Bước đầu nghiên cứu ảnh hưởng của đất bị nhiễm kim loại nặng (Chì Pb) đến thành phần loài và một số đặc điểm định lượng của bọ nhảy (Insecta Collembola) ở Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên - Pdf 12

mở đầu
Đất là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, trong đất có chứa các nhân tố vô sinh
và hữu sinh. Nhân tố hữu sinh bao gồm: Sinh vật sản xuất là các loài thực vật,
sinh vật tiêu thụ và phân huỷ là các loài động vật đất, nấm và vi sinh vật. Trong
cấu trúc hệ động vật đất, nhóm chân khớp bé (Microarthropoda) với kích thớc
cơ thể nhỏ bé (0,1 0,2 đến 2 -3 mm) thờng chiếm u thế về số lợng so với các
nhóm khác. Hai đại diện chính của chúng là nhóm Ve bét (Arachnida:Acarina)
và bọ nhảy (Insecta: Collembola). Bọ nhảy là một trong những nhóm chân khớp
nguyên thuỷ sống ở đất.
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về khu hệ và sinh thái, sinh học bọ
nhảy. Cho đến nay đã có hơn 7000 loài bọ nhảy đợc mô tả và hàng năm lại có
thêm hàng chục loài mới đợc công bố.
Bọ nhảy rất nhạy cảm với sự thay đổi của các yếu tố môi trờng. Vì vậy
trên cơ sở phân tích cấu trúc định tính, định lợng, cấu trúc u thế của bọ nhảy sẽ
hình dung đợc sự thay đổi, diễn thế sinh thái ở khu vực nghiên cứu và có thể sử
dụng chúng nh những chỉ thị sinh học tin cậy khi đánh giá tình trạng, chất lợng
đất hoặc đánh giá ảnh hởng của các yếu tố nhân tác đến môi trờng đất.
Nhìn chung, trong vài chục năm trở lại đây, những kết quả nghiên cứu về
bọ nhảy và các nhóm động vật không xơng sống ở đất, khai thác theo hớng sử
dụng chúng nh những chỉ thị sinh học cập nhật trong vấn đề khôi phục và bảo
vệ độ phì nhiêu của đất, kiểm soát và bảo vệ môi trờng đất, ngăn chăn sự phá
hoại bởi các hoạt động nhân tác dới mọi hình thức khác nhau hoặc sử dụng
chúng nh một trong tác nhân sinh học, cải tạo và nâng cao chất lợng đất đợc
công bố khá nhiều trong các tạp chí chuyên ngành hoặc hội nghị khoa học khu
vực hay quốc tế.
Việc nghiên cứu bọ nhảy ở Việt Nam đã bớc đầu đợc quan tâm và tiến
hành trên nhiều phơng diện, ở các kiểu sinh cảnh khác nhau và thờng tập trung
vào các hớng: Nghiên cứu đa dạng sinh học và khu hệ, nghiên cứu về các đặc
K30A - Khoa Sinh - KTNN 1 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
điểm sinh thái, nghiên cứu về vai trò chỉ thị sinh học của bọ nhảy trong môi tr-
ờng đất, nghiên cứu về ảnh hởng của một số tác nhân: nồng độ axit (pH), chất

