Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của họ xylariaceae ở vườn quốc gia ba vì hà nội - Pdf 28



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Trần Tiến Dũng
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA HỌ XYLARIACEAE Ở VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ – HÀ NỘI



NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
CỦA HỌ XYLARIACEAE Ở VƢỜN QUỐC GIA BA VÌ – HÀ NỘI

Chuyên ngành: Vi sinh vật học
Mã số: 60 42 40 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TSKH. TRỊNH TAM KIỆT Hà Nội - 2014 LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:
GS. TSKH. Trịnh Tam Kiệt, người thầy đã dìu dắt tôi những bước đi đầu tiên trên con
đường nghiên cứu khoa học, thầy luôn động viên chia sẻ những lúc tôi gặp khó khăn nhất

11
1.4. Một vài đặc điểm về vườn Quốc gia Ba Vì
16
Chƣơng 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ
PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
19
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
19
2.2. Đối tượng nghiên cứu
19
2.3. Địa điểm nghiên cứu
19
2.3.1. Địa điểm thu mẫu
19
2.3.2. Địa điểm xử lý
19
2.4. Nội dung nghiên cứu
19
2.5. Thiết bị nghiên cứu
20
2.6. Phương pháp nghiên cứu
20
2.6.1. Phương pháp thu mẫu
20
2.6.2. Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật
21
2.6.3. Phương pháp phân tích mẫu vật
23
2.6.4. Phương pháp định loại nấm lớn
25

trường thạch
58
3.4.3. Sự mọc của nấm trong nuôi cấy trên giá thể
63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
68
1. Kết luận
68
2. Kiến nghị
68
TÀI LIỆU THAM KHẢO
69

1
MỞ ĐẦU
Nấm đã và đang có vai trò quan trọng trong tự nhiên, trong nghiên cứu
khoa học cũng như trong đời sống thực tiễn của chúng ta. Nấm làm biến đổi
môi trường sống của con người và không thể thiếu được trong nhiều chức năng
của hệ sinh thái. Nấm hình thành đất, khép kín vòng tuần hoàn vật chất (phân
hủy gỗ, thân và lá cây, xác côn trùng, …), tăng cường sự mọc cho cây và lựa
chọn cây từ môi trường của chúng. Nấm có thể gây ngộ độc, ký sinh trên cơ
thể con người nhưng cũng cung cấp thực phẩm, chữa lành các vết thương và
nhiều bệnh hiểm nghèo. Chính vì dựa trên cả hai phương diện khoa học và
thực tiễn, việc đẩy mạnh nghiên cứu nấm đều có ý nghĩa to lớn và ngày càng
được đẩy mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là ở các nước công
nghiệp phát triển.
Giới Nấm (Fungi) có số lượng loài lớn, bao gồm 97861 loài, 8283 chi (và

"Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của họ Xylariaceae ở
vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội".
3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Lịch sử nghiên cứu nấm trên thế giới
Nấm được xem là sinh vật có kích thước hệ sợi lớn nhất trên hành tinh
chúng ta (ở Armillaria bulbosa hệ sợi lan rộng tới 15ha, trọng lượng ước tính 10
tấn, thời gian tới 1.500 tuổi) và có giá trị to lớn trong đời sống con người từ xa
xưa [57].
Thế kỷ XVIII - XIX là giai đoạn Nấm học phát triển mạnh mẽ với nhiều
công trình nổi tiếng của các tác giả như: Bulliard (1791, 1813, 1815), Elias Fries
(1821, 1830, 1832, 1838), Saccardo (1888), Karsten (1881, 1889), Patouillard
(1890 - 1928).
Vào đầu thế kỷ XX, Nấm học phát triển rực rỡ, trở thành một ngành khoa
học thực sự [12]. Nhiều công trình nghiên cứu về nấm xuất hiện ở nhiều khu vực
khác nhau trên thế giới. Trong một thời gian ngắn (30 - 40 năm) nhiều chi nấm
mới đã được mô tả dựa vào các đặc điểm hiển vi và nhiều chi nấm cũ được xem
xét lại trên cơ sở các tiêu chuẩn phân loại hiện đại. Kết quả là đã hình thành
được một số hệ thống nấm học khá ổn định ở châu Âu, Bắc Mỹ như hệ thống
của Domanski (1960), Jahn (1963), Gilbertson and Ryvarden (1993) [53]. Trong
thế kỷ XX nhiều công trình nghiên cứu về nấm học đã được công bố, tiêu biểu
như: C. Rea (1922) [52] với công trình nghiên cứu ―British Basidiomycetes‖;
Rolf Singer (1986) [56] nghiên cứu bộ Agaricales trên toàn thế giới ―The
Agaricales in modern taxonomy‖; G. H. Cunningham (1963) công bố họ
Polyporaceae ở châu Úc và Tân Tây Lan ―The Polyporaceae of Australia and
New Zealand‖ và 1965 là ―The Polyporaceae of New Zealand‖, tổng kết tại Úc

