BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LÒ THỊ HẰNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM
PHÂN BỐ CỦA GIUN ĐẤT Ở KHU VỰC XÃ CHIỀNG
MUNG, HUYỆN MAI SƠN, TỈNH SƠN LA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LÒ THỊ HẰNG
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới những người thân trong
gia đình, nhân dân và chính quyền xã Chiềng Mung đã giúp đỡ tôi trong quá
trình thu thập mẫu vật và cung cấp các thông tin về điều kiện tự nhiên - xã hội ở
địa phương.
Sơn La, ngày 10 tháng 05 năm 2014
Sinh viên thực hiện Lò Thị Hằng MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3. Nhiệm vụ của đề tài 3
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài 3
5. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 4
7. Khái quát tình hình nghiên cứu giun đất 4
8. Khái quát điều kiện tự nhiên - xã hội khu vực nghiên cứu 6
9. Phương tiện và phương pháp nghiên cứu 9
10. Các thuật ngữ và khái niệm 14
PHẦN 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. THÀNH PHẦN LOÀI GIUN ĐẤT Ở KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
Biểu đồ 1. Tỉ lệ phần trăm số loài trong các giống giun đất ở khu vực nghiên
cứu 28
Biểu đồ 2. Số lượng loài, giống, họ giun đất ở khu vực nghiên cứu và các khu
vực lân cận 31
Biểu đồ 3. Phần trăm số loài và số cá thể trong các giống ở sinh cảnh đất trồng
cây lâu năm 33
Biểu đồ 4. Phần trăm số loài và số cá thể trong các giống ở sinh cảnh đất trồng
cây ngắn ngày 34
Biểu đồ 5. Phần trăm số loài và số cá thể trong các giống ở sinh cảnh khu dân
cư 35
Biểu đồ 6. Phần trăm số loài và số cá thể trong các giống ở sinh cảnh đất gần
nguồn nước 36
Biểu đồ 7. Phần trăm số loài và số cá thể giun đất trong các sinh cảnh ở khu vực
nghiên cứu………………… 37 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIẾT
NGHĨA
KVNC
Khu vực nghiên cứu
TT
Thị trấn
TP
Thành phố
Tr
Trang
Nxb
Nhà xuất bản
người ta còn dùng giun đất như một nhóm động vật chỉ thị cho các vùng đất
hoặc mức độ thay đổi của cảnh quan, còn nếu dựa vào phân bố của từng loài
giun đất có thể chỉ thị cho tính chất của đất như Pheretima posthuma thường gặp
ở đất cát pha, Pheretima elongata ở đất nặng, Pontoscolex corethrurus ở đất
nghèo mùn và chua [24].
Giun đất cũng là những mắt xích vật chất quan trọng trong các chuỗi và
lưới thức ăn góp phần khép kín chu trình tự nhiên. Đa số chúng là sinh vật tiêu
thụ bậc 1 chúng ăn các vụn hữu cơ trong đất.
2
Giun đất giàu đạm nên thích hợp làm thức ăn cho cá, gia cầm và gia súc.
Một số loài như Perionyx excavatus, Eisenia fetida, Esenia andrei,… được nuôi
để sản xuất bột thức ăn [30].
Trong y học dân gian của Việt Nam, Lào, Trung Quốc,… giun đất dùng để
chữa một số bệnh như: sốt rét, hen suyễn, đậu mùa, vàng da, sỏi bàng
quang…với tên gọi là “Địa long” (Rồng đất). Ngày nay, giun đất được xem như
là một đối tượng dùng để ly trích các enzim có khả năng làm tan các cục máu
đông, kháng viêm, chống oxy hóa,…Đặc biệt, một số enzim chiết suất từ giun
đất có khả năng giết chết các tế bào ung thư [30].
Về mặt lý luận, nghiên cứu giun đất góp phần hiểu rõ hơn quá trình hình
thành loài, hình dung con đường chuyển môi trường sống từ nước lên cạn, sự
tiến hoá của các hệ cơ quan và sự biến đổi của chúng.
