0
Những nghiên cứu về thành phần loài và đặc điểm
sinh thái nấm Linh chi tại vườn Quốc gia Ba Vì
1
Đặt vấn đề
Linh chi là một quần thể nấm thuộc họ Linh chi Ganodermataceae, bộ
nấm Lỗ ( Polyporales) lớp nấm Tán Agaricomycetes ngành nấm Đảm
Basidiomycota, có tác dụng quan trọng trong kinh tế, xã hội và môi trường.
Nấm Linh chi phân bố khắp nơi, trên rễ cây lim, dẻ và cây lá rộng. Tán nấm
hình qủa thận, bán nguyệt, màu tím, đỏ, bóng. Mấy năm nay nấm Linh chi đã
được nuôi trồng ở nhiều nơi , Mặc dù nấm Linh chi có các biến dị về hình
thái, nhưng hiệu qủa chữa bệnh đều như nhau. . Thành phần hoá học chủ yếu
có:Aladdin,ricinoleic acid,fumaric acid ngoài ra còn có các axit amin,
glucose, polysacharid, nhựa cây và Hexahydroxyhexane. Nói chung nấm Linh
chi có đủ kiềm sinh học, sterol, Lactone,coumarins,weak-acid ion exchange
resin, acid amin, mỡ, chất khử điện tử...
Căn cứ vào các thí nghiệm đối với chuột bạch Linh chi co các tác dụng
trấn tĩnh, chống đau, chống chịu thiếu oxy , kéo dài thời gian tử vong. Dùng
Linh chi là chính thêm các vị thuốc khác là Bạch truật, tam thất, xuyên khung
có thể nâng cao tỷ lệ sống của động vật và giúp cho động vật thoát bệnh, khôi
phục sớm tế bào bạch cầu. Sau khi sử dụng nấm Linh chi có thể xúc tiến việc
thèm ăn, cải thiện trạng thái tinh thần, uống 20g có thể giảm tỷ lệ tim
đập.Phạm vi ứng dụng nấm Linh chi rất rộng về mặt biện chứng của Đông Y
do chúng xâm nhập vào ngũ tạng tim, phổi, gan tỳ, thận đều có thể ăn được.
Linh chi có thể chữa được các hệ thống hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá,
thần kinh bao gồm các bệnh nội, ngoại, phụ, nhi, ngũ quan. Nguyên nhân cơ
bản là Linh chi có chức năng miễn dịch mạnh khác với các thực phẩm chứa
Khi mua tốt nhất là mua linh chi khô, thời gian cất trữ càng ngắn càng tốt, bề
mặt nấm sáng, mặt sau còn bào tử.tươi, không mốc, không sâu đục và linh chi
mọc hoang sẽ tốt hơn.
3
Theo phân loại mới củaTrung tâm thông tin công nghệ sinh học Quốc tế
( National Center for Biolotechnological Information, NCBI) năm 2012 họ
nấm Linh chi thuộc bộ nấm Lỗ ( Aphyllophorales) , lớp nấm Dạng tán
(Agaricomycetes) ngành nấm Đảm ( Basidiomycota ) bao gồm các chi: nấm
Linh chi (Ganoderma) nấm Linh chi giả ( Amauroderma) nấm Linh chi bào tử
mào gà ( Haddowia) nấm Linh chi bào tử lưới ( Humphreya) nấm Linh chi dẹt
( Elfvingia) nấm Linh chi gai (Trachyderma).
Vườn Quốc gia Ba Vì (QGBV) nằm trong địa phận huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây
( nay là Hà Nội)
Quyết định thành lập: Quyết định số 17-CT ngày 16/01/1991 của Chủ tịch hội
đồng bộ trưởng về việc thành lập và phê chuẩn luận chứng kinh tế - kỹ thuật
Rừng cấm quốc gia Ba Vì. Quyết định số 407-CT ngày 18/12/1991 của Chủ
tịch hội đồng bộ trưởng về việc đổi tên thành Vườn quốc gia Ba Vì và giao
Bộ Lâm nghiệp quản lý. Vườn QGBV nằm trên vùng từ 21 độ 01' đến 21 độ
07' vĩ độ bắc và 105 độ 16' đến 105 độ 25' kinh độ đông. Với quy mô diện
tích: 7.377 ha bao gồm phân khu bảo vệ nghiêm ngặt trên cốt 400 và phân
khu phục hồi sinh thái dưới cốt 400. Vùng đệm: Vùng đệm Vườn quốc gia
Ba Vì có diện tích 14.144 ha thuộc địa phận 7 xã miền núi huyện Ba Vì.