Eriksson và Hawksworth đã ghi nhận họ Xylariaceae có 38 chi. Đến năm 1996,
Whalley đã tổng hợp các nghiên cứu trước và công bố họ Xylariaceae có 41 chi.
Tiếp tục những nghiên cứu về hệ thống phân loại nấm túi họ Xylariaceae,
năm 2001, Kirk và cs đã công bố 48 chi được công nhận trong họ Xylariaceae.
Con số này được tăng lên 64 chi vào năm 2004. Đến năm 2006, trong công bố
tiếp theo của Eriksson và cs, họ Xylariaceae đã lên tới 73 chi. Gần đây nhất,
5
Lumbsch và Huhndorf đã hệ thống lại và xác định được 77 chi (2010) trong họ
nấm túi Xylariaceae. Như vậy với 18 chi mới được phát hiện và công nhận thì
tính đến năm 2013, số lượng chi trong họ Xylariaceae đã lên 95 chi với 1354
loài được chấp nhận.
Như vậy, nấm túi Xylariaceae là họ có số lượng loài lớn nhất trong ngành
nấm túi Ascomycota với 95 chi và 1354 loài được chấp nhận. Hệ thống phân
loại của họ Xylariaceae của Lumbchs và Huhndorf (2010) là một hệ thống khá
đầy đủ, kế thừa được những nghiên cứu đi trước đồng thời tổng kết được các kết
quả nghiên cứu về phân loại phân tử và phân loại hóa học. Hệ thống này đang
được các nhà khoa học sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu phân loại nấm túi trên
thế giới.
Ngoài những nghiên cứu về khu hệ, các nhà khoa học cũng đã chú trọng
hơn những nghiên cứu thành phần loài trên cơ chất sinh trưởng của nấm. Năm
1974, khi nghiên cứu thành phần loài nấm sống trên phân động vật ăn cỏ ở vùng
Bắc Mỹ và Bắc Âu, Krug và cs đã bổ sung thêm 5 loài thuộc chi Hypocopra.
Đây cũng là công trình đầu tiên nghiên cứu về nấm túi sống trên phân động vật
và cũng là một hướng trong nghiên cứu, đánh giá đa dạng sinh học.
Năm 2007, Ju đã công bố những nghiên cứu rất thú vị về khả năng sống
trên tổ mối của 9 loài Xylaria thu được, tại Đài Loan.
1.2. Tình hình nghiên cứu Nấm ở Việt Nam

tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội lúc bấy giờ với các công trình tiêu biểu của
Nguyễn Văn Diễn (1965) đã mô tả 28 loài nấm ăn được và 10 loài nấm độc,
Trương Văn Năm (1965) ―Nghiên cứu nấm sống trên gỗ ở Lâm trường Hữu
Lũng‖; Trịnh Tam Kiệt với đề tài ―Bước đầu điều tra bộ Aphyllophorales vùng
Hà Nội‖ (1965) và ―Sơ bộ điều tra nghiên cứu các loài nấm ăn và nấm độc chính
ở một số vùng miền Bắc Việt Nam‖ (1966) [5]; P. Joly (1968) công bố các yếu
tố khu hệ nấm Việt Nam ―Elément de la flore mycologique du Vietnam‖; Trịnh
Tam Kiệt (1970) [6] đã công bố 348 loài thuộc khu hệ nấm lớn vùng Đông Bắc
Tam Đảo.
Bước sang thập niên 70, việc nghiên cứu nấm lớn đã đạt được nhiều thành
7
tựu đáng kể, tiêu biểu là các công trình của Trịnh Tam Kiệt: năm 1975 ―Đặc
điểm khu hệ nấm lớn ở miền Bắc Việt Nam‖ ―Einige charakteristika der
Grosspilzflora Nord - Vietnams‖, năm 1977 tác giả tiếp tục công bố ―Những yếu
tố hình thành khu hệ nấm lớn ở miền Bắc Việt Nam và các nhóm sinh thái của
chúng‖ [7]; cũng trong năm 1977, tác giả công bố tiếp công trình ―Góp phần
nghiên cứu hệ nấm Heterobasidiomycetidae ở Việt Nam‖ [9] và năm 1978 công
trình ―Đặc điểm khu hệ nấm phá gỗ, tre ở Việt Nam‖ [8] trong đó đã giới thiệu
400 loài nấm sống trên gỗ. Từ các kết quả trên, tác giả đã tổng kết ―Đặc điểm
khu hệ nấm lớn sống trên gỗ và tre của Việt Nam‖ [10]. Tính đến năm 1978 đã
có 618 loài thuộc 150 chi đã được ghi nhận ở miền Bắc Việt Nam. Bên cạnh đó
còn có các tác giả: Lê Văn Liễu (1977) [30] ―Một số nấm ăn được và nấm độc ở
rừng‖ với 118 loài; Joly P., Perreau J. (1977) với công trình ―Sur quelques
champignons sauvages consomnes au Vietnam Travaux dedies a Georges
Viennot-Bourgin‖ đã giới thiệu một số nấm hoang dại được sử dụng ở Việt
Nam; Pfister D. H. (1977) [51] với công trình ―Annotated index to fungi
described by Patouillard‖ đã công bố các kết quả nghiên cứu liên quan đến khu

