BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
VŨ TUẤN DƯƠNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI NẤM
LINH CHI TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------------------
VŨ TUẤN DƯƠNG
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI
VÀ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI NẤM
LINH CHI TẠI VƯỜN QUỐC GIA BA VÌ, HÀ NỘI
luôn nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ nhiệt tình quý báu của các thầy cô giáo,
đồng nghiệp, Ban lãnh đạo vườn quốc gia Ba Vì, gia đình và bạn bè.
Nhân dịp này cho tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các cơ
quan, tổ chức và cá nhân: Khoa Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu và toàn
thể các thầy cô giáo Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp đỡ tôi hoàn thành
khoá đào tạo; GS.TS Trần Văn Mão, giáo viên hướng dẫn khoa học của luận
văn đã định hướng và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn; Lãnh
đạo vườn, Phòng khoa học hợp tác quốc tế của vườn quốc gia Ba Vì và cá
nhân ông Nguyễn Phi Truyền đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện
luận văn.
Do còn nhiều hạn chế về trang thiết bị và điều kiện nghiên cứu nên
chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót. Tôi mong muốn nhận được những
đóng góp ý kiến quý báu của các thầy cô giáo, các nhà khoa học và đồng
nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Chương Mỹ, ngày 20 tháng 9 năm 2014
Tác giả
Vũ Tuấn Dương
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................ii
MỤC LỤC ......................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG ...................................................................................vi
iv
3.2.2. Địa hình .................................................................................................. 28
3.2.3. Đặc điểm khí hậu thủy văn ................................................................... 29
3.2.4. Địa chất, thổ nhưỡng ............................................................................. 31
3.2.5. Đặc điểm hệ sinh thái, các kiểu rừng, trạng thái rừng vườn quốc gia Ba
Vì............. ......................................................................................................... 32
3.2.6. Đặc điểm kinh tế - xã hội ...................................................................... 37
3.2.7. Hoạt động du lịch .................................................................................. 38
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ............................. 40
4.1. Danh lục các loài nấm Linh Chi tại VQG Ba Vì ...................................... 40
4.2.Sự phân bố nấm Linh Chi theo các yếu tố ................................................. 43
4.2.1. Sự phân bố nấm Linh Chi theo các nhân tố phi sinh vật ....................... 43
4.2.2. Sự phân bố nấm Linh Chi theo các nhân tố sinh vật ............................. 50
4.2.3. Ảnh hưởng của các sinh vật khác đến sự phân bố nấm Linh Chi............. 56
4.2.4. Diễn thế quần xã của nấm Linh Chi ....................................................... 58
4.3.Đặc điểm một số loài nấm Linh Chi có giá trị tại khu vực nghiên cứu .... 60
4.3.1.Nấm Linh chi lưỡi cây Ganoderma applanatum ..................................... 60
4.3.2.Nấm linh chi đen Ganoderma atrum ....................................................... 61
4.3.4.Nấm linh chi xếp lớp Ganoderma lobatum ............................................. 63
4.3.5.Nấm linh chi đỏ Ganoderma lucidum ..................................................... 64
4.3.6.Nấm linh chi giả mô đen Amauroderma niger........................................ 65
4.3.7.Nấm Linh chi lỗ vàng Ganoderma oroflavum ........................................ 66
