Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn ở rừng Thạch Thành (Thanh Hóa) thuộc vườn quốc gia Cúc Phương - Pdf 24

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƯƠNG VĂN HÀO
NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI VÀ
ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA THÂN MỀM
CHÂN BỤNG (Gastropoda) TRÊN CẠN Ở
RỪNG THẠCH THÀNH (THANH HOÁ)
THUỘC VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60 62 02 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS. ĐỖ VĂN NHƯỢNG


giáo PGS. TS. Đỗ Văn Nhƣợng đã trực tiếp hƣớng dẫn, truyền đạt kiến thức
thực tế, phƣơng pháp luận, đôn đốc kiểm tra trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Vƣờn Quốc gia Hoàng
Liên, đặc biệt ông Phạm Văn Đăng, Giám đốc Vƣờn đã tạo điều kiện thuận
lợi để tôi đƣợc tham gia học tập; cảm ơn ông Trƣơng Quang Bích và ông Đỗ
Văn Lập, Ban giám đốc VQG Cúc Phƣơng đã tạo điều kiện, giúp đỡ trong
quá trình nghiên cứu thực địa, cung cấp các tài liệu tham khảo viết luận văn.
Ngoài ra, tôi cũng vô cùng biết ơn các em sinh viên, Lƣu Thị Thanh Hƣơng
(Đại học Sƣ phạm Hà Nội) đã giúp đỡ rất nhiều trong phân tích mẫu, Lƣơng
Văn Hoàng (Đại học Nông Lâm Bắc Giang), Đỗ Đức Sáng (nghiên cứu sinh,
Giảng viên Đại học Tây Bắc) cùng đồng nghiệp và bạn bè Hoàng Trƣờng
Giang, Lã Thị Quỳnh, Chu Văn Tấn, Nguyễn Kim Hoàng, ngƣời vợ và là
đồng nghiệp Nguyễn Thị Hồng Thắm đã trợ giúp và khích lệ tôi trong quá
trình thu thập mẫu vật, tài liệu, chỉnh sửa ảnh, tính toán số liệu phục vụ viết
luận văn.
Nhiều sự giúp đỡ quý báu của cá nhân, ngƣời dân địa phƣơng đã
tham gia trực tiếp vào công việc thực địa, trả lời phỏng vấn, tạo điều kiện
nơi ăn, chỗ ở, qua đây cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả sự giúp
đỡ quý báu đó.
Lời cảm ơn chân tình tới các đồng nghiệp nƣớc ngoài, Giáo sƣ Fred
Naggs (Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, Anh), Tiến sĩ Miklos Szekeres
(Viện sinh học thực vật, Viện hàn lâm khoa học Hungari) đã trợ giúp về kinh
phí thu thập số liệu hiện trƣờng, cung cấp tài liệu và giúp kiểm tra mẫu vật,
định tên một số loài Ốc cạn ở Thạch Lâm, Thạch Thành, Thanh Hóa.

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2013
Tác giả Lương Văn Hào

1.2.4. Tình hình kinh tế và xã hội 16
1.2.4.1. Cơ cấu kinh tế 16
1.2.4.2. Cơ sở hạ tầng 17
1.2.4.3. Tình hình y tế, giáo dục, văn hóa 17
1.2.4.4. Thành phần dân tộc 17
Chƣơng 2: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 19
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 19
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu Thân mềm Chân bụng trên cạn 19
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
iv
2.2.1. Thời gian nghiên cứu 20
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu 20
2.3. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu 21
2.3.1. Nội dung nghiên cứu 21
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa 21
2.3.1.2. Điều tra, phỏng vấn dân địa phương 23
2.3.1.3. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 23
2.3.1.4. Giải pháp thực hiện đề tài 25
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 27
3.1. Thành phần loài và đa dạng thân mềm chân bụng ở khu vực nghiên cứu 27
3.1.1. Thành phần loài khu vực nghiên cứu 27
3.1.2. Mức độ đa dạng các loài Ốc cạn khu vực nghiên cứu 34
3.1.2.1. Đa dạng loài khu vực nghiên cứu 34
3.1.2.2. Đặc điểm hình thái các loài trong khu vực nghiên cứu 36
3.2. Đặc điểm phân bố ở khu vực nghiên cứu 55
3.2.1. Phân bố loài theo sinh cảnh 61