thớc rất nhỏ: 0,2 0,7 mm (Neelidae ). Cơ thể bọ nhảy chia làm 3 phần:
Đầu, ngực gồm 3 đốt và bụng gồm 6 đốt . Đầu mang đôi râu (từ 4 - 6 đốt) có cơ
quan thụ cảm ở đốt râu thứ 3 và ở gốc râu, trớc vết mắt. Ba đốt ngực mang 3
đôi chân. Đốt bụng I mang phần phụ gọi là ống bụng. Phần phụ ở đốt bụng III
là quai móc (gồm một số răng và 1 lông ở gốc), đốt bụng IV mang chạc nhảy
(cơ quan giúp bọ nhảy vận động).
Để phân biệt bọ nhảy với các đại diện chân khớp khác, chủ yếu dựa vào
một số đặc điểm:
- Kích thớc: thờng từ 0,3 3 mm
- Hình dạng: gồm 3 phần đầu, ngực, bụng. Bụng gồm 6 đốt. Phần kết
thúc thân thờng có lông dạng gai nhọn, chạc nhảy ngắn hoặc dài, có đủ 3 cặp
chân ở phần ngực. Thân thờng phủ lông hay vảy, không có cánh. Giữa ngực và
bụng không thắt lại. Râu thẳng có từ 4 6 đốt [10, 20, 21, 35].
Loài bọ nhảy đầu tiên đợc miêu tả ở Thụy Điển năm 1758 là Podura
viridis, Linne. Vào những năm tiếp theo, có rất nhiều tác giả khác cũng quan
tâm tới bọ nhảy nh các công trình nghiên cứu của Muller, 1776; Templeta,
1835; Brauer, 1869; Lubbock, 1870; Sheaffer, 1899 nh ng các công trình này
mới dừng lại ở mức độ thống kê miêu tả loài mới [21].
Cho đến nay, hai công trình nghiên cứu về khu hệ bọ nhảy đợc coi là cơ
bản và đầy đủ nhất là Khu hệ bọ nhảy của Châu Âu của Gisin, 1960 và Bọ
K30A - Khoa Sinh - KTNN 3 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
nhảy Ba Lan trong mối liên hệ với khu hệ bọ nhảy thế giới của Stach (1947 -
1963) [21, 35].
Về mặt sinh học bọ nhảy, có Butcher et al, 1971, Cassagnau, 1969b
-1971a; Massousd, Pinot, 1973; Tamura; Mihara, 1977, 1981, Varshav, 1984
là các tác giả đã đi sâu nghiên cứu lĩnh vực này. Những nghiên cứu cho thấy
tính đặc trng nguyên thuỷ của bọ nhảy thể hiện ở lối sinh sản mà sự thụ tinh xảy
ra không có sự giao phối bên trong cơ thể. Sự phát triển của bọ nhảy từ lúc nở
đến lúc chết đi thờng chỉ phân biệt 2 giai đoạn: giai đoạn non (trớc lúc trởng
thành) và giai đoạn trởng thành [10, 21].

chặt chẽ cho điều kiện của đất, đồng thời soi sáng hớng khởi đầu của sự biến
đổi rất lâu từ trớc khi có lớp phủ thực vật có phản ứng (Chernova, 1988,
Taraschuk, 1995 ) [10, 43]; Những phản ứng của bọ nhảy , Acarina đối với
hoá chất độc có thể sử dụng làm chỉ thị tốt, thậm chí chỉ với các vết của chất
này trong đất (Suberta, 1988, Chernova, 1988) [10]; đặc tính phức tạp và động
thái quần xã chân khớp bé có thể sử dụng nh những chỉ thị xa về hớng của quá
trình phục hồi trên những vùng đất bị vi phạm (Eijsackers, 1983) [34]. Đối với
những thay đổi bất kì của điều kiện môi trờng sống dù là nhỏ bé cũng thờng dẫn
đến những phản ứng khá nhạy cảm và khá rõ rệt của cấu trúc quần xã chân
khớp bé ở đất (Cornabg, 1995; Eijsackers, 1983) [32, 34]. Cấu trúc của nhóm
bọ nhảy nh chỉ thị sinh học cho các điều kiện của cây trồng trong khu vực đô thị
( Kuznetzova, 1994, Chidzicke et al., 1994). Bọ nhảy là các đại diện sống trong
các khoang hốc ở đất và ở lớp thảm trên bề mặt đất, là những đối tợng nhảy cảm
với môi trờng ô nhiễm bởi kim loại nặng. Các nghiên cứu về ảnh hởng của
Cadimi, kẽm, đồng đến nhóm đối tợng này đã đợc thực hiện trong những năm
gần đây. Kết quả các nghiên cứu cho thấy những ảnh hởng thể hiện rõ hơn,
thông qua thức ăn chứa nồng độ kim loại cao hơn ở đất bị nhiễm độc bởi kim
K30A - Khoa Sinh - KTNN 5 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
loại nặng. Mặt khác, thức ăn chính của bọ nhảy là nấm, mà nấm lại có khả năng
tích lũy kim loại nặng ở nồng độ cao [39, 40]...
Có thể thấy lịch sử nghiên cứu bọ nhảy đã có từ rất lâu trên thế giới và đ-
ợc nghiên cứu một cách có hệ thống cả về khu hệ, sinh học sinh thái và vai trò
chỉ thị. Nhng ở Việt Nam thì hớng nghiên cứu về nhóm này mới chỉ bắt đầu
trong thời gian gần đây.
1.2. Tình hình nghiên cứu bọ nhảy ở Việt Nam
ở Việt Nam, công trình nghiên cứu về bọ nhảy đầu tiên là của các tác
giả nớc ngoài đó là công trình của Denis và Delamare Deboutellvile công
bố năm 1948 . Denis đã đa ra danh sách 17 loài bọ nhảy Việt Nam do
Dawydoff thu thập từ các địa phơng nh Vĩnh Phúc, Đắc Lắc, Đà Nẵng, Tây
Nguyên [21].