Vườn QGBV có nhiều cảnh quan thiên nhiên ngoạn mục với nhiều con suối
bắt nguồn từ núi rừng Ba Vì quanh năm nước chảy, nhiều hồ tự nhiên và nhân
tạo (Suối Hai, Đồng Mô, Ao Vua..) gắn liền với nhiều di tích lịch sử như: đền
Thượng, đền thờ Bác Hồ. Chính những điều kiện trên đã hình thành các điểm
du lịch nổi tiếng Ao vua, Khoang xanh, suối mơ, Thác đa. Trong tháng
nấm Đảm bậc cao, trong hệ thống phân loại chúng thuộc giới nấm ( Kingdom
Fungi) ngành nấm Đảm ( Basidiomycota), lớp nấm Đảm ( Basidiomycetes),
bộ nấm Lỗ ( Aphyllophorales). Trước đây được xếp vào bộ Nấm Lỗ
( Polyporaceae), nhưng do đặc trưng hình thái đặc biệt, hình thái bên ngoài
cũng rất đặc biệt, có giá trị kinh tế nhất định, về hệ thống tiến hoá cũng có ý
nghĩa lý luận riêng, nhìều nhà Nấm học đã nghiên cứu quần thể nấm này.
Trong cuốn " Từ điển nấm học" xuất bản lần thứ 8, thừa nhận nấm Linh
chi phải được xếp thành bộ riêng ( Ganodermatales) và xếp thành 2 họ riệng :
họ nấm Linh chi (Ganodermataceae) và họ Linh chi bào tử mào ga
( Hadowiaceae) ( Hawksworth et al. 1995). Nhưng trong cuốn xúat bản lần
thứ 9 và 10 vẫn thừa nhận nấm Linh chi vẫn thuộc bộ nấm Lỗ
( Aphyllophorales)
Về giá trị kinh tế nấm Linh chi còn được gọi là cỏ Linh chi và được gọi từ
thời Đông Hán và đã ghi chép chúng có 6 màu sắc khác nhau: đỏ, xanh, vàng,
trắng, đen , tím. Chúng được lưu truyền rất rộng rãi trong dân gian Trung
Quốc, và có ảnh hưởng rất sâu sắc. Trong họ nấm Linh chi có rất nhiều loài
làm thuốc. Tục truyền đã dùng nấm Linh chi tim (Ganoderma sinensis) mọc
trên gỗ mục dùng để chữa bệnh trĩ.
Trong cuốn " Thần Nông bản thảo kinh" ( 1955) dã nêu: nấm Linh chi có
tác dụng" ích tâm khí" " nhân tâm sinh huyết" " trợ tâm xung mạch" " an
thần"," ích phế khí", " ích tỳ khí", " ích gan khí"," ích tinh khí"," ích gân
khí"," lợi quan tiết"(lợi khớp) " trị nhĩ long"( chữa điếc tai). Vì vậy nấm Linh
chi đã được sử dụng rất rộng rãi, các nhà y học cho rằng, nấm Linh chi là một
loại thuốc quý.
6
Trong cuốn" bản thảo cương mục" của Lý Thời Trân cũng xem nấm Linh
chi là một loại thuốc, đã mô tả 6 loại nấm Linh chi và ghi rằng: " Thanh chi
ngành
nấm
Đảm
(Basidiomycota
,31515
loài)
ngành
nấm
Ấm
( Chytridiomycota, 706 loài) ngành nấm Túi câu ( Glomeromycota, 169 loài)
nấm Vi bào tử (Microsporida, 1300 loài)
và nấm Tiếp hợp( Zycomycota, Cuốn xuất bản thứ 10 bổ sung thêm 2 ngành
nấm Túi cầu và nấm Vi bào tử. Nấm Túi cầu là nấm cộng sinh với rễ cây
8
trước đây xếp vào nấm Tiếp hợp. Nấm Vi bào tử là sinh vật đơn bào sản sinh
trong tế bào động vật, trước đây xếp và sinh vật nguyên thuỷ.