4.3.8.Nấm linh chi giả tán nhăn Amauroderma rude ....................................... 67
4.3.9.Nấm linh chi tán tròn Ganoderma rotundatum ....................................... 68
4.3.10.Nấm linh chi nhiệt đới Ganoderma tropicum ....................................... 69
4.4. Một số biện pháp bảo tồn Nấm Linh Chi tại VQG Ba Vì. ....................... 70
4.4.1. Những loài nấm cần được bảo vệ........................................................... 70
4.4.2. Đề xuất các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học nấm Linh chi ............. 72
Quản lý bảo vệ rừng
Tài nguyên rừng
UNDP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
VQG
Vườn quốc gia
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
1.1
Thành phần hoá học của nấm Linh Chi
11
1.2
Thành phần các chất có hoạt tính của nấm Linh chi
42
4.3
Phân bố số loài theo đai độ cao
44
4.4
Phân bố số cá thể các loài nấm theo đai độ cao
45
4.5
Phân bố nấm Linh Chi theo các tháng
48
4.6
Phân bố số thể quả nấm Linh Chi theo các trạng thái rừng
50
4.7
Phân bố số loài nấm Linh Chi theo các trạng thái rừng
27
3.2
Sơ đồ khí hậu Ba Vì theo Gaussen- Walter (1963)
31
4.1
Tỷ lệ các loài nấm Linh Chi phân bố theo vị trí địa lý
43
4.2
Phân bố số loài theo các đai độ cao
44
4.3
Phân bố số thể quả theo các đai độ cao
45
4.4
Sự xuất hiện nấm Linh Chi theo các tháng
57
4.14-4.23
10 loại nấm Linh Chi có công dụng được mô tả
59 - 68
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Linh Chi là một quần thể nấm thuộc họ Linh Chi Ganodermataceae,
bộ nấm Lỗ (Polyporales) lớp nấm Tán Agaricomycetes ngành nấm Đảm
Basidiomycota, có tác dụng quan trọng trong kinh tế, xã hội và môi trường.
Theo thống kê của Trịnh Tam Kiệt, tác giả của cuốn “Danh mục nấm
lớn ở Việt Nam 1980 – 2001” số loài nấm lớn Việt Nam là khoảng 22000 loài
trong đó có khoảng 1000 loài là nấm mục gỗ, 700 loài có giá trị làm
thuốc.[11]
Nhưng ngày nay cùng với sự phát triển của công nghiệp hóa, dân số
tăng nhanh, rừng núi bị tàn phá, đốt nương làm rẫy, khai thác gỗ và lâm sản
trái phép, môi trường sinh thái đang bị ô nhiễm làm cho tài nguyên thiên
nhiên bị ảnh hưởng dẫn tới nhiều loài nấm bị suy giảm hoặc tuyệt chủng trong
đó có nấm lớn và đặc biệt một số loài thuộc bộ nấm dùng làm thuốc chữa
bệnh trong đó có nấm Linh Chi.
Về phân loại nấm, những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ
quan điểm phân loại của Hibbett và M.C. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom
Fungi" mà Paul M. Kirk, Paul F. Cannon, J.A. Stalpers biên soạn trong cuốn "
Từ điển Nấm" (Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008 và đã
được Trung tâm Thông tin Quốc tế (NCBI, National Center for Biotechnical
chúng và đề xuất phương hướng bảo tồn. Một số nghiên cứu về về đặc điểm
sinh học, sinh thái học và khả năng làm thuốc của một số loài nấm mục gỗ tại
đây. Hiện nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về phân loại, đặc điểm
sinh thái và bảo tồn nấm Linh Chi.
Với những lý do trên, với mục tiêu đi sâu nghiên cứu các loài nấm Linh Chi,
xác lập các giá trị để bảo vệ sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý báu đó nhằm đưa
ra các giải pháp bảo tồn, tác giả đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu về thành phần
loài và đặc điểm sinh thái nấm Linh Chi tại vườn Quốc gia Ba Vì"
3
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1
Trên thế giới
Con người nhận thức và lợi dụng nấm đã có lịch sử 6000 năm. Về phân
loại nấm được hình thành khoảng gấn 300 năm. Năm 1729 Michell lần đầu
tiên quan sát nấm bằng kính hiển vi, đưa ra khóa phân loại. Năm 1772 trong
cuốn “ Hệ thống tự nhiên” Lineaus đưa ra 10 chi nấm. Trong một thời kỳ dài
người ta đưa thuyết 2 giới, nấm được xếp vào giới Thực vật. Các nhà nấm học
hiện đại hướng theo quan điểm nấm là một giới riêng (Kingdom Fungi).
