nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở sông đăkbla, tỉnh kon tum - Pdf 24

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
LÊ THỊ THU NGA
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN LOÀI VÀ
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA,
TỈNH KON TUM
CHUYÊN NGÀNH: SINH THÁI HỌC
MÃ SỐ: 60 42 60
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. VÕ VĂN PHÚ
Huế, năm 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các
số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực,
được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa từng được công bố ở
bất kỳ một công trình nào khác.
Tác giả
Lê Thị Thu Nga
Hoàn thành luận văn Thạc sĩ Sinh học này, tôi xin bày tỏ lòng
biết ơn sâu sắc đến Thầy giáo - PGS. TS. Võ Văn Phú, Trường Đại học
Khoa học – Đại học Huế, đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn quý Thầy giáo, Cô giáo đã tham gia
giảng dạy; quý Thầy giáo, Cô giáo Khoa Sinh - Trường Đại học
Khoa học Huế đã động viên giúp đỡ trong quá trình thực hiện đề
tài.
Xin chân thành cảm ơn các hộ ngư dân vùng xung quanh
sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum đã hỗ trợ trong quá trình thu thập tài
liệu, mẫu vật.

2.1.5.2. Khu hệ động vật 16
2.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI 17
2.2.1. Dân số 17
2.2.2. Nguồn nhân lực 18
2.2.3. Kinh tế 18
2.2.4. Cơ sở hạ tầng 19
2.2.5. Tiềm năng về du lịch 19
2.2.6. Giáo dục và Y tế 19
2.2.6.1. Giáo dục 19
2.2.6.2. Y tế 20
Chương 3. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN 21
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 21
3.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 21
3.3. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 21
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài tự nhiên 23
3.4.1.1. Thu mẫu 23
3.4.1.2. Xử lý và bảo quản mẫu cá 23
3.4.1.3. Điều tra, phỏng vấn ngư dân và nhân dân địa phương vùng nghiên cứu 23
3.4.1.4. Thu thập và tập hợp tài liệu 23
3.4.2. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 23
3.4.2.1.Phương pháp phân tích các số liệu hình thái 23
3.4.2.2. Định loại các loài cá 25
3.4.3. Đánh giá mối quan hệ thành phần loài giữa các khu hệ theo công thức tính hệ số
gần gũi của Sorencen (1948) 25
3.4.4. Các phương pháp áp dụng trong xử lý số liệu, sơ đồ, biểu đồ 26
Chương 4. THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 27
4.1. DANH LỤC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 27
4.2. CẤU TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÁ Ở SÔNG ĐĂKBLA 30

1. KẾT LUẬN 58
2. ĐỀ NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DLST Du lịch sinh thái
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH Đồng bằng sông Hồng
ĐDSH Đa dạng sinh học
FAO Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc
HST Hệ sinh thái
KBT Khu bảo tồn
KBTTN Khu bảo tồn thiên nhiên
KHCN Khoa học Công nghệ
KH & KT Khoa học và Kỹ thuật
NXB Nhà xuất bản
NTTS Nuôi trồng thuỷ sản
NN & PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SĐVN Sách Đỏ Việt Nam
Stt Số thứ tự
UBND Uỷ ban Nhân dân
VQG Vườn Quốc gia
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình 10
Bảng 2.2. Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở tỉnh Kon Tum 13
Bảng 2.3. Tốc độ gió trung bình và lớn nhất tại trạm đo thành phố Kon Tum 14
Bảng 2.4. Đặc trưng hình thái sông ngòi tỉnh Kon Tum 15
Bảng 2.5. Diện tích, dân số trung bình, mật độ dân số và tỉ lệ số dân các huyện và 17
thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum năm 2012 17
Bảng 3.1. Địa điểm các vùng thu mẫu ở sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum 21

