NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG SINH HỌC THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA) TRÊN CẠN VỚI HÀM LƯỢNG KẼM, CADIMI TRONG ĐẤT TẠI XÃ BẢN THI, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN - Pdf 43

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

TRỊNH THÙY LINH

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

“NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐA DẠNG
SINH HỌC THÂN MỀM CHÂN BỤNG (GASTROPODA)
TRÊN CẠN VỚI HÀM LƯỢNG KẼM, CADIMI TRONG ĐẤT
TẠI XÃ BẢN THI, HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN”

LUẬN VĂN THẠC SĨ: Ngành Khoa học môi trường

Hà Nội - Năm 2017


BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ngành: Khoa học môi trường
Mã số:………………………

Tên đề tài: “Nghiên cứu mối quan hệ giữa đa dạng sinh học thân mềm
chân bụng (gastropoda) trên cạn với hàm lượng kẽm, cadimi trong đất
tại xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn”.

Học viên thực hiện: Trịnh Thùy Linh
Lớp: CH1MT

Biến đổi khí hậu
Đa dạng sinh học
Hệ sinh thái
Tài nguyên thiên nhiên


CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Thân mềm chân bụng (Gastropoda) trên cạn
Thân mềm là ngành động vật không xương sống có thành phần loài rất đa
dạng: khoảng 60.000 - 80.000 loài. Chân bụng (Gastropoda) là lớp động
vật lớn nhất của ngành Thân mềm (Mollusca), lớp duy nhất trong ngành có đại
diện sống ở cả môi trường cạn (24.000 loài), môi trường nước lợ, nước ngọt
(5.000 loài) và ở biển, đại dương (30.000 loài), từ Bắc cực và Nam cực đến các
vùng nhiệt đới. Trong đó, ốc cạn là nhóm động vật Thân mềm chân bụng sống ở trên
cạn, môi trường sống chủ yếu là đất. Do khả năng di chuyển chậm, ốc cạn chịu ảnh
hưởng nhiều bời các nhân tố môi trường sống, đặc biệt là các nhân tố trong môi trường
đất, như kim loại nặng trong đất và các nhân tố khác. Sự ảnh hưởng của các nhân tố này
đến ốc cạn thể hiện thông qua việc biến đổi về các đặc điểm sinh học (hình thái, sinh
lý,..), sinh thái (nơi sống, tập tính,..), dẫn tới thay đổi về ĐDSH ở từng cấp độ.
Ốc cạn có vai trò rất lớn trong hệ sinh thái vì bản thân nó là một mắt xích trong
chuỗi thức ăn ở cạn, vừa là sinh vật tiêu thụ thức ăn có nguồn gốc từ thực vật, vừa là
thức ăn cho động vật có xương sống như thú, lưỡng cư, nếu thiếu đi mắt xích này sẽ có
tác động mạnh đến hệ sinh thái. Ngoài ra, trong hệ sinh thái, ốc cạn còn đóng vai trò là
yếu tố chỉ thị sinh cảnh, chỉ thị về sự tác động của con người lên thảm thực vật. Loài
thân mềm chân bụng trên cạn là nhóm động vật rất nhạy cảm với các tác động của con
người cũng như BĐKH gây ra. Việc sử dụng thân mềm chân bụng trên cạn làm sinh vật
chỉ thị kim loại nặng trong đất để cảnh báo, dự báo ô nhiễm môi trường, từ đó có kế
hoạch bảo tồn, bảo vệ ĐDSH, khai thác hợp lí nguồn lợi tự nhiên, bảo vệ môi trường giữ
vững tính ổn định bền vững của hệ sinh thái.
Bắc Kạn là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc của Việt Nam, đây là một tỉnh miền

-

Về thực tiễn:

+ Xác định được thành phần loài ốc cạn (Gastropoda) ở xã Bản Thi, huyện Chợ
Đồn, tỉnh Bắc Kạn;
+ Tìm hiểu được đặc điểm phân bố của ốc cạn ở các sinh cảnh (các loại sinh
cảnh rừng, các loại độ cao - địa hình).
3. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra cần tập trung thực hiện các nội
dung nghiên cứu cụ thể như sau:
- Xác định những khó khăn, thuận lợi đối với việc nghiên cứu mối quan hệ giữa
ĐDSH loài thân mềm chân bụng trên cạn với hàm lượng Kẽm, Cadimi trong đất tại xã
Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Đánh giá về mức độ ĐDSH; hình thái, tập tính, sự phân bố, mật độ… của loài
thân mềm chân bụng trên cạn ở xã Bản Thi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
I

6


- Đánh giá ảnh hưởng của Kẽm, Cadimi đối với chỉ số ĐDSH, từ đó xác định mối
quan hệ giữa hàm lượng Kẽm, Cadimi trong đất với thân mềm chân bụng trên cạn.
-

Tìm hiểu về đặc điểm phân bố của ốc cạn theo sinh cảnh, độ cao, địa hình.