điều kiện sống của môi trờng nơi nghiên cứu. Từ đó, phát hiện các quy luật chi
phối sự phân bố, sự hình thành cấu trúc nhóm phản ánh mức độ ảnh hởng của
những nhân tố sinh thái đến mức độ đa dạng loài, đến sự sinh trởng và phát triển
hay sự tiêu vong của quần xã sinh vật.
Về vai trò chỉ thị sinh học: Bớc đầu đã nghiên cứu ảnh hởng của một số
nhân tố nh nồng độ axit (pH), chất độc hóa học (Dioxin), một số hóa chất bảo
vệ thực vật sử dụng trong sản xuất nông nghiệp, phân bón hữu cơ, vô cơ, một số
phơng thức canh tác, sử dụng đất, lớp thảm phủ thực vật...đến cấu trúc định tính,
định lợng bọ nhảy. Trên cơ sở phân tích các phản ứng của bọ nhảy, thể hiện qua
sự biến đổi các giá trị chỉ số định lợng: thành phần và số lợng loài, tỷ lệ các
nhóm u thế, độ phong phú và chỉ số đa dạng, chỉ số đồng đều, chỉ số tơng đồng
về thành phần loài v.v. các tác giả đã đa ra những nhận xét, đánh giá về nguyên
nhân và mức độ ảnh hởng của yếu tố môi trờng đến bọ nhảy, đến chất lợng đất
nơi nghiên cứu và đề xuất việc sử dụng bọ nhảy nh một công cụ kiểm tra sinh
thái khi đánh giá chất lợng đất nơi nghiên cứu và nh chỉ thị sinh học nhạy cảm
để đánh giá mức độ tác động của con ngời đến môi trờng đất và nớc, tình trạng
ô nhiễm, thoái hóa đất bởi các yếu tố ngoại cảnh. Có thể tóm tắt một số kết quả
nghiên cứu chính theo hớng này:
K30A - Khoa Sinh - KTNN 7 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
- Tác động của hóa chất bảo vệ thực vật nói chung (trong đó có thuốc trừ
sâu, diệt cỏ), đặc biệt là thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ, cacbonat đã làm giảm số
lợng loài, giảm tính đa dạng sinh học của hệ sinh vật đất. Thuốc trừ sâu dù sử
dụng ở nồng độ và chu kỳ nào cũng làm thay đổi cấu trúc quần xã của hệ động
vật đất và cấu trúc u thế của nhóm chân khớp. Việc phá vỡ và thay đổi cấu trúc
này dẫn đến sự gia tăng vợt trội số lợng cá thể của một hay vài loài hạt nhân,
mà mật độ của cả quần xã động vật đất đợc quy định bởi chính các loài này.
Trong nghiên cứu sinh thái học chỉ thị, việc xuất hiện sự u thế bất thờng trong
cấu trúc quần xã động vật đợc xem xét nhự một chỉ số xác định mức độ thoái
hóa của môi trờng đất (E. Chidzicke, E. Shibinska, 1994)) [25, 26].
- Nghiên cứu thực địa ở khu vực công ty Suppephotphat và hóa chất Lâm