Được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, địa hình, nguồn nước nên Tây Nguyên
là nơi hết sức lý tưởng để phát triển nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Tuy
nhiên, các địa phương trong vùng vẫn chưa phát huy hết lợi thế này. Tây Nguyên có
tiềm năng mặt nước hết sức dồi dào. Thống kê năm 2007 cho thấy, cả vùng có
56.236 ha mặt nước có khả năng đánh bắt và nuôi trồng thủy sản, trong đó Đăk Lăk
7.570 ha, Đăk Nông 932 ha, Lâm Đồng 15.360 ha, Gia Lai 11.400 ha và Kon Tum
là 20.974 ha [5].
Kon Tum là tỉnh thuộc Tây Nguyên, có vị thế thuận lợi để đẩy mạnh phát
triển nghề đánh bắt và nuôi cá nước ngọt. Kon Tum còn có hệ thống sông suối dày
đặc phân bố khắp toàn tỉnh. Trong đó, có sông Đăkbla là dòng sông nổi tiếng vùng
Tây Nguyên vì chảy ngược lên hướng Tây. Nếu như nhiều dòng sông khác ở Việt
Nam bắt nguồn từ Trường Sơn chảy về biển Đông thì sông Đăkbla lại theo hướng
Tây Trường Sơn, lẻ loi một mình, trượt dài 100km, từ địa phận huyện Kon Plong ở
phía Tây tỉnh Kon Tum về thành phố, rồi lượn vòng sang hướng Tây - Tây Nam
hợp với con sông Kroong Pô Kô từ hướng Bắc đổ xuống thành con sông lớn Sê
San hùng vĩ.
Theo đánh giá của các chuyên gia, nguồn lợi cá ở sông Đăkbla rất phong
phú, các điều kiện của môi trường khá thuận lợi cho sự sinh trưởng, phát triển của
nhiều loài cá khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nguồn lợi cá ở đây chưa
được quan tâm đúng mức. Đặc biệt, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập
đến thành phần loài và sự phân bố cá của hệ thống sông này để từ đó đề xuất biện
pháp bảo vệ và phát triển nguồn lợi. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài: "Nghiên cứu đa dạng thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở
sông Đăkbla, tỉnh Kon Tum”.
2
Chương 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở CÁC THUỶ VỰC NỘI ĐỊA VIỆT NAM
Ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu cá nội địa được đề cập từ rất sớm.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu thực sự có hệ thống về cá nước ngọt mới
bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ XIX và hầu hết là của các tác giả người nước ngoài như:

Suối Hai, Đại Lãi, Vân Trục. Còn các hồ như ruộng lúa được tiến hành điều tra ít
hơn, các vùng xa như Hà Giang, Lai Châu, Móng Cái, Quảng Bình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế,
Các công trình tiêu biểu nghiên cứu khu hệ thời kỳ này ở miền Bắc là của:
Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958): Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia. Đào
Văn Tiến, Đặng Ngọc Thanh, Mai Đình Yên (1961): Điều tra nguồn lợi sinh vật hồ
Tây; Mai Đình Yên (1962): Sơ bộ điều tra thành phần, nguồn gốc và phân bố của
chủng quần cá sông Hồng; Nguyễn Văn Hảo (1964): Dẫn liệu nguồn lợi cá hồ Ba
Bể; Hoàng Duy Hiệp, Nguyễn Duy Hảo (1964): Kết quả điều tra nguồn lợi cá sông
Mã; P. Bananescu (1967, 1970, 1971): Nghiên cứu phân họ cá Mương (Cultrinae).
Ở miền Nam cũng có một số công trình do cán bộ khoa học người Việt Nam
và người nước ngoài thực hiện như: Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964);
Fourmanvir (1965); Yamamura (1966), Kawamoto, Nguyễn Viết Trương và Trần
Thị Túy Hoa (1972), Y. Taki (1975),
Sau năm 1975, nhiều công trình nghiên cứu về thành phần loài cũng như đặc
điểm sinh học được triển khai nên đã lấp dần các điểm trắng. Các công trình gồm:
Nguyễn Hữu Dực (1982): Thành phần loài cá sông Hương, thống kê 58 loài;
Nguyễn Thái Tự (1983): Khu hệ cá sông Lam, thống kê 157 loài; Mai Đình Yên,
Nguyễn Hữu Dực (1991): Thành phần các loại cá sông Thu Bồn gồm 58 loài, sông
Trà Khúc 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái 25
loài; Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa
Bạch Loan (1992): Thành phần loài cá sông: sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ,
sông Sài Gòn và sông Đồng Nai (225 loài) [3].
4
Ở miền Trung đã có một số công bố của các tác giả sau: Dương Tuấn (1979):
Đặc điểm, thành phần loài khu hệ cá đầm Châu Trúc (39 loài); Võ Văn Phú (1995):
Thành phần cá loài cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế (163 loài); Vũ Trung Tạng
(1999): Thành phần loài cá Đầm Trà Ồ (67 loài) [65]; Nguyễn Thái Tự (1999); Khu
hệ cá Phong Nha (72 loài); Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000) “Dẫn liệu
bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị” thống kê có 83