Bên cạnh đó một vài loài giun đất còn là vật chủ trung gian của một số giun
sán ký sinh như giun phổi, giun thận, Cơ thể giun đất còn là môi trường thích
hợp của trực khuẩn gây bệnh ngộ độc thịt ôi (Clostridium botulium). Do đó
nghiên cứu giun đất có ý nghĩa thực tiễn trong việc phát triển chăn nuôi, hạn chế
thiệt hại do giun sán ký sinh gây ra [30].
Ở Việt Nam các nghiên cứu về giun đất có từ rất sớm và chủ yếu tập trung
vào các khu vực như: vùng Đông Bắc và đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Tây Nam Bộ, Tây Bắc và một số khu vực nhỏ ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ.
sự phân tích, đánh giá và nhận xét.
- Tiến hành công tác định loại mẫu vật trong phòng thí nghiệm.
- Xử lý các kết quả thu được ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm.
4. Nội dung nghiên cứu của đề tài
- Nghiên cứu sự đa dạng thành phần loài giun đất ở KVNC: Định loại, lập
danh sách các loài, đánh giá độ đa dạng về thành phần loài, mô tả đặc điểm hình
thái ngoài của các loài giun đất ở KVNC, so sánh thành phần loài giun đất ở
KVNC với một số khu vực lân cận.
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố các loài giun đất theo sinh cảnh ở KVNC.
4
5. Đối tƣợng, thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu này thực hiện ở xã Chiềng Mung. Đối tượng nghiên cứu của đề
tài là các loài giun đất. Mẫu giun đất được tiến hành thu trong 4 sinh cảnh (đất
trồng cây lâu năm, đất trồng cây ngắn ngày, khu dân cư, đất gần nguồn nước).
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phân bố của giun đất nhưng do hạn
chế về thời gian và địa bàn nghiên cứu rộng, nội dung nghiên cứu này chỉ xét
đặc điểm phân bố của chúng theo sinh cảnh.
Cho đến nay, hệ thống phân loại giun đất vẫn chưa được thống nhất giữa
các tác giả nghiên cứu, nhất là sự phân chia các loài trong nhóm Pheretima
thành những giống nhỏ hơn. Nghiên cứu này vẫn theo hệ thống của Kinberg
(1867) cho giống Pheretima [30].
Các số liệu trong đề tài được tổng kết trên cơ sở những dẫn liệu nghiên cứu
từ tháng 10/2013 - 4/2014.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học mới
mang tính hệ thống về thành phần loài và đặc điểm phân bố của giun đất theo
Cho đến năm 1979, công tác thu mẫu giun đất ở Việt Nam mới được tiến
hành rộng rãi và có hệ thống nhằm phục vụ cho nội dung nghiên cứu luận án
Tiến sĩ khoa học “Giun đất Việt Nam - Hệ thống học, khu hệ, phân bố và địa lý
động vật” của Thái Trần Bái (1983). Trong nghiên cứu này ông đã công bố được
109 loài và phân loài, thuộc 6 họ và 17 giống cho khu hệ giun đất Việt Nam.
Trong số trên có 39 loài và phân loài là loài mới. Ngoài ra, công trình còn thảo
luận thêm về hệ thống phân loại học của nhóm Pheretima và rút ra những quy
luật tiến hóa của một số cơ quan cho nhóm loài này [30].
Từ 1985 - 1996 đây là giai đoạn có nhiều công trình nghiên cứu về khu hệ
giun đất Việt Nam được công bố nhất, do trong giai đoạn này có 6 luận án phó
Tiến sĩ về giun đất được thực hiện ở 6 vùng thuộc miền Bắc và miền Trung
nước ta như: Trần Thúy Mùi (1985), Đỗ Văn Nhượng (1994), Nguyễn Văn
Thuận (1994), Lê Văn Triển và Phạm Thị Hồng Hà (1995), Huỳnh Thị Kim Hối
(1996) [30].
6
Theo tổng kết của Thái Trần Bái (2000) và cập nhật, bổ sung các dẫn liệu
mới, cho đến nay khu hệ giun đất Việt Nam đã phát hiện được 201 loài và phân
loài, thuộc 18 giống của 7 họ. Trong đó, họ Megascolecidae nhiều nhất với 181
loài và phân loài [30].