Trong giới nấm chia thành 2 ngành, nấm nhầy và nấm thật. Về mặt lịch sử các
nhà nấm học đã xây dựng rất nhiều hệ thống phân loại theo các quan điểm
khác nhau. Trong đó có mấy hệ thống phân loại có ảnh hưởng lớn là: Bergey
(1950) phân nấm ra các lớp nấm Nhầy, nấm Túi, nấm Đảm và nấm Bất toàn.
Whitake (1969) lại phân nấm ra làm 3 giới phụ: nấm Nhầy, nấm Hai lông roi
và nấm Một lông roi, về sau mới chia ra ngành phụ nấm Lông roi, ngành phụ
yếu là dựa vào đặc điểm hiển vi. Gần 20 năm nay mới bắt đầu quan sát thông
qua kính hiển vi điện tử (TEM) và có những cống hiến lớn cho hệ thống phân
loại nấm lớn. Gần 10 năm lại đây phương pháp ứng dụng sinh học phân tử đã
bắt đầu, nhất là mấy năm nay các nhà khoa học đã sử dụng phân tích thứ tự
DNA,RNA và trở thành một lợi khí nghiên cứu mối quan hệ họ hàng các loài
nấm. Ứng dụng phân tích sinh học phân tử so với sử dụng kính hiển vi là
phương pháp chủ yếu nghiên cứu hệ thống phân loại nấm (Zhu, 2005) [46]
Sinh học hiện đại đã dùng kỹ thuật cao, phân lập nuôi dưỡng đã tìm
hiểu bản chất của sinh vật, như dùng kính hiển vi điện tử quan sát kết cấu siêu
hiển vi, đã phát hiện được nhiều chi mới.
Những năm gần đây nhiều nhà nấm học đều ủng hộ quan điểm phân loại
của Hibbett và M.C. Aime (2006) trong cuốn "Kingdom Fungi" mà Paul M.
Kirk, Paul F. Cannon, J.A. Stalpers biên soạn trong cuốn " Từ điển Nấm"
5
(Dictionary of the Fungi) xuất bản lần thứ 10 năm 2008. Chủ yếu là nâng ngành
phụ nấm Đảm ( Basidiomycotina) thành ngành chính (Basidiomycota).[35]
Về thành phần loài chủ yếu là nghiên cứu, phân loại theo hệ thống phân
loại mới của NCBI năm 2012. Nhiều tài liệu đã đề cập khá tỷ mỷ về phương
pháp thu thập ảnh mẫu.
Nghiên cứu hệ thống phân loại nấm lớn cũng đã có khoảng 200 năm lịch
sử, sớm nhất là nhà nấm học Nam Phi nổi tiếng Persoon, có trước tác là:
Synopsis Methodica Fugorum (1801) và nhà nấm học Thuỵ Điển Fries có tác
phẩm nổi tiếng là Systema Mycologicum (1821-1832); rất nhiều loài nấm
được Persoon và Fries đặt tên.(Zhao,1998) [ 46]
Ryvarden (1976-1987), Ryvarden & Johansen (1980) và Gilbertson &
Ryvarden ( 1986-1987) đều thừa nhận nấm Linh Chi cũng như các sinh vật
khác đã thể hiện tính đa dạng. Phân loại là một thế giới khách quan, nhằm 2
loại: (1) Loại nhiệt đới và Á nhiệt đới, những vùng này thích hợp với điều
kiện nước ta nói chung và Ba Vì nói riêng. Đặc điểm của các vùng này là
nhiệt độ cao, lượng mưa lớn, thời kỳ mưa kéo dài; đặc trưng của những loài
này là nấm Linh Chi nhiệt đới ( Ganoderma tropicum) nấm Linh Chi ưa nóng
(G.calidophyllum). Những vùng ôn đới, nhiệt độ thấp hơn và lượng mưa ít
hơn, hay ở những khu vực đỉnh cao của Ba Vì thường mọc các loài nấm Linh
Chi ( G. lucidum) và nấm Linh Chi tím ( G. sinense).Loài nấm lưỡi cây ( G.
applanatum) phân bố rất rộng ở tất cả các độ cao phân bố vùng nhiệt đới và
ôn đới.