(Bảo Hiệu) [4, 5, 27, 28].
- Để đánh giá ảnh hởng của các phơng thc khai thác, sử dụng đất đến hệ
động vật đất, nhiều đợt điều tra đã đợc thực hiện ở vùng đệm VQG Tam Đảo
(Phúc Yên, Vĩnh Phúc) với các dạng sinh cảnh: rừng tự nhiên khoanh nuôi, n-
ơng rẫy bỏ hoang sau vài vụ trồng cây ngắn ngày, đồi trồng cây ăn quả lâu năm,
đất nông nghiệp thuần, vờn quanh nhà ở...Trong hệ sinh thái nông nghiệp đất
dốc miền núi phía Bắc đã điều tra thu mẫu tại Hòa Bình, Yên Bái, Bắc Cạn, Sơn
La, Hòa Bình là những điểm thí nghiệm trồng cây lơng thực ngắn ngày với các
mô hình thí nghiệm khác nhau: đất có phủ xác hữu cơ: thân, lá ngô + lá mía;
thân ngô; thân, lá ngô...(Sơn Thịnh, Yên Bái; Na Rì, Bắc Cạn; Cò Nòi, Sơn La);
đất phủ lớp thảm thực vật tơi: cây lạc dại (nông trờng Sao Đỏ, xã Phiêng Luông,
Mộc Châu, Sơn La); đất tạo tiểu bậc thang (Na Rì, Bắc Cạn); đất trồng cây đơn
loại: ngô, mía, sắn hay trồng xen 2, 3 loại cây với nhau (Yên Thủy, Hòa Bình;
Chiềng Mai, Sơn La) v. v. Từ kết quả phân tích dẫn liệu thu đợc, các tác giả đã
nhận xét: Với kỹ thuật tạo tiểu bậc thang và phủ xác hữu cơ, giá trị các chỉ số
định lợng của bọ nhảy và giun đất ở điểm thí nghiệm đều lớn hơn so với đối
chứng. Với kỹ thuât trồng xen, trồng phủ thảm thực vật tơi: giá trị các chỉ số
K30A - Khoa Sinh - KTNN 9 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
định lợng của 2 nhóm động vật đất nêu trên ở các lô thí nghiệm cũng lớn hơn so
với đối chứng. Nh vậy, các biện pháp kỹ thuật tạo tiểu bậc thang, phủ xác thực
vật khô hoặc tơi, kỹ thuật trồng xen lạc, xen đậu hay kết hợp 2 - 3 loại cây với
nhau ở đất bằng hay đất dốc canh tác nông nghiệp đã có ảnh hởng tích cực đến
hoạt tính sinh học đất hoặc bằng việc cung cấp, bổ sung thêm nguồn dinh dỡng
cho đất, tạo thêm nhiều ổ sinh thái, nơi ẩn nấp mới hoặc bằng cách cải thiện
điều kiện môi trờng sinh thái thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển cả về số lợng
loài, mật độ, sinh khối và tính đa dạng loài của hệ sinh vật đất. Tuy nhiên, các
biện pháp kỹ thuật này cũng có mặt hạn chế, phần nào tác động tiêu cực đến độ
đồng đều của quần xã (chỉ số đồng đều J
'
có chiều hớng giảm ở đất phủ xác hữu

2.1. Đối tợng nghiên cứu
Bọ nhảy (Collembola) động vật chân khớp cỡ hiển vi, thuộc lớp côn
trùng (Insecta), ngành chân khớp (Arthropoda) sống trong môi trờng đất.
2.2. Thời gian nghiên cứu
K30A - Khoa Sinh - KTNN 11 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Từ tháng 3 năm 2006 đến tháng 8 năm 2007, với 4 đợt điều tra thực địa:
- Tháng 3 năm 2006: Thu mẫu đợt 1 (tơng ứng với mùa khô).
- Tháng 8 năm 2006: Thu mẫu đợt 2 (tơng ứng với mùa ma).
- Tháng 3 năm 2007: Thu mẫu đợt 3 (tơng ứng với mùa khô).
- Tháng 8 năm 2007: Thu mẫu đợt 4 (tơng ứng với mùa ma)
Các khoảng thời gian giữa các đợt thu mẫu chúng tôi tiến hành lọc và
phân tích mẫu, xử lý số liệu tại phòng Sinh thái môi trờng đất, viện Sinh thái và
Tài nguyên sinh vật đất, Hà Nội.
2.3. Địa điểm nghiên cứu
Làng Đông Mai, xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hng Yên -làng tái
chế chì với 4 lò tái chế chì quy mô lớn và một số xởng sơ chế ắc quy đã qua sử
dụng.
Mẫu đợc thu thập tại 8 điểm khác nhau theo sơ đồ:
K30A - Khoa Sinh - KTNN 12 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Sơ đồ thu mẫu
K30A - Khoa Sinh - KTNN 13 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
5
4
Đi Hà NộiQuốc lộ 5
Đường liên tỉnh số 388 đi Hải Dương
Làng Đông
Mai
6
B
2