loài cá ở vùng rừng Cao Muôn và Cà Đam, tỉnh Quảng Ngãi góp phần xây dựng khu bảo
tồn thiên nhiên” [27]; Võ Văn Phú, Lê Văn Quảng, Dương Tuấn Hiệp và Nguyễn Duy
Thuận (2011) “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá rạn san hô ven bờ đảo Cồn Cỏ
tỉnh Quảng Trị” (103 loài) [57]; Nguyễn Hữu Dực, Tống Xuân Tám (2012) "Nghiên
cứu về thành phần loài, đặc điểm phân bố và tình hình nguồn lợi cá ở lưu vực sông
Sài Gòn( 264 loài) [7]. Võ Văn Phú và Phạm Thanh Hà (2012) "Cấu trúc thành
phần loài cá ở hệ thống sông Hiếu, tỉnh Quảng trị" đã xác định được 170 loài cá của
82 giống nằm trong 52 họ của 16 bộ cá khác nhau [11], [42].
Bước sang thế kỷ thứ XXI, khi nói về phân loại học cá nước ngọt Việt Nam
chúng ta không thể không nhắc tới Nguyễn Văn Hảo (2001 và 2005) tác giả, chủ biên
công trình “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm 3 tập, mô tả các loài nước ngọt điển hình
và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng
cửa sông, đầm phá ven biển. Theo công bố này, tác giả đã thống kê được 1.027 loài
và phân loài cá thuộc 427 giống, 98 họ và 22 bộ. Trong đó, tập I (2001) dành cho họ
cá Chép (Cyprinidae) thuộc bộ cá Chép (Cypriniformes) với 11 phân họ, 103 giống,
315 loài và phân loài [12]; tập II (2005) phân loài và mô tả những loài thuộc lớp cá
Sụn (Chondrichthyes) và bốn liên bộ cá Xương (Osteichthyes): liên bộ cá Thát lát
(Osteoglossomorpha), liên bộ cá Trích (Clupeomorpha), liên bộ cá Cháo
(Elopomorpha) và liên bộ cá Chép (Cyprinomorpha) với 331 loài và phân loài thuộc
109 giống, 34 họ, 10 bộ [13]; tập III (2005) gồm 378 loài thuộc 174 giống, 63 họ và
12 bộ nằm trong 3 tổng bộ: Cá dạng mang ếch (Batrachoidomorpha), cá dạng Suốt
(Atherinomorpha) và cá dạng Vược (Percomorpha) [12],[14]. Đây được xem là bộ
sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và chi tiết nhất Việt Nam hiện nay.
6
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁ Ở KON TUM
Nghiên cứu về cá nước ngọt ở khu vực Tây Nguyên có các tác giả: Nguyễn
Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994): Thành phần loài ở một số sông suối của Tây
Nguyên (82) loài; Nguyễn Thị Thu Hè (2003): Thành phần loài cá ở sông suối Tây
Nguyên (138 loài) [16].
Ở Kon Tum hiện nay vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu về cá, chỉ có

