trong các loài động vật trên có nhiều loài sử dụng giun đất làm thức ăn
hoặc ăn thịt các loài động vật sử dụng thức ăn là giun đất, tiêu biểu như các
nhóm rùa, rắn, ếch, nhái, chim ăn thịt sống trên mặt đất…
1.7.2. Đặc điểm xã hội
- Dân số và dân tộc
Dân số theo thống kê của xã năm 2013 ở Liên Hòa có 1725 người, mật độ
dân số ở đây khá thưa thớt [36]. Lao động: theo điều tra thì tỉ lệ lao động trên
nhân khẩu là 40%.
1.8.2.1. Phương pháp thu mẫu
Thu mẫu theo nguyên tắc: thu tất cả các loại giun đất bắt gặp, thu số lượng
nhiều, thu mẫu bằng các phương pháp đặc trưng và ở những sinh cảnh khác nhau.
Các mẫu thu cần nguyên vẹn, tránh đứt gãy để thuận lợi cho công tác định loại.
- Mẫu thu định lượng
Mẫu thu định lượng giun đất theo phương pháp Ghiliarov (1976) (Nguyễn
Thanh Tùng, 2013). Kích thước hố đào là 50 cm x 50 cm (= 0,25 m
2
), đất được
lấy theo tầng 5 - 10 cm từ trên xuống bằng xẻng hoặc các dụng cụ đào khác, đào
đến độ sâu không gặp giun nữa. Giun đất được lượm bằng tay cho vào các túi
vải có kích thước 20 cm x 12 cm, trong mỗi mẫu có nhãn ghi địa điểm, thời
gian, sinh cảnh và người thu mẫu [22, 27, 31].
- Mẫu thu định tính
Mẫu định tính được thu ở các sinh cảnh khác nhau trong khu vực nghiên
cứu với mục đích bổ sung cho mẫu định lượng về thành phần loài. Ngoài ra,
mẫu định tính còn có vai trò xác định sự biến dị hình thái, đặc điểm phân bố
Thu mẫu bằng các dụng cụ đã nêu trên, gặp con nào thu con đó, kể cả
những cá thể bò trên mặt đất sau trận mưa. Mỗi mẫu thu để giun vào một túi
riêng và ghi nhãn [22, 28].
11
Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và các điểm thu mẫu
(vẽ theo Tập bản đồ hành chính 64 tỉnh, thành phố Việt Nam)
1.8.2.2. Phương pháp ghi nhật ký
Trên cơ sở quan sát đối tượng nghiên cứu, môi trường tự nhiên, đặc điểm
sinh cảnh nơi thu mẫu, các thông tin chủ yếu về môi trường đất, thảm thực vật,
độ ẩm của đất, thời điểm thu mẫu, quan sát các hoạt động của giun như hệ
Xã Hưng Thi
Xã
Đồng
Môn
12
hệ giun đất tỉnh Sơn La cũng đã chia thành 5 nhóm sinh cảnh là: rừng (gồm cả
diện tích rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh), trảng thứ sinh, đất trồng trên nền
rừng và nền đồi, sinh cảnh đất vườn, đất gần nguồn nước (đất ven sông, suối,
ruộng) [28].
Căn cứ theo các tác giả trên với điều kiện thực tế thu mẫu cùng các dẫn
liệu có được đề tài đã phân chia khu vực nghiên cứu thành các nhóm sinh
cảnh chính sau: sinh cảnh khu dân cư; đất gần nguồn nước; đất trồng cây lâu
năm; đất trồng cây ngắn ngày; núi đá vôi.
1.8.2.4. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật
Xử lý giun đất thu về theo các bước sau [28]:
- Rửa giun đất bằng nước lã cho sạch đất và vụn hữu cơ bám ngoài.
- Làm chết giun bằng dung dịch formol 2%, giữ giun ở trạng thái duỗi
thẳng trong khoảng 15 phút cho mẫu vừa cứng.
- Chuyển giun sang dung dịch formol 4% để cố định cơ thể.
