Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây có củ tại xã nam viêm thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc - Pdf 29

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA SINH - KTNN

====== ĐỖ THỊ TRANG
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG THÀNH PHẦN
LOÀI CÂY CÓ CỦ TẠI XÃ NAM VIÊM –
THỊ XÃ PHÚC YÊN – TỈNH VĨNH PHÚC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. DƢƠNG THỊ THANH THẢO
TS. LÊ ĐỒNG TẤN

HÀ NỘI, 2014
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang K36B - Sinh
LỜI CẢM ƠN
Hà Nội, ngày 27 tháng 05 năm 2014.
Ngƣời thực hiện Đỗ Thị Trang
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang K36B - Sinh
MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Các nghiên cứu về đa dạng thực vật 3
1.1.1. Những nghiên cứu về thành phần loài 3
1.1.2. Những nghiên cứu về dạng sống thực vật 4
1.2. Những nghiên cứu về cây có củ 5
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 11
2.1. Đối tƣợng nghiên cứu 11
2.2. Phạm vi nghiên cứu 11
2.3. Thời gian nghiên cứu 11
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu 11
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 14
3.1. Thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm 14
3.2. Tính đa dạng về dạng sống của cây có củ tại xã Nam Viêm 18
3.3. Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm 19
3.4. Tình hình canh tác và sử dụng cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.1. Tình hình canh tác cây có củ tại xã Nam Viêm 20
3.4.2. Giá trị sử dụng của các loài cây có củ 21
3.5. Đề xuất biện pháp phát triển và bảo tồn tài nguyên cây có củ tại xã Nam
Viêm 28
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31

đƣợc tiêu thụ bởi những ngƣời nghèo nhất, nhƣng nó lại đóng góp đáng kể
cho an ninh lƣơng thực cũng nhƣ đƣợc dùng làm nguyên liệu cho quá trình
sản xuất công nghiệp. Đối với ngƣời dân Việt thì các loài cây này là một phần
không thể thiếu trong đời sống, chúng xuất hiện trong dân ca Việt Nam, trong
các bài thuốc dân gian, trong những công thức làm đẹp từ thiên nhiên, là
nguyên liệu tạo mùi thơm cho các sản phẩm công nghiệp hay làm tăng thêm
tính thẩm mĩ, làm giàu có thêm cho tâm hồn con ngƣời,
Nam Viêm là một xã thuộc thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, ngƣời dân
nơi đây gắn bó với đồng ruộng từ lâu đời, sự xen canh các cây trồng có củ
không chỉ phục vụ nhu cầu trong xã mà còn đƣợc trao đổi với các vùng lân
cận nhƣ xã Tiền Châu, phƣờng Xuân Hòa Với họ thì cây có củ cũng là một
bộ phận không thể thiếu trong cơ cấu sản xuất nông nghiêp, đem lại nhiều lợi
ích về mặt kinh tế. Song do quá trình công nghiệp hóa đã làm cho cơ cấu
trồng, khai thác cây có củ có nhiều sự thay đổi và do chƣa có nghiên cứu đầy
đủ nào trƣớc đó về cây có củ ở địa phƣơng nên chúng tôi đã chọn đề tài
“Nghiên cứu đa dạng thành phần loài cây có củ tại xã Nam Viêm - thị xã
Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc ”.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hiện trạng thành phần loài cây có củ làm cơ sở khoa học cho
công tác khai thác, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây có củ tại khu vực xã
Nam Viêm.
3. Nội dung nghiên cứu
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 2 K36B - Sinh
 Nghiên cứu về tính đa dạng về thành phần loài cây có củ tại xã Nam
Viêm từ đó xây dựng danh lục các loài cây có củ tại xã Nam Viêm.
 Nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống cây có củ tại xã Nam Viêm.
 Nghiên cứu về nguồn gốc các loài cây có củ tại xã Nam Viêm.
 Nghiên cứu tình hình canh tác và giá trị các loài cây có củ tại địa
phƣơng.