B
2
A
3
1
6
A
Xóm Ngọc
N
S
W E
Lò nấu chì
Cầu vượt
Điểm 4: Vờn quanh nhà (cạnh điểm sơ chế ắc quy tại hộ gia đình).
Điểm 5: Vờn quanh nhà thuộc hộ gia đình không sơ chế ắc quy (cách
điểm 4 là 1000m).
Điểm 6A: Điểm lấy mẫu cách lò nấu chì 300m về hớng Tây.
Điểm 6B: Điểm lấy mẫu cách lò nấu chì 300m về hớng Đông.
2.4. Phơng pháp nghiên cứu
2.4.1. Vài nét khái quát về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
Làng Đông Mai thuộc xã Chỉ Đạo, huyện Văn Lâm, nằm ở phía Bắc của
tỉnh Hng Yên, cách quốc lộ số 5 khoảng 7 8 km. Đây là làng tái chế chì chủ
yếu của xã Chỉ Đạo.
2.4.1.1. Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: Không có rừng núi, biển, đảo, là khu vực đồng bằng thuần
nhất.
- Khí hậu: Nhìn chung khí hậu ở đây đồng nhất với khí hậu của vùng
đồng bằng Bắc Bộ, với lợng ma trung bình trong năm 1500 1900mm và th-
ờng tập trung vào các tháng 7, 8, 9.
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình là 80%, phân bố tơng đối đều trong các tháng

thể làm thêm một vụ đông chủ yếu là trồng ngô, khoai và các loại rau.
Ngoài ra, làng cũng có một số nghề phụ rất phát triển nh nghề tái chế chì
từ ắc quy cũ hỏng. Tái chế chì đem lại cho nhiều hộ dân làng Đông Mai đời
sống kinh tế khá giả. Song ẩn dới tất cả điều đó, không chỉ riêng Đông Mai mà
còn nhiều thôn khác trong xã, trong huyện đang tiềm ẩn nhiều hiểm họa đe doạ
đến môi trờng và sức khoẻ con ngời [29].
2.4.1.3. Quá trình phát triển của nghề tái chế ắc quy tại làng Đông Mai
Nghề nấu chì ở Đông Mai phát triển mạnh nhất vào đầu những năm
1990, sản phẩm làm ra đợc cung cấp cho các nhà máy sản xuất ắc quy.
Trớc năm 1998, những lò nấu chì nằm xen lẫn giữa các hộ trong thôn. N-
ớc thải, chất thải trong quá trình sản xuất đợc thải trực tiếp vào đất, ao và nguồn
nớc tại địa phơng. Từ năm 1998 trở lại đây, do có sự quản lý của xã, một số hộ
làm nghề trong làng bỏ vốn đầu t xây dựng một lò tái chế tập trung gồm 4 lò
nấu chì lớn tại một khu đất ven đờng, sát cánh đồng lúa cách xa làng. Cũng đã
khắc phục đợc những hạn chế của lò nấu chì thông thờng, đồng thời khắc phục
tình trạng ô nhiễm môi trờng ở làng nghề Đông Mai.
K30A - Khoa Sinh - KTNN 16 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Mặc dù đã đợc cơ giới hoá nhng hầu hết các công đoạn trong quá trình
tái chế ắc quy vẫn sử dụng phơng pháp thủ công là chủ yếu, với quy trình tái
chế ắc quy gần nh không có gì thay đổi trong những năm qua với hiệu suất tái
chế đạt khoảng từ 20% 60% [29].
2.4.1.4. Những nguy cơ đe doạ của hoạt động tái chế ắc quy
Theo tác giả Lê Đức thì sự phát thải chì từ quá trình tái chế chì từ ắc quy
là nguyên nhân chính gây ô nhiễm chì đối với môi trờng đất tại làng Đông Mai.
Số liệu phân tích 21 mẫu đất tại làng Đông Mai của tác giả Lê Đức và cộng sự
đã cho thấy cả 21 mẫu đất này đều có hàm lợng chì vợt quá tiêu chuẩn cho phép
từ 3 48 lần [11, 12].
Trên cơ sở đó, tác giả Lê Đức và cộng sự kết luận việc nấu tái chế chì đã
có ảnh hởng xấu đến chất lợng môi trờng đất ở đây. Tại một số điểm của khu
vực làng nghề Đông Mai hàm lợng chì dao động trong khoảng 659,83 mg/ kg