Về nghiên cứu thành phần hóa học và công dụng, tổng hợp nghiên cứu
trên thế giới cho thấy: Polysaccharide có nguồn gốc từ Linh chi dùng điều trị
ung thư đã được công nhận sáng chế (patent) ở Nhật. Năm 1976, công ty
Kureha Chemical Industry sản xuất chế phẩm trích từ Linh chi có tác dụng
kháng carcinogen. Năm 1982, công ty Teikoko Chemical Industry sản xuất
sản phẩm từ Linh chi có gốc glucoprotein làm chất ức chế neoplasm. Bằng
7
sáng chế Mỹ 4051314, do Ohtsuka & al. (1977), sản xuất từ Linh chi chất
mucopolysaccharid dùng chống ung thư.
Triterpenoid đặc biệt là acid ganoderic có tác dụng chống dị ứng, ức chế
sự giải phóng histamin, tăng cường sử dụng oxy và cải thiện chức năng gan.
Hiện nay, đã tìm thấy trên 80 dẫn xuất từ acid ganoderic. Trong đó
ganodosteron được xem là chất kích thích hoạt động của gan và bảo vệ gan.
Ngoài ra nó còn có tác dụng điều hòa huyết áp, ức chế vón cục tiểu cầu, ức
chế sinh tổng hợp cholesterol trong máu.
Theo B. K. Kim, H. W. Kim & E. C. Choi (1994), thì dịch chiết nước và
methanol của quả thể Linh chi ức chế sự nhân lên của virus. Hiệu quả còn
nhận thấy trên tế bào lympho T của người nhiễm HIV-1. Phân đoạn hỗn hợp
nghiệm đó chứng tỏ Linh chi có tác dụng cải thiện công năng tim mạch, tăng
lưu lượng máu tim và động mạch vành, tăng tuần hoàn mao mạch tim [7].
+Đối với các bệnh hô hấp:
Nấm Linh chi được dùng để điều trị viêm phế quản dị ứng, hen phế
quản, hiệu quả có thể đạt tới 80%.
+Đối với các bệnh gan mật:
Linh chi có tác dụng tốt tới các bệnh gan mạn tính nhờ vào tác dụng
nâng cao chức năng gan. Theo các nghiên cứu của PGS. TS. Trịnh Xuân Hậu
(ĐH Khoa Học Tự Nhiên - ĐH Quốc Gia Hà Nội) và TS. Lê Xuân Thám
(Trung tâm Kỹ thuật Hạt nhân TP.HCM), nấm Linh chi nuôi trồng tại Việt
Nam có tác dụng bảo vệ phóng xạ khá tốt trên thực nghiệm.Với bệnh tiểu
đường: Linh chi có khả năng ổn định đường huyết ở những người bị bệnh đái
tháo đường do trợ giúp quá trình tạo glycogen, tăng cường oxy hóa axít béo,
giảm tiêu hao glucose [25].
+Đối với bệnh thấp khớp:
9
Bác sĩ Wilkinson (Anh) cho biết nấm Linh chi tỏ ra rất hiệu quả trong
điều trị viêm khớp nhờ các tác nhân chống viêm tên là ftriturpinoids, có tác
dụng tương tự corticoid [37].
+Đối với bệnh ung thư:
Các nhà nghiên cứu Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan đã thực hiện nhiều
công trình chứng minh nấm Linh chi có đặc tính tăng cường hệ miễn dịch của
cơ thể. Theo kết quả nghiên cứu trên bệnh nhân ung thư dạ dày, tử cung,...
của Trung tâm điều trị ung thư (Tokyo - Nhật Bản), tỷ lệ người bệnh dùng
nấm Linh chi sống thêm 5 năm cao hơn những người không dùng nấm [40].