- Đề xuất giải pháp giảm bảo tồn ĐDSH tại khu vực nghiên cứu.
4. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu liên quan đến Luận văn
Mặc dù là nhóm có thành phần loài phong phú, phân bố rộng và có giá trị thực



là một trong số nhưng điểm sôi thấp nhất của các kim loại chuyển tiếp, chỉ cao hơn thủy
ngân và cadimi.
Kẽm có cấu hình electron là [Ar]3d104s2. Nó là kim loại có độ hoạt động trung
bình và là chất oxy hóa mạnh. Bề mặt của kim loại kẽm tinh khiết xỉn nhanh, thậm chí hình
thành một lớp thụ động bảo vệ là Hydrozincit, Zn5(OH)6(CO3)2, khi phản ứng với cacbon điôxít
trong khí quyển. Lớp này giúp chống lại quá trình phản ứng tiếp theo với nước và hidro.

Kẽm cháy trong không khí cho ngọn lửa màu xanh lục tạo ra khói kẽm, ôxít kẽm
dễ dàng phản ứng với các axit, kiềm và các phi kim khác. Kẽm cực kỳ tinh khiết chỉ
phản ứng một cách chậm chạp với các axít ở 27°c. Các axít mạnh như axít clohydric hay
axít sulfuric có thể hòa tan lớp vảo vệ bên ngoài và sau đó kẽm phản ứng với nước giải
phóng khí hydro.
4.1.1.2. Tổng quan về cadimi
Cadimi là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn các nguyên tó có ký hiệu Cd
và số nguyên từ bằng 48. Là một kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, mềm màu trắng
ánh xanh và có độc tính, cadimi tồn tại trong các quặng kẽm và được sử dụng chủ yếu
trong các loại pin.
Cadimi là kim loại mềm, dẻo, dễ uốn, màu trắng ánh xanh, có hóa trị 2, rất dễ cắt
bằng dao. Nó tương tự về nhiều phương diện như kẽm nhưng có xu hướng tạo ra các
hợp chất phức tạp hơn.
Trạng thái ôxi hóa phổ biến nhất của cadimi là +2, nhưng có thể tìm thấy các hợp
chất mà nó có hóa trị +1.
Khoảng 3/4 cadimi sản xuất ra được sử dụng trong các loại pin (đặc biệt là pin
Ni-Cd) và phần lớn trong 1/4 còn lại sử dụng chủ yếu trong các chất màu, lớp sơn phủ,
các tấm mạ kim và làm chất ổn định cho plastic. Các sử dụng khác bao gồm:
• Trong một số hợp kim có điểm nóng chảy thấp.
• Trong các hợp kim làm vòng bi hay gối đỡ do có hệ số ma sát thấp và khả năng
chịu mỏi cao.

hệ sinh học, nhưng cadimi, mặc dù rất giống với kẽm về phương diện hóa học nói chung
dường như không thể thay thế cho kẽm trong các vai trò sinh học đó. Cadimi cũng có thể
can thiệp vào các quá trình sinh học có chứa magiê và canxi theo cách thức tương tự.
Hít thở phải bụi có chứa cadimi nhanh chóng dẫn đến các vấn đề đối với hệ hô
hấp và thận, có thể dẫn đến từ vong (thông thường là do hỏng thận). Nuốt phải một
lượng nhỏ cadimi có thể phát sinh ngộ độc tức thì và tổn thương gan và thận. Các hợp
chất chứa cadimi cũng là các chất gây ung thư. Ngộ độc cadimi là nguyên nhân của bệnh
itai-itai, tức "đau đau" trong tiếng Nhật. Ngoài tổn thương thận, người bệnh còn chịu các
chứng loãng xương và nhuyễn xương.
Khi làm việc với cadimi, một điều quan trọng là phải sử dụng tủ chống khói trong
các phòng thí nghiệm để bảo vệ, chống lại các khói nguy hiểm. Khi sử dụng các que hàn
bạc (có chứa cadimi) cần phải rất cẩn thận. Các vấn đề ngộ độc nghiêm trọng có thể sinh
ra từ phơi nhiễm lâu dài cadimi từ các bể mạ điện bằng cadimi.
4.2. Trình bày sự hiểu biết về địa điểm nghiên cứu:
I