Cuốn "Từ điển nấm học" xuất bản lần thứ 10 tiếp nhận 6 ngành, 36 lớp,
140 bộ, 560họ, 8283 chi và 97861 loài.Lần xuất bản thứ 9 là 80602 loài,
63% phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc là vùng Nhiệt đới và
Á nhiệt đới .
Vào những năm 70-80 hầu hết các nhà nấm học đều theo hệ thống phân loại
của Ainsworth. Ông chia nấm ra các ngành phụ là ngành phụ nấm lông roi,
ngành phụ nấm tiếp hợp, ngành phụ nấm tui, ngành phụ nấm bất toàn và chia
ngành phụ nấm túi ra 6 lớp, chia nấm bất toàn ra 3 lớp. Năm 2001 bắt dầu
xuất bản cuốn từ điển nấm học và do có sư thay đổi nên đã xuất bản lần thứ
10 năm 2008 , đã điều chỉnh nhiều hệ thống phân loại xuất bản lần thứ 9, giới
nấm được chia ra 7 ngành, 36 lớp, 140 bộ, 580 họ, 8283 chi ,97861 loài.
Trong đó ngành nấm túi được chia ra 3 ngành phụ : 1 ngành phụ nấm mới là
nấm đĩa ( Pezizomycotina = Ascomycotina, không thừa nhận lớp
Ascomycetes ), ngành phụ nấm men (Saccharomycotina) và ngành phụ nấm
túi ngoài ( Taphrinomycotina). Đối với nấm Đảm các tác giả chia ra 4 ngành
phụ là : ngành phụ nấm Tán ( Agaricomycotina), ngành phụ nấm Gỉ sắt có
cuống ( Pucciniomycotina) ngành phụ nấm Phấn đen ( Ustilaginomycotina)
và ngành phụ chưa xác định vị trí ( Incertae sedis) không thừa nhận 2 lớp
nấm Đảm ( Basidiomycetes) và nấm Gỉ sắt (Urediniomycetes), công nhận
thêm một ngành phụ mới là ngành phụ nấm Tán ( Agaricomycotina) . Theo
Hawksworth
thừa nhận nấm Linh chi phải được xếp thành bộ riêng
( Ganodermatales) và xếp thành 2 họ riệng : họ nấm Linh chi
(Ganodermataceae) và họ Linh chi bào tử mào gà ( Hadowiaceae)
( Hawksworth et al. 1995).
Những loài nấm mọc trên gỗ có số loài nhiều nhất và đáng quan tâm
nhất là họ nấm Lỗ (Polyporaceae) và họ nấm Linh chi ( Ganodermataceae)
Phân loại nấm cần chú ý mấy điểm:
Về mặt hình thái phải lợi dụng các mẫu vật tươi sống để mô tả, dặc biệt
căn cứ vào màu sắc mô nấm mà chia ra 2 nhóm: nhóm Linh chi và nấm linh
chi tím. Nhóm Linh chi có 2 tầng mo nấm, chỗ gần vỏ tán có màu trắng nhạt
hoặc màu gỗ, chỗ gần ống nấm có màu nâu nhạt đến màu nâu. Nấm Linh chi
11
tím , mô nấm dều cùng màu nâu, nâu sẫm hoặc màu nâu hạt dẻ. Nám Linh chi
giả cũng chia 4ra 2 nhoàm, nhóm mô nấm màu trắng nhạt, màu sữa hoặc màu
vàng nhạt, một nhóm khác màu nâu đến nâu hạt dẻ4. Hai nhóm này không có
giới hạn rõ rệt do biến dổi khí hậu màu sắccũng có sự khác nhau, do vĩ dộ và
độ cao khác nhau màu sắc mô nấm cũng khác nhau, nguyên nhân là do nhiệt
độ tăng dần từ cao xuống thấp.
Màu sắc, độ dài và số tầng ông nấm là những đặc trưng phân loại loài, có
loài ống nâm dài mô nâm mỏng, có lơi ống nấm ngắn, mô nấm dày, một số
loài ống nấm phân tầng rất rõ.
Màu sắc của mặt ống nấm cũng là đặc trừng phân loại loài, nhưng màu sắc dó
cũng biến đổi theo từung thời kỳ, cho nên thường mất đi tính quan trọng của
sự phân loại.