Nr : Nƣơng rẫy Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1.1: Các chỉ tiêu khí hậu cơ bản khu vực VQG Cúc Phƣơng 13
Bảng 1.2: Số lƣợng Taxon trong các ngành thực vật bậc cao ở Cúc Phƣơng 15
Bảng 2.1: Phân chia mức độ phân bố Ốc cạn theo sinh cảnh 25
Bảng 3.1: Danh sách các loài Ốc cạn ở Thạch Lâm, Thạch Thành 28
Bảng 3.2: Tính đa dạng các loài thuộc các họ Ốc cạn ở Thạch Lâm 34
Bảng 3.3: Đa dạng Ốc cạn ở một số vùng núi đá vôi ở Miền Bắc Việt Nam. 35
Bảng 3.4: Vị trí các ô nghiên cứu ở Thạch Lâm, Thạch Thành 54
Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 1.1: Sơ đồ khu vực Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng 11
Hình 2.1: Sơ đồ vị trí nghiên cứu Ốc cạn ở Thạch Lâm 20
Hình 2.2: Hình thái ngoài và một phần bên trong của vỏ Ốc cạn 23
Hình 3.1: Sơ đồ cấu trúc phân loại Ốc cạn ở Thạch Lâm, Thạch Thành
(VQG Cúc Phƣơng) 33
Hình 3.2. Biểu đồ so sánh đa dạng loài Ốc cạn giữa một số vùng
núi đá vôi ở phía Bắc Việt Nam 36
Hình 3.3. Biểu đồ phân bố các loài theo sinh cảnh . 55
Hình 3.4. Biểu đồ phân bố các họ theo sinh cảnh 57

những hóa thạch giống Cyclophorus (Cyclophoridae) ở động Ngƣời Xƣa
Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng là minh chứng ngƣời cổ đại đã sử dụng làm
nguồn thực phẩm [16]. Trong hệ sinh thái, Ốc cạn là thành phần không thể
thiếu trong chuỗi và lƣới thức ăn, đặc biệt với một số loài chim, loài thú ăn
thịt nhỏ. Trong chu trình phân giải vật chất, Ốc cạn là nhóm ăn thực vật bậc
thấp và mùn bã ở tầng thảm mục.
Tuy nhiên nhiều loài trong số chúng là vật chủ trung gian, lan truyền
gây bệnh cho con ngƣời và động vật [164, 165]. Ngoài ra, một số loài có thể
phá hoại mùa màng (Ốc sên- Achatina fulica) [165].
Ở Việt Nam các nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng còn hạn chế,
nhiều vùng chƣa có dẫn liệu. Các nghiên cứu tuy từ rất sớm nhƣng kéo dài
nhiều thế kỷ, kết quả nghiên cứu chƣa phản ảnh đầy đủ về đa dạng, đặc trƣng
về hình thái, kích thƣớc, phân loại, phân bố, giá trị trong thực tiễn.

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
2
Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng hiện tại bị chia cắt thành 2 phần độc lập
bởi sông Bƣởi và đƣờng Hồ Chí Minh. Phần lớn diện tích (18.000 ha) nằm ở
phía Đông của sông Bƣởi và khoảng 2.000 ha rừng nằm ở phía Tây sông Bƣởi
[8]. Phần phía Tây bao gồm các xã Thạch Lâm (chiếm đại bộ phận diện tích
rừng trên núi đá vôi) và các xã Ân Nghĩa, Tân Mỹ thuộc tỉnh Hòa Bình.
Vì đặc trƣng khu vực VQG Cúc Phƣơng hiện tại chia cắt thành 2 vùng
nhƣ trên, cho nên trong khuôn khổ của luận văn này chỉ dừng lại ở mức độ
nghiên cứu về thành phần loài và đặc trƣng phân bố của Thân mềm Chân
bụng ở cạn khu vực phía Tây của sông Bƣởi thuộc Thạch Thành, Thạch Lâm
(Thanh Hóa), VQG Cúc Phƣơng. Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của Thân mềm Chân bụng
(Gastropoda) trên cạn ở rừng Thạch Thành (Thanh Hóa) thuộc Vườn Quốc
gia Cúc Phương”.
2. Mục tiêu của đề tài