giáp tỉnh Quảng Ngãi với đường ranh giới dài khoảng 74km. Phần lớn diện tích
của tỉnh nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn [5], [61].
2.1.2. Địa hình, địa mạo và thổ nhưỡng
2.1.2.1. Địa tầng
Trên địa bàn tỉnh Kon Tum phổ biến các đơn vị địa tầng có tuổi từ cổ đến
trẻ. Các thành tạo tuổi cổ bao gồm 3 phức hệ biến chất, các thành tạo tuổi trẻ hơn
bao gồm 10 hệ tầng. Các thành tạo địa tầng về quy mô phân bố cũng như thành
phần vật chất rất đa dạng, dựa vào thời gian thành tạo có thể phân chia và mô tả các
phân vị địa tầng theo thứ tự như sau [61].
* Hệ tầng A Vương (
ε
-O
1
av)
Hệ tầng A Vương bao gồm các trầm tích lục nguyên xen các thấu kính hoặc
lớp mỏng phun trào mafic, silic, đá phiến đen, cuội kết, đá hoa, chúng bị biến chất
không đều ở nhiều mức độ khác nhau. Tập hợp các đá của hệ tầng A Vương chủ
yếu là đá phiến thạch anh-sericit, đá phiến sét silic xen kẹp nhiều lớp quarzit, đá
phiến sét than, lớp mỏng phun trào acit biến đổi, thấu kính đá vôi, đá vôi đolomit,
sét vôi. Ngoài ra còn có đá phiến sét vôi, vôi sét.
* Hệ tầng Cư Brei (D
1
cb)
Hệ tầng Cư Brei lộ ra 2 diện nhỏ ở vùng Cư Brei và ở vùng làng Rẽ. Thành
phần thạch học gồm cuội kết, cuội sạn cát kết phân lớp dày, thành phần cuội chủ
yếu là thạch anh mài tròn tốt, ít granit aplit, granit gneis, đá phiến kết tinh và đá
gneis, các hòn cuội đều bị ép dẹt.
8
* Hệ tầng Chư Prông (P
2

* Hệ tầng Đại Nga (B/N2 đn)
Thành tạo phun trào bazan hệ tầng Đại Nga phân bố ở phía Bắc và Đông
Bắc. Các thành tạo lộ ra ở những diện rộng ở các xã Măng Cành, Xã Hiếu, Văn
Xuôi thuộc huyện Kon Plong. Không có trầm tích xen kẽ, không có các lớp mỏng
bazan phong hoá thành đất đỏ. Đá phổ biến dạng vi hạt màu xám, xám đen, cấu tạo
khối đặc sít, hoặc lỗ hổng, hạnh nhân, kiến trúc đặc trưng là porphyr với nền ophit,
đolerit hoặc gian phiến.
* Hệ tầng Túc Trưng (B/N
2
-Q
1
tt)
Phân bố chủ yếu ở phía Nam, Tây Nam và một phần nhỏ ở phía Tây Bắc của
tỉnh. Ở phía Nam diện phủ của các thành tạo khá lớn và đẳng thước, kéo dài theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam. Phân bố trên diện tích các xã Ia Chim, Đoàn Kết, Hoà
9
Bình. Một số diện lộ nhỏ dạng thấu kính, elip phân bố ở xã Đăk Long với diện tích
từ 0,5- 6km
2
.
* Trầm tích hệ Đệ tứ không phân chia (Q)
Trên diện tích toàn tỉnh Kon Tum, các thành tạo hệ Đệ tứ phân bố rộng rãi
dọc theo các thung lũng sông lớn, các bậc thềm, các đứt gãy định hướng thung lũng.
Các thành tạo hệ Đệ tứ phân bố thành 3 khu vực chính: Dải thứ nhất dọc theo đứt
gãy lớn đới Pô Kô theo hướng kinh tuyến; dải thứ 2 dọc theo thung lũng và các đứt
gãy lớn hướng Tây Bắc- Đông Nam từ Đăk Tô về Đăk Hà; dải thứ 3 phân bố dọc
theo sông Đăk Bla và lân cận thung lũng thành phố Kon Tum. Ngoài ra, còn phân
bố rải rác dọc theo các sông suối nhỏ như, Đăk Rve, Đăk Ruồng,…thành phần
thạch học gồm sỏi, tảng, sạn, cát, sét bở rời [61].
Như vậy, lãnh thổ Kon Tum hầu hết được cấu tạo bởi các phức hệ trầm tích,