tự nhiên ở nấm lớn Việt Nam đã được xác định cho khoa học.
Hội thảo quốc tế sinh học năm 2001 tại Hà Nội có nhiều báo cáo như:
Phan Huy Dục báo cáo ―Nấm lớn (Macromyces) ở vườn Quốc gia Tam Đảo
Vĩnh Phúc‖ [3] công bố 41 loài, 17 họ trong 2 lớp Ascomycetes và
Basidiomycetes; Trịnh Tam Kiệt và Henrich Dorfelt báo cáo ―Các taxon mới ghi
nhận cho khu hệ nấm Việt Nam và ý nghĩa của hệ thống sinh thái của chúng‖
công bố 9 loài mới cho lãnh thổ Việt Nam [18]. Cùng năm 2001, Trịnh Tam
Kiệt công bố ―Nghiên cứu chi Wolfiporia Ryv. & Gilbin ở Việt Nam‖ [19];
Kleinwachter P., Trịnh Tam Kiệt, Ngô Anh, Schlegel B., Dahse H. M, Hartl A.
và Grafe U. đã công bố 7 hoạt chất mới nhóm Triterpenoid: Colossolactones A -
G (1-7) được chiết từ loài Ganoderma colossum (Fr.) C. F. Baker được thu thập
ở Thừa Thiên Huế [46].
Năm 2003, Ngô Anh với công trình ―Nghiên cứu thành phần loài nấm lớn
ở Thừa Thiên Huế‖ đã xác định được 346 loài thuộc 134 chi nằm trong 3 ngành
9
Myxomycota, Ascomycota, Basidiomycota [1].
Năm 2004, trong một số công trình: ―Nghiên cứu dưới chi Elfvingia và
chi Tomophagus ở Việt Nam‖ Trịnh Tam Kiệt, Trịnh Thị Tam Bảo đã xác định
được 13 loài thuộc dưới chi Elfvigia và 1 loài thuộc chi Tomophagus; ―Nghiên
cứu chi Phellinus ở Việt Nam‖ đã xác định 22 loài thuộc chi Phellinus và 1 loài
thuộc chi Phylloporia; ―Nghiên cứu thành phần loài nấm đa niên thuộc họ
Coriolaceae‖ đã công bố 17 loài trong 8 chi [21].
Đến năm 2008, Trịnh Tam Kiệt với công trình ―Poisonous mushrooms of
Vietnam‖ [44]; Trịnh Tam Kiệt và Trịnh Tam Bảo [24] với công bố ―Thành
phần loài nấm dược liệu của Việt Nam‖; Trịnh Tam Kiệt và Phan Văn Hợp [25]
với công bố ―Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm sinh học của chi nấm ly
của Việt Nam‖; Đoàn Văn Vệ, Trịnh Tam Kiệt [31] với công bố ―Nghiên cứu