Mẫu vật được lưu giữ tại phòng thực hành khoa Sinh - Hóa, trường ĐH
Tây Bắc.
1.8.2.5. Phương pháp giải phẫu
Cách giải phẫu được tiến hành như sau: cắt một đường dọc từ ở giữa lưng
từ lỗ miệng tới hậu môn, dùng từng cặp ghim căng thành cơ thể của giun trên
bàn mổ.Trong khi panh rộng thành cơ thể cần dùng kim nhọn tách các vách
ngăn đốt, sau đó đổ nước vào khay mổ để giữ cho mẫu không bị khô [12].
Tiến hành gỡ và quan sát cấu tạo môi, cơ quan tiêu hóa,túi nhận tinh, manh
tràng, tuyến tiền liệt, rãnh ruột, vách đốt nhằm làm rõ thêm thức ăn của giun đất
và các đặc điểm bổ sung cho công việc định loại [12].
1.Tinh hoàn, 2. Tinh nang, 3. Ống dẫn tinh, 4. Diverticulum, 5. Ampun, 6. Cuống của ampun
Hình 4. Hình thái ngoài và cấu tạo trong của Pheretima posthuma
(theo Nguyễn Thanh Tùng, 2012)
15
1.9. Các phƣơng pháp khác
- Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng chỉ số tương đồng S (Sorensen, 1948) để phân tích mối quan hệ
về thành phần loài giun đất giữa các khu hệ giun đất khác nhau [21]. Chỉ số này
được tính theo công thức:
S =
BA
C
2
Trong đó: S là chỉ số tương đồng; A và B là tổng số loài của 2 khu hệ giun
đất cần so sánh; C là số loài trùng nhau của 2 khu hệ.
- Phương pháp chuyên gia: trong quá trình nghiên cứu, đặc biệt là công
tác định loại, đề tài đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của ThS. Đỗ Đức Sáng
trong việc kiểm tra và thẩm định lại kết quả, đặc biệt các mẫu giun đất có nhiều
biến dị và đang nghi ngờ về phân loại học.
- Phương pháp hồi cứu: hay phương pháp thu thập và nghiên cứu tài liệu.
Đề tài có sử dụng nhiều loại tài liệu như tài liệu về đặc điểm tự nhiên - xã hội
khu vực nghiên cứu, về công việc định loại, tính biến dị các đặc điểm hình thái,
sự sinh sản, về đặc điểm phân bố của nhóm giun đất. Nguồn tài liệu khi thu
thập được tiến hành sắp xếp theo hệ thống thư mục
16
PHẦN 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2
Glossocolecidae (Michaelsen, 1900
1
Pontoscolex corethrurus (Muller, 1856)
2,38
2,08
0,94
+
+
+
3, 6/7/8/9
Megascolecidae (part Rosa, 1891)
2, 6/7/8
4
Ph. arrobusta Thai, 1984
1,59
4,15
8,22
1,41
+
+
+
+
2, 7/8/9
5
Ph. aspergillum (Perrier, 1872)
9,13
0,78
1,04
12,32
4,24
+
+
+
+
2, 7/ 8/9
6
Ph. assacceae Chen, 1938
6,75
1,04
2, 5/6/7
9
Ph. exillis Gates, 1935
0,79
17,71
7,07
+
+
+
+
2, 5/6/7
10
Ph. guillemi Michchaelsen, 1894 2,60
4,24 +
+
3,6/78/9
11
Ph. hawayana (Rosa, 1891)
2, 6/ 7/8
14
Ph. morrisi Beddard,1892
24,60
34,63
15,10
46,57
17,45
+
+
+
+
2,5/6/7
15
Ph. mucrorima Chen, 1946
0,79
1,41 +
+
2,5/6
16
Ph. robusta Perries, 1872
2,38
1,17
7,81
2, 7/ 8/9
19
Pheretima sp. 1
5,16
+
2, 6/7/8
20
Pheretima sp. 2 5,84 +
2, 6/ 7/8
17
21
Pheretima sp. 3
+
2, 7/8/9
24
Pheretima sp. 6
1,37
+
2, 6/7/8
Monligastridae Clau, 1980
25
Drawida delicate Gates, 1962
+
2, 5/6/7
Ocnerodrilidae Beddard, 1891
27
Nematogenia sp.