Việc nghiên cứu về tình trạng và giá trị của chúng còn ít đƣợc quan tâm
vì thế với kết quả và phƣơng pháp nghiên cứu ban đầu này sẽ tạo tiền đề cho
việc thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về giá trị của các loài Thân mềm Chân
bụng ở các khu rừng núi đá vôi và bổ sung thông tin cho tình trạng các loài
đƣợc phát hiện đặc biệt đối với các loài chỉ thu đƣợc mẫu chết. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1. 1. Nghiên cứu Thân mềm Chân bụng trên thế giới
Nghiên cứu phân loại sinh vật nói chung và Ốc cạn nói riêng có lịch sử
lâu đời, sớm nhất có thể kể đến nhà khoa học ngƣời Hy Lạp, Aristotle (384-
322 trƣớc công nguyên) và sau đó ngƣời đƣa ra hệ thống phân loại sinh vật
chuẩn xác hơn, nhà khoa học nổi tiếng Carolus Linnaeus, trong ấn phẩm “Hệ
thống tự nhiên”, xuất bản năm 1735. Việc hoàn thiện hệ thống phân loại sinh
vật tiếp tục đƣợc nghiên cứu, hoàn thiện vào thế kỷ XVIII, XIX, và XX:
Haeckel, 1866; Chatton, 1925; Copeland, 1938; Whittaker, 1969; Woesse và
cộng sự, 1990 và Cavalier-Smith, 1998 [174]. Đây là giai đoạn khởi đầu của

Việc nghiên cứu về Thân mềm Chân bụng trên cạn ở Việt Nam thực sự
bắt đầu vào những năm giữa của thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ yếu do các
tác giả nƣớc ngoài thực hiện.
Các dẫn liệu đầu tiên về Ốc cạn ở Việt Nam đã có trong công trình
khảo sát về trai Ốc cạn ở Đông Dƣơng của Souleyet từ năm 1841-1842, trong
đó đã ghi nhận một số loài Ốc cạn ở miền Trung Việt Nam, nhƣ: Streptaxis
aberratus, S. deplexus, Eluota touranensis
Năm 1848-1877, công trình nghiên cứu của L. Pfeiffer đã cho những
dẫn liệu về Ốc cạn ở các đảo Nam Bộ nhƣ Côn Đảo, Phú Quốc, đã phát hiện
tới hàng chục loài mới: Streptaxis ebuneus, Trochomorpha saigonensis [15]
Những nghiên cứu về Ốc cạn ở vùng Nam Bộ và Trung Bộ đƣợc tiếp
tục đến những năm 60 của thế kỷ XIX, điển hình nhƣ công trình của Crosse et
Fischer (1863,1864,1869), Mabile et Le Mesle (1866), Cross (1867,1868).
Trong giai đoạn này, những dẫn liệu về Ốc cạn ở khu vực phía Bắc
Việt Nam còn rất ít, chỉ có một số loài nhƣ Camaena illustris trong nghiên
cứu của Pfeiffer ở Lạng Sơn, Alycaeus anceyi trong nghiên cứu của Souleyet
ở đảo Kế Bào (Quảng Ninh) Các công trình về Ốc cạn ở miền Bắc chỉ xuất

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
6
hiện nhiều vào cuối thế kỷ XIX, với các nghiên cứu của Fischer (1848, 1864);
Morlet (1886, 1891, 1892); Hamonville (1887), Dautzenberg (1893); Bavay et
Dautzenberg (1899, 1900-1903); Dautzenberg et Fischer (1905)
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu từ giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỉ XX
ở Việt Nam, đã phát hiện 448 loài và phân loài Ốc cạn, đã công bố trong 83
tài liệu xuất bản từ năm 1841 đến 1900 [15]. Tuy nhiên thành phần loài Ốc
cạn ở Việt Nam trong thời gian này còn chƣa đầy đủ và cần phải xem xét về
phân loại học.
Trong thời gian từ đầu thế kỉ XX đến 1975, chiến tranh vẫn diễn ra ở
Việt Nam, việc nghiên cứu Ốc cạn cũng nhƣ các nhóm Ốc khác ở Đông