Năm 2012, trong đề tài “Khu hệ giun đất ở Đồng bằng sông Cửu Long -
Việt Nam” Nguyễn Thanh Tùng đã thống kê được 34 loài thuộc 9 giống, 6 họ.
Trong đó có 2 loài mới cho khoa học là Pheretima mangophila Nguyen, 2011 và
Pheretima thaii Nguyen, 2011; 1 loài mới gặp ở Việt Nam Drawida barwelli
(Beddard, 1886) [30].
7.2. Ở tỉnh Sơn La và khu vực nghiên cứu
Đỗ Văn Nhượng (1992 - 1995) đã tiến hành nghiên cứu giun đất ở một số
địa điểm của Sơn La như: Mộc Châu (thị trấn, Chiềng Hắc, Xuân Nha); thành
phố Sơn La; Mường La (Cao Pha); Mai Sơn (Nà Ớt) đã đưa ra danh sách gồm
42 loài phân bố ở Sơn La trong tổng số 95 loài phân bố trong toàn vùng Tây Bắc
nhiều và chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa
tập trung nhiều nhất vào tháng 7, 8, 9 cùng với địa hình hơi nghiêng và dốc.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây khô, nóng làm cho
mùa này thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình sản xuất nông -
lâm nghiệp [7]. Do đó gây khó khăn tới môi trường sống của các loài ưa ẩm
trong đó có các loài giun đất.
- Thuỷ văn
Có một hệ thống suối khá phong phú. Các suối này thường phân bố không
đều, phần lớn là các nhánh suối nhỏ, có một số hệ thống suối chính: Bó Họ,
Bung Bông và một số suối khác [7]. Nhìn chung lòng suối diện tích hẹp thuận
lợi cho người dân trồng lúa nước tạo ra các vùng đất có độ ẩm cao thuận lợi cho
các động vật ưa ẩm sinh sống trong đó có các loài giun đất.
- Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên toàn xã là 3.602,40 ha. Theo kết quả điều tra
thổ nhưỡng, trên địa bàn xã Chiềng Mung có 3 nhóm đất chính: nhóm đất Feralit
(chiếm 96,88%); nhóm đất đá vôi (chiếm 2,67%); nhóm đất đỏ vàng biến đổi do
trồng lúa (chiếm 1,15%). Phần lớn đất đai trên địa bàn toàn xã có độ dốc lớn, có tới
60% diện tích đất có độ dốc trên 25
0
, và gần 10% có độ dốc dưới 15
0
. Bên cạnh đó,
xã có diện tích thuộc khu vực cao nguyên Nà Sản là nơi phân bố các loại đất có độ
8
phì cao, tầng đất dày, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài giun đất sinh sống. Đặc
biệt là loài Pontoscolex corethrurus rất thích hợp với loại đất Feralit [7]. Hình 1. Sơ đồ khu vực nghiên cứu và vị trí các điểm thu mẫu
đồng các dân tộc gồm 4 dân tộc chính (dân tộc Thái chiếm 6,5%; dân tộc Kinh
chiếm 35%; dân tộc Mường chiếm 0,9%; dân tộc Tày chiếm 0,1%) [7]. Phần lớn
các dân tộc thiểu số có trình độ dân trí còn hạn chế, sống phân tán, rải rác và tỷ
lệ tăng dân số tự nhiên cao có nhiều tập quán về canh tác như: trồng lúa nước,
cải tạo đất vườn,…đã tạo thuận lợi cho các loài giun đất sinh sống. Bên cạnh đó,
cũng có nhiều tập quán làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đất như: chặt phá
rừng, đốt rừng làm nương rẫy, do đó gây ra tác động xấu đến sự sống của các
loài giun đất.
+ Giáo dục
Trong những năm gần đây, nền giáo dục của xã Chiềng Mung đã được đẩy
mạnh. Chất lượng giáo dục giữa các vùng ngày càng có sự chuyển biến tích cực.