1,98
0,94
+
+
28
Ocnerodrilus occidentalis Eisen, 1878
12,69
8,17
18
Đối với mỗi loài hay phân loài đề tài giới thiệu theo thứ tự: tên khoa học,
đặc điểm chẩn loại với những loài đã tìm ra đến tên loài và mô tả với những loài
mới tìm ra đến giống; phân bố; số lượng cá thể nghiên cứu và nhận xét.
HỌ GLOSSOSCOLECIDAE (Michaelsen, 1900)
Giống Pontoscolex Schmarda, 1861
1. Pontoscolex corethrurus (Muller, 1858)
Đặc điểm chẩn loại: giun có kích thước trung bình: D
8
= 3,2 - 3,6 mm; D
đ
=
3 - 3,3 mm; L = 80 - 120 mm, khi còn sống cơ thể màu hồng nhạt. Đai hở màu
vàng da cam hình yêu ngựa từ đốt XIV - XXII. Mỗi đốt có 4 đôi tơ, tơ phía
trước đai hơi lệch về phía bụng. Có 3 đôi túi nhận tinh ở gian đốt 6/7/8/9. Lỗ cái
ở đốt 14/15. Lỗ đực ở đốt 19/20 hoặc 20/21.
Phân bố: mẫu thu ở thôn Liên Hồng và thôn Đồng Huống.
Số cá thể nghiên cứu: 12.
Nhận xét: Tại KVNC gặp Pontoscolex corethrurus ở các dạng sinh cảnh
có độ ẩm cao. Pontoscolex corethrurus có thể sống trong môi trường đất thịt
đ
= 4,2 - 4,5
mm, L = 140 - 160 mm, thân hình trụ. Nhú đực nhô cao so với thành cơ thể.
Vùng đực có hay không có nhú phụ sinh dục. Có hai đôi lỗ nhận tinh trên gian
đốt 7/8 - 8/9. Manh tràng hình răng cưa (h.2).
Phân bố: mẫu thu được ở hầu hết các sinh cảnh ở thôn Liên Hồng, thôn
Liên Ba, thôn Đồng Huống, thôn Vỏ.
Số cá thể nghiên cứu: 47.
Nhận xét: loài Ph. acalifornica là loài phân bố rộng, gặp ở hầu hết các địa
điểm thu mẫu trong khu vực nghiên cứu. Loài thường sống ở nơi ẩm ướt, có
thực bì che phủ. Về hình dạng, kích thước và một vài đặc điểm như vị trí túi
nhận tinh, cách xếp của tơ gần giống với Ph. californica. Nhưng được đặc trưng
bởi đôi nhú đực nhô cao không nằm trong buồng giao phối.
4. Pheretima arrobusta Thai, 1984
Đặc điểm chẩn loại: giun cỡ lớn, D
8
= 6 - 7,46 mm, D
đ
= 5,5 - 6 mm, L =
170 - 220 mm. Có hai đôi túi nhận tinh ở gian đốt 7/8 - 8/9. Lỗ cái lồi nằm trên
vành tơ đốt 14. Có một đôi nhú đực lồi nằm trên vành tơ đốt 18, xung quanh có
nhiều nhú phụ nhỏ. Manh tràng đơn giản (h.6).
Phân bố: thôn Liên Hồng, thôn Liên Ba, thôn Đồng Huống, thôn Vỏ.
Số cá thể nghiên cứu: 21.
Nhận xét: Ph. arrobusta có kích thước và hình dạng rất giống với Ph.
robusta. Tuy nhiên Ph. arrobusta có một số sai khác: đôi nhú phụ vùng nhận
tinh lớn, manh tràng có xẻ răng cưa nông, kích thước thường nhỏ hơn.