Hình dạng kích thước của miệng lỗ haymiệng ống nấm cũng có những
dặc trưng khác nhau, nhưng có giới hạn nhât dịnh, nên thường được ứng dụng
đói vơi các loài nấm Lỗ ( Polyporaceae), dối với nấm Linh chi đặc điểm này
thường ít biến đổi và thường có 4-5lỗ/mm, ít loài có 7-8lỗ/mm.
Có cuống hay không có cuống là một đặc trưng quan trọng để phân loại.
Cũng có tác giả coi nhẹ vấn đề này; loại có cuống thường có các dạng cuống
mọc giữa, mọc lệch, mọc bên lưng tán, mọc bên. Tuy nhiên do diều kiện ánh
sáng có những phương thức mọc khác nhau.
Thể quả bóng hay không là do sợi nấm bề mặt tán và cuống có chất vô dịnh
hình, nhưng do phương thức mọc khác nhau cuốngt nấm thường có sự biến
đổi nên chúng chỉ là dặc trưng hỗ trợ không phải là căn cứ quan trọng. Một só
63% phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc là vùng Nhiệt đới và
Á nhiệt đới . Vì vậy các loài nấm Linh chi ở Việt Nam nói chung và ở Vườn
Quốc gia Ba Vì nói riêng có rất nhiều loài nấm Linh chi mang đặc diểm của
các vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới. Tại khu vực núi cao lại có một só loài mang
đặc điểm của vùng ôn đới như nấm Linh chi và nấm Linh chi tím. Vì vậy có
thể nói đây là một đặc điểm mà không có vườn Quốc gia nào có.
13
Về công dụng của nấm Linh chi trên thế giới các nhà nấm học đều đề cập đến
thành phần hoá học của chúng vai trò chữa các bệnh hiểm nghèo của nấm
Linh chi như . Chống khối u ác tính, ưứ chế khuếch tán tế bào ung thư; .Điều
trị và ngăn chặn sự phát bệnh tiểu đường . Giảm huyết áp, giảm đường huyết,
điều tiết mỡ nhiễm máu, giảm cholesterol.. Gan nhiễm mỡ, viêm gan mạn
tính, giải độc gây viêm gan, bảo vệ gan.Bệnh tiền liệt tuyến * phình, viêm),
dương vật mềm. Suy nhược não, trí nhớ giảm, động tác chậm chạp, thần kinh
suy nhược. Bảo vệ tim đề phòng huyết quản não tim, xúc tiến ngủ, chống mệt
mỏi.. Điều tiết nội tiết, da trắng dưỡng da, đề phòng da nhăn, chống suy lão.
Chữa và đề phòng phong thấp thần kinh toạ . Chống dị ứng, mệt mỏi, ho,
suyễn, viêm dạ dày ruột, tiêu hoá kém....
1.2. Ở Việt Nam
Việt Nam là một nước nhiệt đới, địa hình phức tạp, khí hậu và thảm
thực vật đa dạng, do đó số loài sinh vật rất phong phú. Trong giới tự nhiên
sinh vật nấm có khoảng 1.500.000 loài. Các nhà nấm học mới chỉ biết tên
70.000 loài, chiếm khoảng 5% tổng số loài. Việt Nam có điều kiện thiên nhiên
ưu đãi. Hiện nay chúng ta có bao nhiêu loài vẫn còn là một câu hỏi lớn bởi
chưa có số liệu chính xác.Từ lâu nhân dân ta đã biết dùng nấm làm thực phẩm
và dược phẩm. Nhà bác học Lê Qúy Đôn (1726 – 1784) trong tác phẩm “Vân
đài loại ngữ” và “Kiều văn tiểu lục” đã đánh giá linh chi là sản vật qúy hiếm
vệ và gây trồng các loại nấm ăn, nấm làm dược liệu đang được nhiều nước
quan tâm, các loài nấm gây trồng được đều là nấm mục gỗ như: Nấm mộc
nhĩ, nấm ngân nhĩ, nấm sò, nấm hương... Các công trình nghiên cứu của Văn
Mỹ Dung, Phạm Quang Thu về nấm ăn và nấm dược liệu thu hái được nhiều
thành quả góp phần đáng kể trong công tác nghiên cưú tình đa dạng sinh học,
sinh thái học của nấm.