loài thực vật [25].
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã thống kê và bổ sung số loài ở miền
Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ với 5.069 loài thực vật Hạt kín và 540
loài thuộc các ngành còn lại [25].
Thái Văn Trừng (1978) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài
thực vật bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [25].
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 4 K36B - Sinh
1.1.2. Những nghiên cứu về dạng sống thực vật
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực
vật thích nghi với điều kiện môi trƣờng sống. Nó liên quan chặt chẽ với các
nhân tố sinh thái của mỗi vùng, nên đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu từ rất sớm.
Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng:
Cách mọc đƣợc hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [7].
Theo Ewarming (1884, 1908, 1909) khi nghiên cứu và phân chia dạng
sống của thực vật thuộc thảo vùng ôn đới đã sử dụng những đặc điểm sinh vật
học nhƣ: đặc điểm chồi, những phƣơng thức sinh sản, sự kéo dài đời sống, sự
phát triển,
Drude (1913), Raunkiner (1905, 1934) khi phân chia dạng sống đã sử
dụng vị trí của chồi và khả năng tồn tại trong điều kiện bất lợi làm tiêu chuẩn
để phân chia [8].
I.K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thƣờng
xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên
mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có
thời kỳ sinh trƣởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trƣởng và phát
triển lâu năm.
G. N. Vƣxôxki (1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây
nhiều năm và lớp cây hàng năm [7].
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất

rụng lá mùa đông có điều kiện chuyển lên phát triển các chồi xuân năm sau
khỏi mặt đất hay thúc các mầm ngủ trên thân, cành, ngọn cây đông trƣớc đã
rụng lá mọc lên. Ba dạng thƣờng gặp:
1. Rễ củ (tuberculum) nhƣ củ Khoai lang, củ Sắn dây thƣờng chứa
nhiều đƣờng, bột, các glucozit, một số ancaloit và nhiều loại vitamin. Có củ
do rễ cái, có củ do các rễ bên tạo thành.
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 6 K36B - Sinh
2. Thân hành còn gọi là giò hành hay rò (Bulbus) nhƣ: củ Hành, củ
Tỏi, là các bẹ lá cùng mọc từ một thân đế ngầm phình lên chứa chất dự trữ
thƣờng kèm theo nhiều lại tinh dầu và tích tụ cả sunfua.
3. Thân rễ (Rhizoma) nhƣ củ Riềng, củ Gừng mang các lá địa sinh
biến thành vảy không có diệp lục. Các loại thân rễ này chứa nhiều glucozit và
ancaloit.
Đôi khi còn gặp những cành địa sinh phình lên thành củ ngầm nhƣ
Khoai tây và những cành khí sinh thành củ treo nhƣ Khoai mài, Khoai vạc
hoặc thân phình lên thành củ nhƣ củ Su hào. Các loại củ này chứ nhiều đƣờng
tinh bột hay protein [10].
Trong cuốn "Giải phẫu hình thái học thực vật" của Hoàng Thị Sản và
Trần Văn Ba, đƣa ra các kiểu hình thái là các biến thái của các rễ, thân. Trong
đó có đề cập tới 3 dạng: rễ củ, thân hành, thân củ nhƣ sau:
Rễ củ: Ở một số cây, rễ phồng to và nạc, chứa chất dự trữ tạo thành rễ
củ. Rễ củ là dạng biến động của rễ và có sự tham gia của trụ trên và dƣới lá
mầm. Rễ củ có thể phát triển thành rễ chính, nhƣ Củ cải, Cà rốt (trong trƣờng
hợp này rễ củ có mang các rễ bên, gồm có phần đầu mang các lá và có rễ
chính thức) hoặc có thể phát triển từ rễ bên nhƣ Sắn, Khoai lang,
Thân hành: Hình quả lê, hình cầu dẹt, hình trứng, gồm các bẹ lá (phần
xòe rộng của gốc lá) xếp úp lên nhau, chứa chất dự trữ. Các bẹ đó gọi là vảy
hành. Nằm giữa các vảy đó là chồi ngọn, nách các vảy có thể có chồi nách, từ
đó có thể phát triển các hành non. Thân chính ở đây thƣờng rất ngắn, hình nón