Thiên Huế” đã bổ sung 5 loài Xylaria mới cho khu hệ nấm Việt Nam, đưa tổng số
loài Xylaria tại Việt Nam hiện biết là 36. Gần đây nhất có đề tài: "Bước đầu
nghiên cứu đa dạng nấm túi chi Xylaria ở rừng quốc gia Cúc Phương" được thực
hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Minh Lam — Bộ môn công
nghệ sinh học I Vi sinh, Khoa Sinh học, Trường Đại học sư phạm Hà Nội.
Gần đây nhất, trong cuốn "Nấm lớn ở Việt Nam" tập 2 năm 2012, Trịnh
Tam Kiệt đã thống kê họ Xylariaceae có 69 loài thuộc 13 chi.
Ngoài các nghiên cứu về thành phần loài nấm túi họ Xylariaceae, một
hướng nghiên cứu về thành phần các hợp chất từ thể quả của các loài nấm túi
Xylariaceae ở Việt Nam cũng đã được chú ý hơn. Năm 2006, Đặng Ngọc Quang
và cs đã tách chiết và xác định được 2 loại hợp chất mới cho khoa học từ thể quả
loài Xylaria intracolorata là coloratin A và coloratin B.
Như vậy tính đến năm 2012, Việt Nam chúng ta đã công bố 13 chi với 69
loài nấm túi họ Xylariaceae. Mặc dù trong những năm gần đây, nghiên cứu về
nấm túi Xylariaceae đã có những tín hiệu tích cực hơn những con số này nhưng
vẫn chưa thể hiện hết mức độ đa dạng sinh học cũng như tiềm năng ứng dụng và
nguồn lợi từ nấm ở nước ta. Vì vậy, nghiên cứu nấm ở Việt Nam là một nhiệm
11
vụ quan trọng và bức thiết nhằm phát hiện, bảo tồn những nguồn gen quý đồng
thời bảo vệ sự đa dạng thành phần loài cũng như sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên của Việt Nam.
1.3.2. Đặc điểm sinh học họ nấm Xylariaceae
* Đặc điểm chung về hình thái và giải phẫu
Đặc điểm chung của giới Nấm gồm những cơ thể dị dưỡng (không quang
hợp) có kiểu dinh dưỡng phổ biến là hấp thụ, đôi khi cũng có kiểu dinh dưỡng
nuốt thức ăn. Cơ thể dinh dưỡng điển hình đơn bào hay đa bào dạng sợi không
có hay có vách ngăn; những trường hợp điển hình không có hay có vách ngăn;

mầm cho amíp nhày hay thể nhày chuyển động bằng roi. Chúng có thể kết hợp
với nhau từng đôi một hoặc rụng tiên mao, phân chia cho hàng loạt amíp nhày
rồi mới diễn ra sự trao đổi nguyên sinh chất (plasmogamie) và quá trình hạch
giao (caryogamie). Sau đó, diễn ra sự phân chia có tơ hình thành thể nhày nhiều
nhân 2n. Các thể nhày nhiều nhân cũng có thể kết hợp thêm những thể nhày nhỏ
khác. Khi già thể nhầy thường đặc quánh lại, bò ra trên mặt giá thể và hình
thành nên thể sinh bào tử đặc trưng cho từng loài. Tiếp ngay sau đó diễn ra quá
trình giảm nhiễm để hình thành bào tử, chúng được phát tán đi bằng thể tóc
chính thức hay thể tóc giả.
Chu trình sống của nấm nang Ascomycota: nang bào tử nảy mầm hình
thành nên hệ sợi nấm phân nhánh, có vách ngăn. Ở nhiều Ascomycetes hình
thành conidie trong giai đoạn này và có thể lặp đi lặp lại nhiều lần trong một
mùa, qua đó tăng số lượng lên gấp nhiều lần. Tiếp đó tại một vài điểm xác định
của sợi, trong những điều kiện nhất định, chúng hình thành nên cơ quan sinh sản
cái (ascogon) với vòi ở đỉnh (trichogyn) và cơ quan sinh sản đực (antheredium).
Khi tiếp xúc với nhau chúng hoà tan màng, nội chất và nhân của cơ quan sinh
sản đực đi qua vòi sang cơ quan sinh sản cái và diễn ra sự trao đổi nguyên sinh
chất. Các nhân khác tính lúc này sắp xếp từng đôi một ở xung quanh ascogon,
sau đó ascogon mọc ra những mấu lồi, từng cặp nhân và nguyên sinh chất đi ra
hình thành nên sợi sinh nang (ascogenehyphe). Cuối cùng, đầu tận cùng của sợi
sinh nang diễn ra sự hình thành nang bằng cách mọc ra mấu lồi, hai nhân khác
13
tính phân chia có tơ và hình thành vách ngăn tạo ra tế bào mẹ của nang, ở đỉnh
có hai nhân, tế bào mấu và tế bào gốc có một nhân. Sau đó tế bào mấu hoà tan
màng đổ nội chất vào tế bào gốc, tiếp tục tham gia vào quá trình sinh màng mới,
còn hai nhân của tế bào mẹ của nang kết hợp với nhau, tăng kích thước cho một
nang thực thụ thường hình chuỳ. Nhân 2n vừa kết hợp xong liền phân chia ba