Đề cập đến những loài nấm mọc trên gỗ có nhiều tác giả đề cập đến
trước hết phải kể đến Trịnh Tam Kiệt đã dày công nghiên cứu về các loài nấm
Lớn ở Việt Nam. Theo ông, Việt Nam là một trong những quốc gia có đa dạng
sinh học cao trên thế giới với khoảng 12000 loài thực vật bậc cao và 3000 loài
15
động vật có xương sống đã được mô tả, trong đó có những loài đặc hữu. Cấu
trúc địa chất độc đáo, địa lý thủy văn đa dạng, khí hậu nhiệt đới gió mùa,
những kiểu sinh thái khác nhau… đã góp phần tạo nên sự đa dạng của khu hệ
nấm Việt Nam.
Ở Việt Nam, Lê Quý Đôn (1726 - 1784) đã nhắc đến “Linh chi là một
sản vật quý hiếm của đất rừng Đại Nam”.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, những nghiên cứu về nấm của Việt Nam nói
chung và nấm lớn nói riêng được thực hiện đầu tiên từ cuối thế kỷ 19, đầu thế
kỷ 20 bởi các tác giả nước ngoài như Patouillard N. (1890, 1897, 1907, 1909,
1913, 1915, 1917, 1920, 1923, 1927, 1928), Hariot P. & Patouillard N.
(1914), Heim R. & Maleneon G. (1918)...
Ở Miền Nam Việt Nam, Phạm Hoàng Hộ (1953), Joly P. (1968), …
cũng bước đầu công bố một số loài nấm.
Ở miền Bắc Việt Nam, sau khi hòa bình lập lại, việc nghiên cứu nấm
nói chung và nấm lớn nói riêng được tiến hành ở Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội và một số cơ quan khác với các công trình của Nguyễn Văn Diễn
chi (Ganoderma lucidum) như Đỗ Tất Lợi, Nguyễn Thị Chính...
17
Chương 2
Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên
cứu
2.1- Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát:
Xác định thành phần loài và một số đặc điểm sinh thái học của nấm Linh chi.
- Mục tiêu cụ thể
Thu thập mẫu vật và xác định các loài nấm Linh chi hiện có mặ tại vườn
Quốc gia Ba Vì.
Lập bảng danh lục nấm Linh chi ở vườn QGBV.
Xác định thành phần loài nấm Linh chi ở VQGBV.
Mô tả các đặc điểm hình thái và cấu trúc hiển vi các loài nấm Linh chi.
Tìm hiểu một số đặc điểm sinh thái của nấm Linh chi trên các mặt:
Điều kiện khí tượng và khí hâu
Phân bố theo loại rừng
Phân bố theo cây chủ: tuổi cây, loài cây, vị trí cây chủ...
Phân bố theo mùa mọc
Phân bố theo độ cao so mặt biển
Phân bố theo các nhân tố khác như côn trùng , con người...
Đề xuất hướng bảo tồn tính đa dạng các loài nấm Linh chi
2.2- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nấm Linh chi
- Phạm vi về địa điểm: Vườn Quốc gia Ba Vì.
2.3- Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần loài nấm Linh chi bao gồm xác định các mẫu vật đã
Cách mọc: ...................................................................................................
Vị trí mọc trên cây chủ:......................................................................................
Mọc trong, bìa hay ngoài rừng:...........................................................................
19
Loài cây chủ:....................................................................................................
Số lượng các thể quả nấm:..................................................................................
Gây mục gì:........................................................................................................
Kiểu
rừng:............................................................................................................
Loài cây cao:..............Hvn.........D1.3........Độ tàn che:..........%
Cự ly cây:.............Cự ly hàng:..........Mật độ cây: .............................................
Cây tầng dưới: Loài cây:..........Chiều cao Hvn:..................................................
Độ che phủ:.......................%.........................................................................
Loại đất:...........................................................................................................
Tình hình vệ sinh rừng:....................................................................................
Tình hình sâu bệnh cần chú ý:.........................................................................
Nguyên nhân gây mục:....................................................................................
Độ ẩm và không khí: ......................................................................................
Khả năng lây lan mục:....................................................................................
Số lượng gốc chặt trong ô:.............Số lượng cây đổ trong ô:.........................