Công tác giáo dục được củng cố và phát triển khá toàn diện ở các cấp học [7].
Giúp nâng cao nhận thức của người dân về bảo tồn nguồn tài nguyên sinh vật
trong đó có nhóm giun đất. Người dân biết nuôi giun đất để cung cấp nguồn đạm
cho chăn nuôi gia súc, gia cầm.
9. Phƣơng tiện và phƣơng pháp nghiên cứu
9.1. Phƣơng tiện nghiên cứu
9.1.1. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất
Dụng cụ và thiết bị: Túi vải, thước palmer, thước dây, máy ảnh Canon SX
240 HS, kính soi nổi, bộ đồ giải phẫu giun đất (khay mổ, panh kẹp, đinh ghim,
kim mũi nhọn, kim mũi mác, kéo,…),… Hóa chất dùng để xử lý sơ bộ và cố
định mẫu lâu dài: formol 2%, formol 4%.
9.1.2. Mẫu vật
Nghiên cứu này được thực hiện dựa trên kết quả phân tích của 568 cá thể
giun đất. Các mẫu giun đất hiện lưu tại phòng thực hành Bộ môn Động vật -
Sinh thái, khoa Sinh - Hóa, trường Đại học Tây Bắc.
10
9.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
9.2.1. Phương pháp thu mẫu
11
được tiến hành như sau: Cắt một đường dọc ở giữa lưng từ lỗ miệng tới hậu
môn, dùng từng cặp ghim căng thành cơ thể của giun trên bàn mổ.Trong khi
panh rộng thành cơ thể cần dùng kim nhọn tách các vách ngăn đốt, sau đó đổ
nước vào khay mổ để giữ cho mẫu không bị khô [27].
Tiến hành gỡ và quan sát cấu tạo môi, cơ quan tiêu hóa, túi nhận tinh, manh
tràng, tuyến tiền liệt, rãnh ruột, vách đốt nhằm làm rõ thêm thức ăn của giun đất
và các đặc điểm bổ sung cho công việc định loạị.
9.2.5. Phương pháp định loại mẫu vật
Trong quá trình định loại, chúng tôi căn cứ vào nhiều đặc điểm hình thái và
giải phẫu, nhận xét trên một số lượng lớn cá thể từ các địa điểm thu khác nhau.
Định loại các giống, loài giun đất chủ yếu dựa vào các tài liệu của các tác giả
Thái Trần Bái (2005), Trần Thúy Mùi (1985), Đỗ Văn Nhượng (1995), Nguyễn
Thanh Tùng (2013) [4, 24, 30].
Nguyên tắc phân loại được sử dụng là nguyên tắc phân loại học hiện đại:
Dựa vào tập hợp nhiều mẫu, căn cứ vào nhiều đặc điểm khác nhau từ hình thái
ngoài tới cấu tạo trong. Việc quan sát mẫu vật được hỗ trợ bởi kính soi nổi với
độ phóng đại từ 1 - 4 lần.
9.2.6. Phương pháp phân chia sinh cảnh
Sinh cảnh được xác định là vùng của môi trường sống đặc trưng bởi một số
các điều kiện xác định và do các quần xã đặc trưng chiếm cứ. Từ đó người ta
chia sinh cảnh thành nhiều loại khác nhau. Sự phân bố của giun đất thể hiện mối
quan hệ chặt chẽ với những dạng sinh cảnh ngay trong một vùng.
Vũ Tự Lập (1976) khi nghiên cứu cấu trúc thẳng đứng cảnh quan địa lý
miền Bắc Việt Nam và dựa vào các đại tổ hợp thực vật đã chia thành các cảnh
địa lý: cảnh bờ biển; cảnh đồng bằng; cảnh đồi núi thấp; cảnh đồi núi trung bình;
cảnh đồi núi cao; cảnh thung lũng và bồn địa; cảnh núi thấp; cảnh núi trung bình
và núi cao; cảnh đồi đá vôi; cảnh núi đá vôi [12].