2.4.2. Nghiên cứu ngoài thực địa
Mẫu định lợng thu theo phơng pháp của Ghilarov, 1975 [13]. Các hố định
lợng đợc đào với kích thớc 5cmx5cmx10cm thu ở tầng A
1
(0 10cm) tại 8
điểm với khoảng cách khác nhau tính từ khu vực lò nấu và tái chế chì ra xung
quanh.Từng mẫu đất đợc cho vào túi nilon riêng biệt và buộc chặt, bên trong có
nhãn ghi đủ ngày, tháng, năm thu mẫu, sinh cảnh và địa điểm thu. Tại mỗi điểm
lấy mẫu thu 5 lần nhắc lại trong một đợt thực địa. Tổng số 160 mẫu định lợng
đã thu thập, phân tích.
2.4.3. Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm:
- Tách động vật ra khỏi đất:
Các mẫu đất thu ở thực địa về cho vào rây, đặt trên phễu, tách động vật ra
khỏi đất theo phơng pháp phễu lọc Berlese - Tullgren, dựa trên cơ sở tính h-
ớng âm của động vật đất, những động vật này sẽ chui sâu xuống khi lớp đất phía
trên bị khô dần.
+ Cấu tạo phễu:
Phễu có hình tam giác, làm bằng bìa cát tông nhẵn. Đờng kính miệng
phễu 25cm, chiều dài phễu 30 35cm. Đáy phễu có 1 lỗ nhỏ gắn với ống
nghiệm, bên trong phễu chứa dung dịch định hình để hứng mẫu. Trên miệng
phễu là rây lọc, rây lọc có đờng kính 15cm, thành bao quanh rây lọc làm bằng
sắt có chiều cao 5cm, phía dới rây lọc có gắn tấm lới lọc với đờng kính lỗ lới là
1x1mm
+ Đặt mẫu:
K30A - Khoa Sinh - KTNN 18 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
Trớc khi đặt mẫu phải đảm bảo phễu lọc, rây lọc sạch, không có bụi hoặc
vầt khác bám vào. Đặt phễu lên giá, đáy phễu gắn vào ống nghiệm nhỏ trong có
chứa dung dịch định hình (chiếm khoảng 2/3 thể tích ống nghiệm) là formon
4% hay cồn Ethylic 70
0

khi khô là đợc. Với những mẫu vật không làm tiêu bản cố định, sau khi định
loại sẽ đợc chuyển vào ống nghiệm nhỏ có chứa formon 4% hay cồn 70
0
để bảo
quản (lọ to phải ghi nhãn đầy đủ để tiện theo dõi các mẫu).
2.4.4. Xử lý số liệu
Sử dụng phơng pháp thống kê trong tính toán và xử lý số liệu (theo Grum
C và Gorny L., 1993) [43]. Các chỉ số phân tích:
+ Độ u thế (D):

N
n
D
a
=
x 100
Trong đó : n
a
Số lợng cá thể của loài a.
N Tổng số cá thể của toàn bộ mẫu theo sinh cảnh hay địa
điểm.
Độ u thế đợc phân ra 4 mức sau: (Theo Chernova, 1988) [10].
- Rất u thế : > 10,00%
- Ưu thế: 5 9,99%
- Ưu thế tiềm tàng: 2 4,99%
- Không u thế: < 2,00%
Loài u thế là những loài có độ u thế đạt giá trị từ 5% trở lên.
+ Độ thờng gặp (C):
N
N


Trong đó: S Số lợng loài.
n
i
Số lợng cá thể của loài thứ i.
N Tổng số lợng cá thể trong sinh cảnh nghiên cứu.
+ Độ đồng đều J

chỉ số Pielou
S
H
J
ln
'
'
=
Trong đó: H

- Độ đa dạng loài.
S: Số loài có trong sinh cảnh.
+ Độ tơng đồng q (%) (Sorensen)
2
100
c
q
a b
=
+
Trong đó: a Số loài có ở sinh cảnh A
b Số loài có trong sinh cảnh B