PHIẾU ĐIỀU TRA NẤM MỤC GỖ
Ngày lấy mẫu: ............Số ô tiêu chuẩn .............Số tuyến:.................................
Diện tích ô tiêu chuẩn:........................................................................................
Vườn quốc gia:..................................................................................................
Số hiệu mẫu:..................Số hiệu theo danh mục:................................................
Tên nấm: Tên Việt Nam:.....................................................................................
Tên khoa học:...................................................................................
Số tầng ống nấm:................................................................................................
21
Số lỗ ống nấm/1mm2:.........................................................................................
Chất mô nấm( Gỗ, bần, thịt, da, keo, than):........................................................
Đặc điểm của mô nấm:........................................................................................
Đặc điểm lỗ ống nấm:.........................................................................................
Các đặc điểm khác:.............................................................................................
Công dụng:………………………….................................................................
Chú ý đến các chỉ tiêu sau:
Thể quả và tán nấm,.Mô nấm,Ống nấm,
Cuống nấm Các kiểu mọc của cuống nấm,Thể quả bóng hay không
Đặc trưng hiển vi
Phương pháp xác định kết cấu bên trong:
Ngâm mẫu dẻ xác định
Phương pháp ngâm mẫu là phương pháp được các chuyên gia phân loại
nghiên cứu. Phương pháp này không thể thay đổi và thay thế được. Phương
pháp làm như sau: Cắt mẫu thành các miếng nhỏ ngâm vào dung dịch cồnformalin. Phương pháp pha chế như sau: nước cất 700ml, cồn 95% 250ml,
formalin 50ml, pha thành dung dịch 1000ml. Sau khi ngâm có thể đun sối với
nước một thời gian, nếu mẫu dã mềm thì không cần đun , lấy mẫu ra cắt
mỏng hoặc xé nhỏ. Nghiên cứu mẫu tươi cũng là phương pháp quan trọng,
pha chế dung dịch như trên, ngâm mẫu cho mềm, khi thu mẫu cũng có thể
mang theo nhiều bình lọ nhỏ dung dịch, ghi số mẫu cùng với mẫu bỏ vào
trong lọ.
Nói chung áp dụng phương pháp Teixera (1956), phương pháp này dã
được nhiều nhà phân loai áp dụng.
Cấu tạo vỏ tán
Hệ sợi nấm trong mô Lỗ đã được Corner dề cập đến năm 1932, Cunningham
sợi nấm, cho nên đòi hỏi phải kiên nhẫn, tỷ mỷ mới thu được hiệu quả.
23
Do sợi nấm sinh sản mỏng không màu, vách mỏng , hay đứt cho nên rất
khó quan sát, nhất là quan sát vách ngăn và nối khóa, khi quan sát dưới kính
hiển vi phải cẩn thận, tỷ mỷ. Có trường hợp sợi khung và sợi bện kết rất khó
tách ra, Corner gọi là sợi khung- bện kết.
Đảm
Bào tử đảm
Bào tử bụng
Đặc điểm sinh thái và phân bố nấm Linh chi
Điều đáng chú ý là một số loài Linh chi thuộc các loài linh chi thuộc chi
Amauroderma, nấm bào tử mào gà cuống dài (Haddowia longgipes) và Linh
chi bào tử lưới cà phê (Humphreya coffeatum) chỉ phân bố ở vùng nhiệt dới.
Theo thống kê của Zhao (2000) trên 100 loài nấm Linh chi ở Trung Quốc có
63% phân bố chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc là vùng Nhiệt đới và
Á nhiệt đới . Vì vậy các loài nấm Linh chi ở Việt Nam nói chung và ở Vườn
Quốc gia Ba Vì nói riêng có rất nhiều loài nấm Linh chi mang đặc diểm của
các vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới. Tại khu vực núi cao lại có một só loài mang
đặc điểm của vùng ôn đới như nấm Linh chi và nấm Linh chi tím. Vì vậy có
thể nói đây là một đặc điểm mà không có vườn Quốc gia nào có.
2.4.2. Phương pháp nội nghiệp
Xác định các loài nấm trong phòng thí nghiệm mẫu nấm.
Chụp ảnh các mẫu nấm
Tính toán các số liệu
Soi kính hiển vi