Ngoài các tác giả nƣớc ngoài nghiên cứu về Ốc cạn, mới đây, năm
2005, các tác giả Nguyễn Xuân Đồng, Nguyễn Quý Tuân, Hoàng Đức Đạt
mới đề cập đến hai loài ốc núi là: Cyclophorus anamiticus H.Cros, 1867 và
C.martencianus Mollendoff, 1874 đang dùng làm thực phẩm ở núi Bà Đen
(Tây Ninh) [4]. Năm 2006, Nguyễn Thị Cậy đã cung cấp dẫn liệu 29 loài và
đặc điểm phân bố của Ốc cạn của khu vực thị trấn Tam Đảo (Vĩnh Phúc),
trong đó có 8 loài lần đầu gặp ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Việt Nam [1]. Năm
2009, Khổng Thúy Anh đã nghiên cứu tại xóm Dù thuộc VQG Xuân Sơn,
(Phú Thọ), đã xác định đƣợc 44 loài [9].
Từ năm 2009 đến 2013, Đỗ Văn Nhƣợng và cộng sự đã có hàng loạt
công bố phát hiện về thành phần loài ở một số khu vực phía Bắc Việt Nam,
nhƣ: 29 loài ở Tam Đảo, 44 loài ở xóm Dù, VQG Xuân Sơn (Phú Thọ), 23
loài ở núi đá vôi Sài Sơn (Quốc Oai, Hà Nội), 36 loài ở núi Voi (An Lão, Hải
Phòng), 46 loài ở thôn Rẫy (Quyết Thắng, Hữu Lũng, Lạng Sơn)[10,11,12].
Các khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ bắt đầu nghiên cứu về Ốc cạn,
tháng 10/2010, Đinh Phƣơng Dung đã xác định đƣợc 50 loài ở Tây Trang
(Điện Biên), ngay tiếp đó, Nguyễn Thị Ngọc Anh cung cấp 48 loài Ốc cạn,
trong đó có 36 loài chƣa từng gặp ở nơi nào khác tại Việt Nam ngoài khu vực

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
8
Hàm Rồng (Thanh Hóa)[9]. Năm 2011, Nguyễn Thị Nhàn trong nghiên cứu
về thành phần loài và đặc điểm phân bố của Ốc cạn ở Thúc Thủy (An Khang,
thị xã Tuyên Quang), đã xác định đƣợc 58 loài, thuộc 18 họ. Năm 2012,
Nguyễn Thị Quỳnh đã phát hiện 62 loài thuộc 20 họ, trong đó có 12 loài còn
chƣa xác định đƣợc chính xác tên loài. Cùng năm này, Trần Thập Nhất cũng
công bố 73 loài, trong đó mới xác định đƣợc 50 loài. Những đóng góp trên rất
có ý nghĩa để sau này có hệ thống dẫn liệu Ốc cạn ở Việt Nam nói chung.
Nhƣ vậy, có thể thấy, Ốc cạn ở Việt Nam đã đƣợc điều tra nghiên cứu
từ rất sớm (thế kỷ XIX), tuy nhiên việc nghiên cứu không đƣợc diễn ra liên

thuộc 13 họ, trong đó có một số ít loài có mẫu vật thu ở khu vực Thạch Thành
(thuộc các họ Cyclophoridae, Clausiliidae) [6]; Yago, M., Lƣơng Văn Hào,
Hà Quang Hùng và cộng sự (2007) đã phát hiện 10 loài thuộc 5 họ [51];
Lƣơng Văn Hào, Fred Naggs và cộng sự (2007-2013) đã nghiên cứu nhiều
đợt nhƣng chƣa công bố về số lƣợng loài (thông tin cá nhân chƣa xuất bản).
Hầu hết các nghiên cứu ở đây tập trung vào việc thu thập bộ mẫu để lập
danh lục, và việc thu thập cũng diễn ra trong một thời gian ngắn. Kết quả định
loại phần lớn dựa vào hình thái vỏ và danh sách loài công bố đại đa số dừng
lại ở taxon bậc Giống. Trong báo cáo của Vermeulen và Whitten (2003) thống
kê đƣợc 125 loài và dạng loài (trong đó định danh đƣợc 46%, cũng trong báo
cáo này các tác giả cho rằng ở Cúc Phƣơng có khoảng 300 loài và 75% trong
số chúng là đặc hữu ở Miền Bắc VN)[76]; Lƣơng Văn Hào và cộng sự (2005)
thống kê đƣợc 30 loài và dạng loài [6].
Có thể tổng kết là khu hệ Ốc cạn ở Thạch Lâm hầu nhƣ chƣa đƣợc
nghiên cứu, các nghiên cứu ở VQG Cúc Phƣơng thƣờng tập trung vào vùng
rừng chính thuộc phía Đông sông Bƣởi [13]. Các nghiên cứu tập trung chủ
yếu vào việc thu thập mẫu, định danh để xác lập danh mục về chúng. Vì vậy
các nghiên cứu nhằm phát hiện thành phần loài của khu vực này là cần thiết
để bổ sung các dẫn liệu cho cả Vƣờn, tiến tới các nghiên cứu hoàn chỉnh và
đầy đủ thành phần loài Ốc cạn ở VQG Cúc Phƣơng. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
10
1.2. Một số nét khái quát khu vực nghiên cứu
1.2.1. Vị trí địa lý
Khu vực nghiên cứu nằm trong tọa độ từ 20
0
20' đến 20
0