tấn, thì cây có củ lại bị quên đi. Cần khôi phục và phát triển vị thế vốn có của
củ lƣơng thực, không những vì an ninh lƣơng thực và để có nhiều gạo xuất
khẩu mà là để ăn ngon hơn.
Trong tài liệu "1900 loài cây có ích" của Trần Đình Lý và cộng sự
(1993) đã xếp các loài cây theo các nhóm công dụng khác nhau. Nhiều loài
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 8 K36B - Sinh
cây có củ dùng làm thức ăn cho ngƣời và gia súc, dùng làm thuốc, làm gia
vị, [20].
Theo tổ chức Y tế thế giới, khoảng 80% dân số thế giới sử dụng các loài
cây thuốc cho chăm sóc sức khỏe ban đầu, khoảng 70-80% dân số các vùng
nông thôn lấy cây thuốc làm nguồn thuốc chữa bệnh chủ yếu [14]. Ngƣời Việt
đã biết khai thác tiềm năng làm thuốc của các loài thực vật có củ để nâng cao
sức khỏe, chữa trị và phòng tránh bệnh tật từ rất xa xƣa. Danh y Hải Thƣợng
Lãn Ông đã chỉ rõ rằng ngƣời Việt Nam sống trên nguồn tài nguyên thuốc
nhiệt đới, phải biết phát huy nguồn thực phẩm rau, hoa, quả, củ thƣờng ngày
làm thuốc chữa bệnh [10].
Cuốn sách "Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam" của Đỗ Hữu
Bích và cộng sự (2004) đã mô tả đặc điểm phân loại cũng nhƣ công dụng làm
thuốc của nhiều loài động, thực vật ở Việt Nam, trong đó có nhiều cây có củ
[4].
Trong "Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" của tác giả Đỗ Tất Lợi
xuất bản năm 2004 đã sắp xếp các loài cây theo công dụng làm thuốc của
chúng, trong đó có nhiều loài cây có củ đƣợc xếp vào các nhóm nhƣ: cây
thuốc và vị thuốc cầm máu (Riềng), chữa bệnh đƣờng tiêu hóa (Gừng, Gừng
gió, Khoai riềng, Tỏi, ), chữa cảm sốt (Hành, Củ ấu, )[18].
Một khía cạnh khác về tác dụng của các loài cây có củ đƣợc Trần Công
Khánh, Phạm Hải nghiên cứu trong "Cây độc ở Việt Nam" đã đề cập tới
những bộ phận gây độc cũng nhƣ giải độc của một số loài cây nhƣ: hạt của Củ
đậu có độc, gây nghiêm trọng đến tính mạng con ngƣời khi ăn nó, còn loài

L. 1753) giúp làm da mịn màng, tƣơi tắn,
Trong cuốn cẩm nang làm đẹp "Những phƣơng thuốc làm đẹp từ củ và
hạt" của tác giả Thiên Kim xuất bản năm 2009 đã giới thiệu tác dụng làm đẹp
của nhiều loài củ nhƣ Khoai lang, Khoai tây, Khoai môn [16].
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 10 K36B - Sinh
Đối với việc chăm sóc sản phụ, "101 cây thuốc với sức khỏe sinh sản
phụ nữ" của Phạm Trƣơng Thị Thọ, Đỗ Huy Ích có nhắc tới công dụng của
Cà rốt (Daucus carota L.) làm thuốc hạn chế sinh sản nhƣ có tác dụng gây
sẩy thai, chống sinh sản; Củ gấu (Cyperus rotundus L.) tác dụng lên
oestrogen); Sắn dây (Pueraria montana var. chinensis (Ohwi) Maesen.) gây
sẩy thai [27].
Do có nhiều tiềm năng khai thác, con ngƣời cố gắng tận dụng các sản
phẩm quý từ thực vật, cũng vì mục đích kinh tế, ngƣời nông dân đã thay thế
những loài cây truyền thống bằng những loài có thể giúp họ có đƣợc nguồn
kinh tế cao hơn từ đó làm cho nhiều loại cây bị mất đi trong địa phƣơng. Nam
Viêm cũng là một trong những địa phƣơng nhƣ vậy, nhiều loài cũng đang bị
mất đi trong nhiều thôn của xã. Đây cũng là khu vực đƣợc chúng tôi lựa chọn
để tiến hành nghiên cứu với đề tài “Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài
cây có củ tại xã Nam Viêm - thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc” để lập danh
lục các loài cây có củ ở khu vực nghiên cứu rồi từ đó đánh giá và đƣa ra các
biện pháp góp phần bảo tồn nguồn tài nguyên này. Vì đây là đề tài mới nghiên
cứu ở địa phƣơng nên những kết quả nghiên cứu của chúng tôi thực hiện đƣợc
chỉ là các kết quả bƣớc đầu.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 11 K36B - Sinh