256.870 ha, chiếm 24% tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Độ cao trung bình đạt 800m-
1000m, địa hình có độ dốc trên 25
0
chiếm khoảng 80% diện tích của vùng, phần diện
tích tương đối bằng (độ dốc dưới 8
0
) chỉ chiếm có 6,0%. Trên dạng địa hình này độ che
phủ của thảm thực vật còn thấp, do tác động chặt phá rừng của con người, hiện chỉ còn
lại phổ biến là rừng tre, rừng trồng manh mún, nương rẫy và đất trống đồi trọc. Với thảm
thực vật đang giảm, khi mùa mưa đến là cơ hội cho trượt lở đất xảy ra.
- Vùng thung lũng: Phân bố chủ yếu ở thành phố Kon Tum, huyện Đăk Hà,
huyện Sa Thầy, phía Nam huyện Đăk Tô và phía Đông huyện Ngọc Hồi, thuộc thung
lũng các sông Pô Kô, Đăk Bla và Sa Thầy (các nhánh của sông Sê San). Độ cao trung
bình đạt 600m - 700m. Vùng này có diện tích khoảng 261793 ha, chiếm 25% tổng diện
tích tự nhiên của tỉnh. Địa hình dốc trên 10
0
- 25
0
chiếm khoảng 38% diện tích của
vùng, phần diện tích tương đối bằng (độ dốc dưới 8
0
) chiếm khoảng 14% [61].
Bảng 2.1. Phân loại diện tích tự nhiên theo độ dốc địa hình
STT Độ dốc Đơn vị tính Vùng núi cao Vùng núi thấp Vùng thung lũng Toàn tỉnh
1 < 8
0
ha
%
4250
0,8

81500
31,1
99030
9,4
4
> 25
0
ha
%
521757
97,1
206720
80,5
99743
38,1
828220
78,4
5 Cộng
ha
%
537207
100
256870
100
261793
100
1055870
100
Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013
11

của các nhóm đất chính đa phần là trung bình hoặc nghèo, độ chua và độ bazơ thấp.
Đất có khả năng nông nghiệp chủ yếu là các loại đất xám trên phù sa cổ, đất xám
trên đá mắcma axít, đất phù sa được bồi và đất phù sa có tầng loang lổ. Ở một số
vùng có tầng dày canh tác rất phù hợp với phát triển cây công nghiệp dài ngày (Đăk
Hà, Ngọc Hồi, thành phố Kon Tum).
2.1.3. Đặc điểm khí hậu
Kon Tum thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo với hai mùa
mưa khô rõ rệt trong năm, được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Bức xạ: Kon Tum nằm trong khu vực nội chí tuyến nên hàng năm có 2 lần
mặt trời qua thiên đỉnh, trong năm cán cân bức xạ luôn luôn dương. Bức xạ tổng
cộng thực tế cả năm lên đến 140 - 150 kcal/cm
2
, tháng ít nhất không dưới 10
kcal/cm
2
. Cân bằng bức xạ năm là 90 - 95 kcal/cm
2
[5], [61].
- Nắng: Tính chất của khí hậu có hai mùa mưa - khô nên số giờ nắng ở Kon
Tum khá lớn với tổng số giờ nắng hàng năm vào khoảng trên dưới 2371 giờ, số
tháng có nhiệt độ trên 20
0
C và số tháng có trên 200 giờ nắng chiếm đa số, trong đó
tháng 2 có giờ nắng cao nhất đạt 274 giờ. Ngược lại, trong mùa mưa có những
tháng dưới 150 giờ nắng, trong đó tháng 8 có số giờ nắng thấp nhất là 121 giờ và có
những ngày chỉ đạt 2-3 giờ nắng ( Bảng 2.2) [5], [61].
- Nhiệt độ, độ ẩm: Chế độ nhiệt khá dồi dào và phong phú, không những
quanh năm cao mà còn ổn định. Nhiệt độ trung bình năm từ 23,4
0
C, biên độ nhiệt