Tiếp sau đó diễn ra sự phân chia hai lần, trong đó có một lần giảm nhiễm để cho
4 nhân con. Lúc này, ở phần đỉnh của giá mọc ra 4 mấu lồi, nội chất cũng như
nhân từng chiếc một đi qua mấu lồi, hình thành nên 4 đảm bào tử ngoại sinh
bằng cách nảy chồi phình lên và thắt dần lại. Bào tử chín, được phát tán một
cách chủ động vào không gian và lặp lại chu trình sống [27].
Xylariaceae có mặt khắp nơi trên thế giới đặc biệt là những vùng có khí
hậu ôn hòa và nhiệt đới. Phần lớn chúng được tìm thấy trên các bộ phận của
thực vật hạt Kín (gỗ, hạt, lá, quả ) và thực vật hạt Trần, số còn lại liên quan
đến các tổ côn trùng và tàn tích thực vật, phân, đất như các chi Hypocopra.
Poronia. Podosordarìa [12].
Hiện nay Xylariaceae được biết đến với vai trò phân hủy cellulose và
lignin, nhờ đó làm sạch 70 - 80% gỗ và lá rụng trong rừng. Như vậy
Xylariaceae có vai trò quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất và năng
lượng trong thiên nhiên, là yếu tố quan trọng làm tăng độ phì nhiêu của đất [9],
là đối tượng rất tốt cho việc nghiên cứu enzym phân giải gỗ, làm cho gỗ trở nên
mềm, xốp. Cấu trúc gỗ bị nứt, phá hủy gỗ rừng, gỗ ở nhà cửa [31]. Một số ít
trong họ Xylariaceae là tác nhân gây bệnh cổ điển như bệnh thối rễ trắng, thối
cây, mốc sương lá.
Để phân loại nấm túi nói chung và Xylariaceae nói riêng, người ta thường
sử dụng một số tiêu chuẩn hình thái như nơi sống, cơ chất, chất nền, thể quả, sợi
nấm vô tính, cấu trúc túi bào tử, bào tử, đặc điểm hóa học và trình tự gen. Sau
đây là một số đặc điểm chính để nhận dạng nấm thuộc họ Xylariaceae:
Chất nền: Hình thái, màu sắc chất nền là rất đa dạng. Đa số chất nền trong họ
Xylariaceae có màu đen, tuy nhiên cũng có rất nhiều loài trong một chi có màu
sắc khác nhau như màu vàng, màu nâu, màu trắng. Kích thước chất nền của các
15
loài trong họ Xylariaceae cũng khác nhau rõ rệt từ một vài mm đến hàng chục

16
trong quả thể, phân nhánh hoặc không phân nhánh, các sợi không hợp thành bó.
Bảo tử túi (Ascospores) của nấm Xylariaceae có thể đơn bào hay đa bào với
bề mặt nhẵn. Hình dạng bào tử thường là elip hoặc dạng trứng. màu sắc bào tử
thường dao động trong một khoảng lớn như màu nâu sáng, nâu đậm và nâu
đen
Xylaria là một chi có hình thái phức tạp và đa dạng trong họ Xylariaceae, bộ
Xylariales, lớp nấm túi, ngành nấm túi, giời nấm. Tên gọi này xuất phát từ tiếng
Hy Lạp Xylaria có nghĩa là gỗ.
* Đặc điểm về sự phân bố
Nhiều loài Xylaria được tìm thấy trên toàn thế giới. Xylaria được biết đến
là nguyên nhân chính gây thối rữa nhiều loài thực vật. Tuy nhiên quả, hạt, lá
cũng là cơ chất lí tưởng cho sự phát triển của Xylaria. Điều đó cho phép chúng
ta giả thuyết rằng những mối quan hệ với vật chủ này có thể là kết quả của sự
tiến hóa lâu dài.
Xylaria có các đặc điểm khác nhau ở các giai đoạn phát triển khác nhau. Ở
giai đoạn trưởng thành và già, phần chất nền bên trong thường trở nên rỗng.
(Xylaria cubensìs). Các loài thuộc chi Xylaria cũng có sự khác nhau rất lớn về
màu sắc, kích thước, thỉnh thoảng chúng cũng có hình dạng chung. Đây thực sự
là một điều khó khăn trong việc xác định chính xác tên trong taxon phân loại.
Mặc dù vậy việc nghiên cứu đặc điểm hình thái ngoài cũng như nuôi cấy và
nghiên cứu sinh sản vô tính cũng đã có một đóng góp vô cùng quan trọng trong
việc hình thành toàn bộ khái niệm về hệ thống phân loại chi Xylaria. Chính vì
vậy để hoàn thành được khóa phân loại hoàn chỉnh về chi này sẽ rất cần nhiều
thời gian.
1.4. Một vài đặc điểm về vƣờn Quốc gia Ba Vì
Vườn quốc gia Ba Vì là một trong 10 vườn quốc gia của Việt Nam ở phía
Tây thủ đô Hà Nội cách trung tâm thành phố 50km theo đường quốc lộ 11A và
đường 87 có toạ độ địa lý: 21
0