thông tin thu thập đƣợc, quan sát trực tiếp và phỏng vấn mà ở đó giả định
rằng tất cả các câu hỏi liên quan không đƣợc xác định trƣớc (theo James
Beebe, 1985) hay nói theo cách khác: RRA đề cập đến một phƣơng pháp tiếp
cận nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc học một cách nhanh chóng và
trực tiếp từ ngƣời dân địa phƣơng. RRA cho phép lấy đƣợc kiến thức địa
phƣơng và thu nhận đƣợc thông tin và sự hiểu biết của ngƣời dân địa phƣơng
bằng việc sử dụng các công cụ và phƣơng pháp kết hợp (theo Bill Jackson và
Andrew Angles, 1995) [23].
PRA (Đánh giá nông thôn có sự tham gia của ngƣời dân) là một loạt các
phƣơng pháp tiếp cận và phƣơng pháp cho phép ngƣời dân nông thôn cùng
chia sẻ, nâng cao và phân tích kiến thức của họ và đời sống và tạo điều kiện
nông thôn để lập kế hoạch và hành động (theo Robert Chambers, 1994) [23].
Một số kĩ năng trong phỏng vấn PRA:
- Phỏng vấn: Sử dụng một số câu hỏi cho những ngƣời đƣợc chọn.
Trong khi phỏng vấn, yêu cầu đƣa ra tên các cây có củ mà họ trồng trong
vƣờn hay ngoài ruộng, những cây có củ mà họ biết mà xuất hiện trong địa
phƣơng.
+ Phỏng vấn mở: Đó là dạng phỏng vấn tự do, có thể hỏi bất cứ
điều gì liên quan đến đề tài nghiên cứu.
+ Phỏng vấn theo cấu trúc: Điều tra phỏng vấn sử dụng một cách
cẩn thận các câu hỏi đƣợc thiết kế và mục đích phƣơng pháp để có thông tin
đặc trƣng và tin cậy từ một ngƣời thu thập riêng lẻ.
+ Phỏng vấn bán cấu trúc: Ngƣời đƣợc phỏng vấn tự do nói những
quan tâm của chính họ và để chia sẻ trực tiếp sự xuống cấp của bảo tồn.
Ngƣời phỏng vấn tin tƣởng vào những câu hỏi mở để giới thiệu đề tài quan
tâm [28].
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 13 K36B - Sinh
+ Phỏng vấn chéo: Là cách phỏng vấn để kiểm tra thông tin của
ngƣời khác đã đƣa ra trong các lần phỏng vấn [23].

Nam
Dạng
sống
Nguồn
gốc
Nơi
sống
Công
dụng
Họ Hành - Alliaceae Agardh. 1858
1.
Allium ascalonicum L. 1759
Hành ta
Thảo
T
R
G,
T,TD
2.
Alium cepa L. 1753
Hành tây
Thảo
T
R
G,
T,TD
3.
Allium fistulosum L. 1753
Hành hoa
Thảo

Polianthes tuberosa L. 1753
Huệ
Thảo
TM

C, TD
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 15 K36B - Sinh
Họ Hoa tán - Apiaceae Linld. 1836
8.
Daucus carota L. 1753
Cà rốt
Thảo
T
R
L-T,T,
TD
Họ Náng - Amarylliaceae Jaume, 1805
9.
Hippeastrum puniceum (Lamk.)
Kuntze, 1891

Lan huệ

Thảo
T
V
C, T
10.
Narcissus tazetta L. 1753

L-T, T
Họ Ngũ gia bì - Araliaceae Juss. 1789
14.
Polyscias fruticosa (L.) Harms, 1921
Đinh lăng
Bụi
T
V
T, TD
Họ Cải - Brassicaceae Burn. 1835
15.
Brassica oleracea var. gongylodes L.
1753
Su hào
Thảo
T
R
L-T, T
16.
Raphanus sativus L.1753. var.
longipinnatus Bailey, 1923
Cải củ
Thảo
T
R
L-T, T
Họ Dong riềng - Cannaceae Juss. 1789
17.
Canna edulis Ker - Grawl. 1823
Dong