Bảng 2.2. Nhiệt độ không khí, số giờ nắng và lượng mưa ở tỉnh Kon Tum
Tháng Ttb (
0
C) Tmax (
0
C) Tmin (
0
C) Giờ nắng (giờ) Lượng mưa (mm)
I 20.4 33.8 5.5 262 1.4
II 22.2 36.2 7.9 244 10.4
II 24.4 37.1 8.7 274 33.8
IV 25.7 37.9 15.5 231 87.7
V 25.5 39.0 18.0 201 227.5
VI 24.7 35.6 18.8 147 243.5
VII 24.2 33.3 18.1 129 325.0
VIII 24.2 32.6 18.0 121 339.3
IX 23.8 32.6 17.5 122 290.2
X 23.3 33.5 11.9 181 167.3
XI 22.0 32.3 8.9 210 52.6
XII 20.5 32.8 5.9 249 10.2
Năm 23.4 39.0 5.5 2371 1788.9
Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013
14
Về phân bố mưa theo không gian có sự không đều giữa các khu vực trong
tỉnh. Vùng thung lũng thành phố Kon Tum, thung lũng sông Pô Kô có lượng mưa
năm nhỏ nhất, khoảng dưới 1800 mm. Từ đây lượng mưa năm tăng dần theo hướng
Đông Bắc và hướng Tây Băc, vùng núi cao Ngọc Linh với lượng mưa năm biến
động từ 2500 mm đến 2800 mm và vùng nam Sa Thầy - Chư Pah nơi thuận lợi hội
tụ của gió mùa Tây Nam với lượng mưa năm biến động từ 2400 mm đến 2600 mm.
Trên thực tế, những khu vực có lượng mưa lớn, địa hình dốc cũng là nơi xảy ra

Diện tích
lưu vực
(km
2
)
Chiều dài
sông (km)
Mật độ
sông
(km/km
2
)
Hệ số uốn
khúc
Độ dẻo
(%o)
Độ cao bình
quân lưu vực
(m)
Đăkbla 3.507 144 0,49 2,03 4,0 963
Đăk Psi 869 80.5 0,42 1,71 2,7 1.216
Sa Thầy 1.152 104 0,30 1,24 2,3 673
PôKô 3.530 121 0,56 1,84 2,1 874
Sê San 11.450 230 0,45 1,45 2,9 737
Nguồn: Niêm giám thống kê Kon Tum, năm 2013
Bên cạnh đó, nguồn nước ngầm ở Kon Tum rất phong phú. Nước ngầm trong
thành tạo Bazan đóng vai trò chủ yếu nhất, sau đó là thành tạo Neogên, mực nước
ngầm ở khu vực nghiên cứu thường phân bố ở độ sâu từ 10- 25m.
Hầu hết các sông đều có chiều dài lớn, đi qua nhiều dạng địa hình dốc, cắt xẻ
mạnh, lòng sông hẹp và không ổn định nên nhiều đoạn hiện tượng xói lở bờ sông

vùng tây nam Kon Tum (huyện Sa Thầy). Bò rừng có: bò tót (hay con min) tên khoa
học Bosgaurus thường xuất hiện ở các khu rừng thuộc huyện Sa Thầy và Đăk Tô;
bò Đen Teng tên khoa học Bosjavanicus. Trong những năm gần đây, ở Sa Thầy, Đăk
Tô, Konplong đã xuất hiện hổ, đây là dấu hiệu đáng mừng về sự tồn tại của loài thú
quý này. Ngoài ra, rừng Kon Tum còn có gấu chó, gấu ngựa, chó sói.
Bên cạnh các loài thú, Kon Tum còn có nhiều loại chim quý cần được bảo vệ
như công, trĩ sao, gà lôi lông tía và gà lôi vằn. Trong điều kiện rừng bị xâm hại, việc
săn bắt trái phép ngày một gia tăng, môi sinh luôn biến động đã ảnh hưởng đến sự

Trích đoạn TÍNH ĐẶC HỮU TRONG THÀNH PHẦN LOÀI CÁ SÔNG ĐĂKBLA TÌNH HÌNH KHAI THÁC NUÔI TRỒNG Khai thác hợp lý Tuyên truyền, giáo dục, khuyến khích kinh tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status