Cao nhất là đỉnh núi Ông Lão (473m) nằm ở phía Đông - Nam của khu vực
nghiên cứu. Khu vực này có dạng địa hình Castơ nửa che phủ, khác với địa

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
11
hình Castơ che phủ Đồng Giao và Castơ trọc Gia Khánh. Nó cũng nằm trọn
vẹn trong cảnh địa lý đối Castơ xâm thực. [13]

Hình 1.1: Sơ đồ khu vực Vƣờn Quốc gia Cúc Phƣơng

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
12
1.2.3. Khí hậu, thủy văn
1.2.3.1. Chế độ nhiệt
Kết quả quan trắc 15 năm của trạm khí tƣợng Bống (Cúc Phƣơng) từ
năm 1963 đến 1978 cho thấy, nhiệt độ trung bình năm là 20,60
0
C. Năm 1966,
nhiệt độ bình quân năm lớn nhất là 21,20
0
C. Năm 1971, nhiệt độ bình quân
năm thấp nhất là 19,90
0
C [15]. Nhƣ vậy, chênh lệch giữa nhiệt độ bình quân
chung so với nhiệt độ bình quân năm cao nhất và năm thấp nhất chỉ chƣa đến
10
0
C (0,60
0
c và 0,70

nhiệt độ trong không khí. Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
13
Bảng 1.1: Các chỉ tiêu khí hậu trung bình khu vực VQG Cúc Phương
năm 1963-1978
Tháng
Nhiệt độ (độ c)
Lƣợng mƣa (mm)
Độ ẩm (%)
1
13,9
23,3
91
2
15,1
31,9
91
3
17,2
42,4
92
4
21,5
95,4
91
5
24,6
221,2

20,6
2.147,70
90

Mùa hè nhiều ngày có gió Lào thổi mạnh, thƣờng vào tháng 6. Tuy vậy,
do điều kiện địa hình, gió sau khi vƣợt qua các yên ngựa và hẻm núi đi sâu
vào rừng bị thay đổi hƣớng rất nhiều và tốc độ gió thƣờng là 1-2 m/s [13].
1.2.3.4. Thủy văn
Khu vực nghiên cứu là địa hình Castơ nên ở đây có ít dòng chảy mặt,
ngoại trừ sông Bƣởi và sông Ngang ở phía Bắc có nƣớc quanh năm, còn lại là
các khe suối có nƣớc theo mùa. Sau cơn mƣa, nƣớc từ các suối chảy vào lỗ
hút, chảy ngầm trong lòng núi rồi phun ra ở một số vó nƣớc. Chỗ nào nƣớc

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
14
dồn về nhiều sau cơn mƣa lớn, các lỗ hút không hút kịp thì nƣớc ứ đọng lại,
gây nên ngập úng tạm thời [13].
1.2.3.5. Đặc điểm khu hệ động, thực vật ở Thạch Lâm, Thạch Thành
Về đa dạng thảm thực vật, khu hệ động thực vật ở khu vực Thạch Lâm
chƣa có công bố riêng rẽ nào, tuy nhiên các báo cáo chung cho toàn Cúc
Phƣơng, bao gồm cả Thạch Lâm thì khu hệ sinh thái ở đây có một số đặc
điểm nhƣ sau:
+ Thảm thực vật
Thảm thực vật ở đây là rừng mƣa nhiệt đới thƣờng xanh. Cúc Phƣơng
là nơi rất đa dạng về cấu trúc tổ thành loài trong hệ thực vật. Với diện tích chỉ
có 0,07% so với cả nƣớc, nhƣng có số họ thực vật chiếm tới 57,93%, số chi
36,09% và số loài chiếm 17,27% trong tổng số họ, chi và loài của cả nƣớc.
Cúc Phƣơng là nơi hội tụ của nhiều luồng thực vật di cƣ cùng sống với
nhiều loài bản địa. Đại diện cho thành phần bản địa là các loài trong họ Long
não (Lauraceae), Ngọc lan (Magnoliaceae) và họ Xoan (Meliaceae). Đại diện