Củ từ
Thảo
leo
T
V
L-T, T
Họ Thầu dầu - Euphorbiaceae Juss. 1789
21.
Manihot esculenta Crantz, 1766
Sắn
Bụi
T
R, V
L-T, T
Họ Đậu - Fabaceae Lindl. 1836
22.
Pachyrhizus erosus (L.) Urb.
Củ đậu
Thảo
leo
TM

L-T, T
23.
Pueraria montana var. chinensis
(Ohwi) Maesen, 1988
Sắn dây
Thảo
leo
T
27.
Nelumbo nucifera Graertn. 1788
Sen
Thảo
T
R
L-T,
T, C,
TD
Họ chua me - Oxalidaceae R. Br. 1810
28.
Oxalis corymbosa DC. 1824
Chua me
đất hoa
đỏ
Thảo
D
R
T
Họ Hòa thảo - Poaceae Barnh. 1895
29.
Cymbopogom citratus (DC. ex Nees)
Sả
Thảo
T
R,V
G, T,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp

Nghệ
Thảo
T
V
G, T,
TD

Chú thích
T: Cây trồng
D: Cây mọc dại
R: Ruộng
V: Vƣờn
TM: Cây chỉ có trong hoạt động buôn bán
L-T: Lƣơng thực, thực
phẩm
T: Thuốc
G: Gia vị
TD: Tinh dầu
C: Cảnh

Từ bảng danh lục trên, có tới 33 loài cây có củ đƣợc tìm thấy tại xã Nam
Viêm thuộc 27 chi trong 21 họ. Họ có nhiều loài nhất là họ Hành (Alliaceae)
với 6 loài; chiếm 18,75% tổng số loài; có thể kể tới các loài nhƣ: Hành ta
(Allium ascalonicum L. 1759), Hành tây (Alium cepa L. 1753), Tỏi (Allium
sativum L. 1753). Họ Ráy (Cyperaceae) có 3 loài; chiếm 9,38% tổng số loài,
thuộc 2 chi là Alocasia và Colocasia. Họ Gừng (Zingiberaceae) cũng có 3
loài: Riềng (Alpinia officinarum Hance, 1872.), Nghệ (Curcuma longa
L.1753), Gừng (Zingiber officinale Rosc. 1807); chúng thuộc 3 chi: Apinia,
Curcuma, Zingiber. Các họ còn lại có 1 đến 2 loài: họ Cải (Brassicaceae), họ
Náng (Amarylliaceae), họ Đậu (Fabaceae) đều có 2 loài; họ Măng tây

Dạng sống

Họ
Chi
Loài
Số
lƣợng
%
Số
lƣợng
%
Số
lƣợng
%
Thảo

Đứng
16
76,19
21
77,78
27
81,82
Leo
2
9,52
3
11,11
3
9,09

Đây là nhóm cây mọc trong các sinh cảnh tự nhiên ở vùng nghiên cứu
(rừng, đồng ruộng) có thể đƣợc ngƣời dân khai thác sử dụng với các mục đích
khác nhau: Làm lƣơng thực, làm rau ăn, thức ăn chăn nuôi gia súc, làm
cảnh, Thuộc nhóm này 3 họ, chiếm 14,29% số họ; 3 chi chiếm 11,11% số
chi; 3 loài chiếm 9,09% số loài. Bao gồm các loài cây là: Ráy dại (Alocasia
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 Khóa luận tốt nghiệp
Đỗ Thị Trang 20 K36B - Sinh
odora (Roxb.) C. Koch, 1854), Cỏ gấu (Cyperus rotundus L. 1753), Chua me
đất hoa đỏ (Oxalis corymbosa DC. 1824).
Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm đƣợc chúng tôi thống kê lại tại
bảng 3.3 bên dƣới.
Bảng 3.3. Nguồn gốc cây có củ tại xã Nam Viêm
STT
Đối tƣợng
Họ
Chi
Loài
Số lƣợng
%
Số lƣợng
%
Số lƣợng
%
1.
Cây trồng
17
80,95
22
81,48
26


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status