Đỗ Văn Nhượng (1995) khi nghiên cứu giun đất miền Tây Bắc Việt Nam
13
Hình 3. Hình thái ngoài và cấu tạo trong của Pheretima posthuma
(theo Nguyễn Thanh Tùng, 2013)
9.2.8. Các phƣơng pháp khác
- Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng chỉ số tương đồng S (Sorensen, 1948) để phân tích mối quan hệ về
thành phần loài giun đất giữa các khu hệ giun đất khác nhau [18]. Chỉ số này
được tính theo công thức:
S =
BA
C
2
Trong đó: S là chỉ số tương đồng; A và B là tổng số loài của 2 khu hệ giun
đất cần so sánh; C là số loài trùng nhau của 2 khu hệ.
- Phương pháp kế thừa và phân tích tài liệu
Đề tài có sử dụng nhiều tài liệu như: Tài liệu về đặc điểm tự nhiên, xã hội
khu vực nghiên cứu, về công việc định loại, tính biến dị và các đặc điểm hình
14
thái, sinh sản, về đặc điểm phân bố, của nhóm giun đất. Nguồn tài liệu thu
thập được sắp xếp theo hệ thống thư mục.
- Phương pháp quan sát, chụp ảnh sinh cảnh
Quan sát đối tượng nghiên cứu, môi trường tự nhiên, đặc điểm sinh cảnh,
các thông tin về môi trường đất, thảm thực vật, độ ẩm của đất, thời điểm khi
thu mẫu, quan sát các hoạt động của giun về đào hang, hoạt động lấy thức ăn,
sinh sản, kén, hệ thống hang và các hoạt động khác Tiến hành ghi chép đầy
đủ chi tiết đặc biệt về tập tính, màu sắc, hình dạng, cách di chuyển của giun
- Nhú phụ sinh dục: Đó là các nhú trên thành cơ thể nằm gần nhú sinh dục
đực (nhú phụ vùng đực) hoặc gần các đôi lỗ nhận tinh (nhú phụ vùng nhận tinh).
Số lượng, cách sắp xếp và kích thước của nhú phụ sinh dục ở hai vùng trên ổn
định hay có sự thay đổi tuỳ mỗi loài, nhất là các loài trong giống Pheretima.
- Túi nhận tinh: Là các đôi túi với chức năng nhận tinh trùng của bạn ghép
khi ghép đôi. Cấu tạo thường gồm một túi lớn và một túi bé (diverticulum). Túi
nhận tinh đổ sản phẩm ra ngoài qua các đôi lỗ thường nằm ở các rãnh gian đốt.
Số lượng các đôi túi nhận tinh, vị trí nằm, vị trí đổ sản phẩm khác nhau ở các
loài khác nhau.
- Tơ giao phối: Một số tơ trên vành tơ ở vùng đực tham gia vào chức năng
giao phối như truyền tinh, giữ nhau khi ghép đôi.
Hình 4. Hình thái và vị trí của tinh hoàn, túi tinh hoàn (A) và túi nhận tinh (B)
của giun đất Pheretima (theo Đỗ Văn Nhượng,1995)
1. Tinh hoàn, 2. Tinh nang, 3. Ống dẫn tinh, 4. Diverticulum, 5. Túi nhận tinh, 6. Cuống.
16
PHẦN 2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CHƢƠNG 1. THÀNH PHẦN LOÀI GIUN ĐẤT Ở KVNC
1.1. Thành phần loài giun đất ở khu vực xã Chiềng Mung
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu, đề tài đã xác định được 20 loài thuộc 5
giống, 4 họ. Các loài giun đất đã gặp ở xã Chiềng Mung được giới thiệu qua
bảng dưới đây:
Bảng 1. Thành phần loài giun đất trong các sinh cảnh, các điểm thu mẫu, số
lượng và vị trí túi nhận tinh của các loài giun đất thu được ở KVNC
TT
Taxon
Sinh cảnh (%)
Các điểm thu
73,5
82,5
28,1
I, II, III, IV,
V, VI, VIII
3, 6/7/8/9
MEGASCOLECIDAE (Rosa, 1891)
Perionyx Perrier, 1872
2.
Perionyx excavatus Perrier, 1872
65,7
2,1
I, II
2, 7/8/9
VI
2, 7/8/9
6.