1
1
3
Ngành Thông đất (Lycopodiophyta)
2
2
2
9
4
Ngành Cỏ tháp bút (Equisetophyta)
1
1
1
1
5
Ngành Dƣơng xỉ (Polypodiophyta)
7
27
56
129
6
Ngành Hạt trần (Gymnospermae)
3
3
3
5
7
Ngành Hạt kín (Angiospermae)
86
166

Cúc Phƣơng còn là nơi đa dạng về động vật đặc sắc và quý hiếm ở Việt
Nam. Riêng các loài thú chiếm 54,6%; chim 37%; lƣỡng cƣ 52,4% so với các
loài trên có ở Việt Nam. Trong số các loài động vật có 64 loài có trong Sách
đỏ Việt Nam (2007) và 33 loài có trong Danh lục đỏ 2009 của IUCN. Đặc
biệt là có 3 loài đặc hữu mới phát hiện cho khoa học là Sóc bụng đỏ đuôi hoe
Calloscirus erythracus cucphuongensis, cá Niết cúc phƣơng Pterocryptis

Số hóa bởi trung tâm học liệu http://www.lrc.tnu.edu.vn/
16
cucphuongensis và Thằn lằn tai Cúc Phƣơng Tropidophorus cucphuongensis [13],
10 loài Ốc cạn thuộc 5 họ [51].
1.2.4. Tình hình kinh tế và xã hội
1.2.4.1. Cơ cấu kinh tế
Nhìn chung nền kinh tế huyện Thạch Thành trong những năm gần đây
có mức tăng trƣởng khá nhanh, ở khoảng 7 - 8%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển
dịch theo hƣớng: tăng tỷ trọng ngành công nghiệp xây dựng cơ bản, thƣơng
mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông - lâm - ngƣ nghiệp. Thế mạnh về đất
đai, lao động, lợi thế về địa lý, giao thông từng bƣớc đƣợc khai thác hiệu quả.
Vùng kinh tế hàng hoá đƣợc hình thành, cây công nghiệp mũi nhọn (cây mía)
đƣợc xác định rõ, đời sống nhân dân từng bƣớc đƣợc cải thiện, diện mạo nông
thôn không ngừng đổi mới. Trong đó:
Ngành lâm nghiệp, nhiều chỉ tiêu về trồng rừng, trồng cây phân tán,
khoanh nuôi tái sinh chăm sóc bảo vệ rừng và khai thác lâm sản tăng mạnh qua
các năm. Ðến nay, các khu rừng của Thạch Thành đƣợc chăm sóc tốt, độ che
phủ của rừng hầu nhƣ đạt kế hoạch đã đề ra. Công tác phòng cháy, chữa cháy
đƣợc thực hiện tốt, nên không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Ngoài ra, tính đến
năm 2002, toàn huyện có 395,1ha cây ăn quả. Bên cạnh đó diện tích trồng cây
cao su cũng đã phát triển mạnh, từ hơn 400 ha cao su năm 1997 lên 4.000ha.
Với ngành chăn nuôi: Bò sữa đƣợc đƣa vào chăn nuôi đƣa tổng số
đàn bò lên 7.109 con (năm 2002), tăng 15% so với năm 1997; tổng đàn lợn

động thể dục thể thao cơ sở thu hút đông đảo quần chúng tham gia
Công tác giáo dục đƣợc đẩy nhanh cả về quy mô và chất lƣợng. Hàng
năm, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp đạt bình quân 95 - 99%. Toàn huyện đã hoàn
thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đang thực hiện phổ cập trung
học cơ sở.
1.2.4.4. Thành phần dân tộc
Huyện Thạch Thành có hai dân tộc sinh sống là dân tộc Mƣờng và dân
tộc Kinh. Dân tộc Mƣờng ở đây thuộc nhánh Mƣờng ngoài từ tỉnh Hòa Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status