khu vực trung bình 25
0
, từ cốt 400m trở lên dốc hơn, độ dốc trung bình 35
0

nhiều chỗ vách đá dốc dựng đứng, xung quanh núi Ba Vì là dải đồi thấp, lượn
sóng xen kẽ đồng ruộng. Dải phía Tây nằm giữa núi Ba Vì và sông Đà hẹp gồm
các đồi thấp và ruộng nước. Dải phía Bắc và phía Đông gồm các đồi lượn sóng,
địa thế thấp, thuận lợi để xây dựng các hồ nhân tạo như: Suối Hai, Đồng Mô-
Ngải Sơn.
- Theo tài liệu điều tra lập địa cấp I vùng phục hồi sinh thái xác định diện
tích ở các dạng lập địa như sau:
+ Đất bằng nông nghiệp: 150ha (B) chiếm 2,3%.
18
+ Đất phẳng có độ dốc 3-7
0
: 250ha (P) chiếm 4,4%
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính. Phiến thạch
sét và biến chất có độ dốc 8-15
0
(SFK, SF
S
): 2.665ha chiếm 57,2%.
+ Đất Feralit phát triển trên đá mác ma kiềm và trung tính. Phiến thạch
sét và biến chất có độ dốc 16-25
0
(S

loài cây thuốc, đến năm 1992 đã ghi nhận 250 loài cây thuốc chữa nhiều bệnh. 19
Chƣơng 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Điều tra thành phần loài nấm thuộc họ Xylariaceae ở vườn quốc gia Ba
Vì, Hà Nội.
- Nghiên cứu đặc điểm sinh học của một số loài nhằm bảo tồn nguồn gen
quý và ứng dụng trong thực tiễn.
2.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài nấm thuộc họ Xylariaceae ở vườn quốc
gia Ba Vì, Hà Nội.
Để có nguyên liệu nuôi cấy tốt chúng tôi đã chọn những ống giống có cùng
ngày tuổi, cắt lấy hệ sợi ở mép colonie và nuôi cấy trên môi trường nghiên cứu.
Các chủng giống gốc hiện được lưu trữ tại Bộ mẫu Giống gốc Nấm của Phòng
Công nghệ Giống gốc Nấm - Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học -
ĐHQGHN.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
2.3.1. Địa điểm thu mẫu
Việc thu thập mẫu được tiến hành tại vườn Quốc gia Ba Vì - Hà Nội.
2.3.2. Địa điểm xử lý
Mẫu được xử lý, nghiên cứu đặc điểm sinh học, bảo quản và lưu trữ tại
Phòng Công nghệ giống gốc nấm - Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học -
Đại học Quốc Gia Hà Nội.

2.6.1. Phương pháp thu mẫu
Để thu mẫu những nấm sống trên gỗ, trên cây chúng tôi dùng dao nhọn
đục, hoặc dùng rìu nạy, tách hay bổ chúng ra khỏi giá thể. Khi tách cần lấy cả
một phần nhỏ mẫu gỗ mà trên đó nấm sống.
Ghi chép các kiểu gây mục của nấm (trắng, nâu, hỗn hợp, mục vết thương,
mục rễ, mục màng, mục thối, mục tạo nên những khoang trống nhỏ, xốp ), ở
phần nào của cây (cưa ngang để quan sát, ghi chép), tên địa phương và tên khoa

Trích đoạn Nghiên cứu sự mọc của nấm trên môi trường thạch và giá thể Sự hình thành sợi nấm trong nuôi cấy thuần khiết trên môi trường thạch
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status