Ph.campanulata (Rosa, 1890)
0,8
VII
3, 6/7/8/9
7.
Ph. danangana Thai, 1894
0,8
VII
3, 5/6/7/8
8.
Ph. elongata (Perrier, 1872)
2,4
IV
0, 0
9.
Ph. guillelmi Michaelsen, 1894
1,1
Pheretima sp. 1
0,8
I
2, 5/6/7/8
14.
Pheretima sp. 2
0,8
VII
1, 6/7
15.
Pheretima sp. 3
0,8
VI
3, 5/6/7/8
17
16.
Pheretima sp. 4 1,0
17,1
IV
1, 6/7
OCTOCHAETIDAE Gates, 1959
Dichogaster Beddard, 1888
19.
Dichogaster bolaui (Mic., 1891)
0,4
I
20.
18
Mỗi loài giun đất ghi nhận ở KVNC được giới thiệu các nội dung theo thứ
tự: tên khoa học, đặc điểm chẩn loại (đối với các loài đã định loại được đến bậc
loài), đặc điểm mô tả (đối với các loài sp), phân bố, số lượng cá thể và nhận xét.
HỌ GLOSSOSCOLECIDAE (Michaelsen, 1900)
Giống Pontoscolex Schmarda, 1861
1. Pontoscolex corethrurus (Muller, 1856)
Đặc điểm chẩn loại: Kích thước trung bình: D
8
= 3,5 - 4,0 mm; D
đ
= 3,2 -
3,8 mm; L = 86 - 130 mm. Đai hở, màu vàng cam, hình yên ngựa, chiếm từ đốt
XV - XXI. Có 3 đôi túi nhận tinh ở gian đốt 6/7 - 8/9. Mỗi đốt có 4 đôi tơ, tơ
phía trước đai lệch về phía bụng, tơ sau đuôi dài và xếp xen kẽ giữa các đốt tạo
nên vòng xoắn theo chiều dọc cơ thể.
Phân bố:
+ Ở Việt Nam: Vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên, Nam Bộ [26].
+ Ở khu vực nghiên cứu: Gặp cả 4 sinh cảnh trong KVNC ở các địa điểm:
Bản Hản, Bom Cưa, Noong Phụ, tiểu khu Nà Sản, Nà Hạ 1, Nà Hạ 2.
Số lượng cá thể: 258.
Nhận xét: Loài này có vùng phân bố rộng nhất trong tất cả các loài đã gặp
Giống Pheretima Kinberg, 1867
3. Pheretima acidophila Chen, 1946
Đặc điểm chẩn loại: Kích thước trung bình: D
8
= 4,5 mm; D
đ
= 4,0 mm.
Đai kín, đủ. Thẫm màu phía lưng, nhạt màu phía bụng. Có 2 đôi lỗ nhận tinh ở
gian đốt 6/7 - 7/8. Manh tràng đơn giản (h. 1).
Phân bố:
+ Ở Việt Nam: Miền Tây Bắc [24].
+ Ở KVNC: Gặp ở sinh cảnh vườn cà phê bản Nà Hạ 1.
Số lượng cá thể: 1.
Nhận xét: Loài này gặp 1 cá thể duy nhất ở sinh cảnh đất trồng cây lâu
năm. Có đặc điểm gần với Ph. falcipapillata Thai, 1984 là cùng có nhú phụ
vùng đực dạng lưỡi liềm. Nhưng khác với Ph. falcipapillata là chỉ có 2 đôi túi
nhận tinh, có nhú phụ ở vùng đực giữa bụng.
4. Pheretima andersoni Do et Tran, 1994
Đặc điểm chẩn loại: Kích thước bé: D
8
= 1,8 mm; D
đ
= 2,0 mm; L = 40,2
mm. Đai kín, đủ. Có 1 đôi túi nhận tinh ở gian đốt 6/7 nổi rõ, bên cơ thể. Nhú
đực lớn, hình nón. Có 1 đôi nhú phụ vùng đực nằm cân về phiá bụng. Manh
tràng đơn giản.