6B 5,47 83,6 1,54 0,11 0,08 1,68 12,14 38,77 49,09
3 5,77 39,1 1,69 0,13 0,19 1,7 12,12 51,77 36,11
4 6,05 3902,7 1,32 0,1 0,18 1,55 21,92 36,7 41,38
5 7,0 151,2 1,59 0,11 0,23 1,27 31,37 40,98 27,65
Nguồn: Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu cấp viện. Phòng sinh thái và
môi trờng đất (2007) [30].
Qua bảng ta có nhận xét về các yếu tố của đất nh sau:
- Độ pH: ở các nền đất khác nhau có độ chua khác nhau. Nền đất tại
điểm 2A là chua nhất với giá trị pH là 3,97 mức rất chua. Điểm 5 có độ pH
trung tính là 7,0. Các điểm còn lại (1, 2B, 6A, 6B, 3, 4) có pH ở mức chua nhẹ
đến gần trung tính
- Hàm lợng chất hữu cơ trong đất (%0M): Hàm lợng chất hữu cơ ở điểm
6A nghèo nhất là 0,98%, cao nhất là điểm 2B là 2,7%. ở các điểm còn lại có
cao hơn nhng vẫn ở mức nghèo chất hữu cơ. Sự chênh lệch về hàm lợng các chất
hữu cơ trong đất giữa các điểm nghiên cứu là không lớn lắm.
- Hàm lợng Nitơ tổng số (Nts): Hàm lợng Nts hầu hết tại các điểm
nghiên cứu đều dao động ở mức trung bình đến khá (0,08 0,16%).
- Hàm lợng Pts và Kts: Hàm lợng Pts và Kts tại các điểm nghiên cứu ở
mức trung bình đến giàu.
- Thành phần cơ giới của đất (TPCG): Mẫu đất lấy tại các sinh cảnh
nghiên cứu đợc phân tích TPCG theo 3 cấp hạt: cát (2 0,02 mm), limon (0,02
K30A - Khoa Sinh - KTNN 22 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
0,002 mm), sét (< 0,002 mm) theo sự phân cấp của FAO UNESCO, Từ
bảng 2 ta thấy nền đất tại các điểm nghiên cứu đều có TPCG nặng. TPCG của
đất tại các điểm nghiên cứu hầu nh không bị biến đổi nhiều.
- Hàm lợng chì tại các điểm nghiên cứu: Theo tiêu chuẩn Việt Nam
(7209 - 2002), đối với đất nông nghiệp, hàm lợng chì cho phép (mức đảm bảo
an toàn) là 70 ppm/ 1 kg trọng lợng khô [2, 3].
Theo số liệu thống kê ở bảng 1 ta có nhận xét:
Trong 8 điểm nghiên cứu thì có 7 điểm bị ô nhiễm chì, riêng chỉ có 1

h

-

K
T
N
N
2
4

T

- Phân bộ Neelipneona Moen et Ellis, 1984
- Phân bộ Symphypleona Borner, 1901
Trong số 71 loài bọ nhảy đã thống kê đợc thì có 57 loài đã đợc định tên,
14 loài ở dạng sp.
K30A - Khoa Sinh - KTNN 24 Trờng ĐHSP Hà Nội 2
K
3
0
A

-

K
h
o
aS
i
n
h

-

K
T
N
N



H
à

N

i

2 K
3
0
A

-

K
h
o
aS
i
n

ư

n
g

Đ
H
S
P

H
à

N

i

2 K
3
0
A

-



T
r
ư

n
g

Đ
H
S
P

H
à

N

i

2
2
4

T
r
ư

n
g

Đ
H
S
P

H

Nguyen, 2001
x
Giống Xenylla Tullberg, 1869
4 Xenylla humicola (Fabricius, 1780) x x x x
II Họ Onychiuridae Boner, 1903
Giống Tullbergia Lubbock, 1876 nec
Lie-Petersen, 1897
5 Tullbergia sp.
1
x x x
Giống Protaphorura Absolon, 1901
6 Protaphorura hortensis (Gisin, 1949) x x x
7
Protaphorura sp.
1
x x x
Giống Onychiurus Gervais, 1841
8
Onychiurus saphianus Nguyen, 2001
x x x x x x
Giống Mesaphorura Borner, 1901
K
3
0
A

-

K
h
T
r
ư

n
g

Đ
H
S
P

H
à

N

i

2
2
6
T
r
ư

n
g

Đ
H
S
P

H
à

N

T
N
N
2
7
T
r
ư

n
g



S
i
n
h

-

K
T
N
N
2
8


A

-

K
h
o
aS
i
n
h

-

K
T
N
N


2 L
u

n

v
ă
n

t

t

n
g
h
i

p


N
g
ô

N
h
ư

H


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status