Gần đây một số đề tài nghiên cứu khoa học về nấm Linh chi còn nêu ra
một số tác dụng đặc biệt quý báu của nấm Linh chi đối với một số bệnh nan y
và 3.109 loài cá nước ngọt và cá nước lợ, 1.340 loài côn trùng.
Từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm nói chung và nấm Linh Chi nói
riêng làm thực phẩm và dược phẩm. Nhà bác học Lê Qúy Đôn (1726 – 1784)
trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” và “Kiều văn tiểu lục” đã đánh giá Linh
Chi là sản vật qúy hiếm của đất rừng Đại Nam. Từ thế kỷ XIX về trước hầu
như không có công trình nào nghiên cứu về nấm lớn tại Việt Nam và phải đến
tận những năm cuối thế kỷ XIX, Palouilard. N.T(1890-1928) nhà nấm học
người Pháp đã tiến hành nghiên cứu khu hệ nấm lớn Việt Nam đã đưa danh
lục gần 200 loài nấm lớn; ông đã mô tả đặc điểm, phân bố và vị trí phân loại
của các loài nấm trong sinh giới. Đây là tài liệu đầu tiên về khu hệ nấm lớn
miền Bắc nước ta. Tác giả gặp nhiều khó khăn trong quá trình nghiên cứu,
nên số liệu chưa nhiều về mặt phân loại và định loại của một số loài nấm đến
nay vẫn còn nhiều ý kiến chưa thỏa đáng. Một số công trình nghiên cứu về
phân loại nấm của tác giả nước ngoài nghiên cứu ở Việt Nam như:
Roger(1953), Ulihg(1982), Hodge(1982), Parmasto(1986) và nhiều tác giả
trong nước được công bố. Sau năm 1954 các nhà thực vật học cũng như các
11
nhà nấm học đã bắt đầu nghiên cứu về nấm, nói chung các công trình mang
tính tổng quát này đầu tiên phải kể đến " Khu hệ nấm lớn miền Bắc" của
Trịnh Tam Kiệt (1981) đi sâu vào bản chất sinh học, sinh lý của nấm là công
trình "Một số vấn đề về nấm học" của Bùi Xuân Đồng(1977), "Khoa học bệnh
cây" của Đường Hồng Dật(1979), " Đặc điểm sinh học của một số loài nấm
phá hoại gỗ" của Trần Văn Mão(1984), " Nấm lớn Cúc Phương" của Trần
Văn Mão và cộng sự (2004). Các tác giả đi sâu vào nghiên cứu thành phần
loài và một số đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của nấm mục gỗ. Các công
trình nghiên cứu của Văn Mỹ Dung, Phạm Quang Thu về nấm ăn và nấm
dược liệu thu hái được nhiều thành quả góp phần đáng kể trong công tác
Chi (Ganoderma lucidum) như Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Thị Chính, Phạm Quang
Thu, Ngô Anh...
Viện Dược liệu - Hà Nội đã trồng nấm Linh Chi (giống Trung Quốc)
thành công vào năm 1978. Chín năm sau, năm 1987, các nhà khoa học thuộc
Ðại học khoa học tự nhiên đã chọn được giống Linh Chi mọc hoang ở rừng
núi Lâm Ðồng để nhân giống và đưa vào sản xuất tại trại trồng nấm Linh Chi
của Xí nghiệp Dược phẩm TW 24, đạt kết quả tốt vào năm 1988.
Phạm Quang Thu (1991) trong luận án phó tiến sĩ đã nghiên cứu một số
đặc điểm sinh học của nấm lim (nấm Linh chi) ở vùng đông bắc Việt nam. Đề
tài trên cơ sở phân tích hình thái, giải phẩu và dựa vào hệ thống phân loại đã
phân lập được 4 chủng nấm Linh Chi và phân bố của chúng ở những vùng
sinh thái khác nhau.
Đàm nhận(1996) nghiên cứu về thành phần nấm thuộc họ Linh chi ở
vùng Tây bắc Việt nam. Công trình đã mô tả và phân loại được 16 loài nấm
Linh chi.
Các nghiên cứu đã đi sâu phân tích các đặc điểm sinh học, hình thái,
thành phần hóa học, dược lý của nấm Linh chi cụ thể chúng được tổng hợp
như sau:
13
- Đặc điểm sinh học nấm Linh chi.
Nấm Linh chi là một loại nấm phá gỗ (có khả năng phân giải trực tiếp
cellulose thành chất dinh dưỡng) phân bố rộng rãi trong tự nhiên thích hợp
với điều kiện sinh thái rất đa dạng của các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới,
chúng mọc hầu hết trên các loại cây thân gỗ nhưng chủ yếu trên các cây bộ
đậu (Fabales). Nấm xuất hiện vào mùa mưa, trên thân hoặc trên các gốc cây.
Có những loài sống lâu năm và có những loài sống một năm, tai nấm chỉ phát
triển qua một mùa.
+ Thời vụ nuôi trồng ở Việt Nam:
Bắt đầu cấy giống từ ngày 15/1 đến 15/3 và từ 15/8 đến 15/9 (dương
lịch). Những cơ sở có điều kiện nuôi trồng bằng cách tạo điều kiện nuôi trồng
phù hợp thì có thể nuôi trồng quanh năm. Với công nghệ sản xuất sinh khối
thì không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào của môi trường bên ngoài.
- Thành phần hóa học
Thành phần hóa học chính của quả thể nấm Linh chi của Trung Quốc và
Việt Nam đã được nghiên cứu xác định và được trình bày trong bảng 1.1 dưới
đây.
Bảng 1.1: Thành phần hoá học của nấm Linh chi (Trung Quốc và Việt Nam)
TÀI LIỆU
PHÂN TÍCH CỦA VIỆT NAM
TRUNG QUỐC
Bột Linh chi
Cao Linh chi
(%)
(%)
(%)
Nước
12 - 13
0,10
0,40
THÀNH PHẦN
Chất bột
15
Chất khử
Saponin toàn phần
Polysaccharide
4-5
-
-
-
0,30
1,23
11
11
Ganoderan A, B, C
dịch
D- 6
Hạ đường huyết
Tăng tổng hợp protein, tăng
chuyển hoá acid nucleic
Steroid
Ganodosteron
Giải độc gan
Lanosporeric acid A
Ức chế sinh tổng hợp Cholesterol
Lonosterol
Triterpenoid
Ganodermic acid Mf,T-O
Ức chế sinh tổng hợp Cholesterol
Ganodermic acid R, S
Lingzhi - 8
Acid béo
Chống dị ứng phổ rộng, điều hoà
miễn dịch
Oleic acid
Ức chế giải phóng Histamin
Chú thích:(*) Histamin (từ acid amin histidin mất nhóm -COOH) có tác động
làm dãn và tăng tính thấm của mao mạch, tăng nhịp tim và tăng co bóp cơ
tim, co thắt cơ trơn và gây ngột thở (ở người hen suyễn), kích thích thần kinh,
gây đau ngứa, gây dãn mạch, nhức đầu, ức chế hiện tượng thực bào của bạch
cầu trung tính, ức chế tạo khổng thể của tế bào bạch cầu lymphocyte B và
lymphokine của tế bào T.
(**) ACE (Angiotension Converting Enzym): sự ức chế này liên quan đến
tác dụng hạ huyết áp.
Trong đó, hai nhóm được quan tâm nhiều nhất là polysaccharide và
triterpenoid.
Polysaccharide gồm 2 loại chính :
GL-A: Gal: Glu: Rham: Xyl (3,2: 2,7: 1,8; 1,0) M = 23.000 Da
GL-B: Glu: Rham: Xyl (6,8: 2,0: 1,0)
M= 25.000 Da
GL-A có thành phần chính là Gal, nên gọi là Galactan, còn GL-B có
thành phần chính là Glu, nên gọi là Glucan.
(1-3) - D -glucan, khi phức hợp với một protein, có tác dụng chống ung