9


- Vị trí địa lý, địa hình;
Bản Thi là một xã thuộc huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam.
Xã Bản Thi có diện tích 64,7 km², dân số năm 1999 là 1796 người,[1] mật độ dân
số đạt 28 người/km².
Xã có vị trí:
+ Bắc giáp xã Sơn Phú (Na Hang, Tuyên Quang), xã Xuân Lạc.
+ Đông giáp xã Đồng Lạc, xã Quảng Bạch, xã Ngọc Phái.
+ Nam giáp xã Yên Thượng, xã Yên Thịnh.
+ Tây giáp xã Yên Thịnh, xã Thanh Tương (Na Hang, Tuyên Quang).
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội;
- Khí hậu, thủy văn, đất đai, thổ nhưỡng;

Vỏ ốc là một ống rỗng dài chứa cơ thể ốc, cuộn vòng quanh một trục tạo nên các
vòng xoắn. Vỏ ốc có thể lớn, trung bình hay nhỏ. Hình dáng vỏ rất đa dạng có thể là
hình cầu, hình nón, dạng xoắn, hình trụ, dạng con quay dạng quay dạng xoắn dài, dạng
cuộn trong,... Vỏ có thể dày hay mỏng, chắc chắn hay không trong suốt hay mờ đục. Vỏ
có màu sắc rất đa dạng, mỗi loài, thậm chí mỗi cá thể trong loài có màu sắc khác nhau.
Màu sắc trên vỏ ốc cạn thường được trang trí ở hầu hết theo kiểu các dãy băng xoắn màu
hẹp hay rộng hay có sọc. Vỏ có thể không có trang trí màu gọi là không màu. Vỏ có thể
đục hay mờ và bóng láng hay xỉn. Dạng trong suốt như một dạng kết hợp giữa mờ và
bóng láng giống như mảnh thủy tinh. Màu sắc cùng với các hoa văn gặp ở hầu hết các
loài ốc cạn có thể đặc trưng cho các taxa bậc giống hay phân giống. Trong cùng một
loài, vẫn có sự sai khác đáng kể về màu sắc và hoa văn trên vỏ ốc, nguyên nhân có thể
do môi trường sống, yếu tố mùa trong năm và đáng chú ý là giai đoạn còn non có nhiều
thay đổi so với trưởng thành (Thái Trần Bái, 2004; Đỗ Văn Nhượng và Ngô Thị Minh,
2011; Đặng Ngọc Thanh, 2008).
Vỏ thường xoắn hình hoặc xoắn trong một mặt phẳng, có khi có nắp vỏ (vẩy),
hoặc không có nắp vỏ. Vỏ có thể bị tiêu giảm ở nhiều mức độ: Vỏ không chứa đủ phần
thân (giống Carinaria), vỏ bé và một phần bị vạt áo phủ (giống Aplysia), vạt áo phủ kín
vỏ bé ở trong (giống Aplysia, sên trần Limax), vỏ tiêu giảm chỉ còn vụn đá vôi rải rác
(sên trần Arion) hoặc mất hoàn toàn dấu vết của vỏ (Thái Trần Bái, 2004; Đỗ Huy Bích
và cộng sự, 2004).

I

11


Cấu tạo ngoài của vỏ ốc cạn
Thông thường vỏ cuộn có thể được mô tả như sau: Dạng chóp dài (elongate tapering) có phía bên vuốt thon rộng cho tới đỉnh. Dạng gần trụ (subcylindric) gần như
dạng cylindric nhưng cạnh bên không song song. Dạng hình trụ (cynlindric) có hình trụ,
các rãnh xoắn gần như vuông góc với cạnh bên và có đỉnh vỏ dày. Dạng nón ôvan (conic

• Miệng vỏ
Miệng vỏ là nơi vỏ ốc thông với bên ngoài. ở vùng miệng vỏ có thể phân biệt bờ
trục (bờ trong hay bờ ngoài) và vành miệng ngoài (bờ ngoài hay bờ trên). Có thể phân
biệt góc trên và góc dưới lỗ miệng vỏ. Hình dạng lỗ nguyệt thay đổi; có thể xiên, bầu
dục, hình thoi, hình thang, hình ovan, hình bá nguyệt, hình quả lê,.. Bờ viền của miệng
là môi, được chia thành bốn khu vực: bên ngoài môi, gốc môi (basa lip), trụ môi
(columellar lip) và môi trong vách (parietal lip). Trong hầu hết các vỏ, môi trong vách
không phân biệt, được tách rời hay nối liền đi trước vòng xoắn và chỉ với một lớp mỏng
có thể chai. Phía ngoài và gốc môi trong đặc thù có thể dày, loe ra hay cuộn lại. Miệng
có thể một hay nhiều hơn các mấu chìa ra gọi là răng, tên của nó có thể tùy theo vị trí
của chúng. Gờ vành miệng ngoài có thể kiên tục hay ngắt quãng ở bờ trụ. Lỗ miệng có
nắp miệng hay không (Nguyễn Thị Nhàn, 2011; Đỗ Văn Nhượng và Ngô Thị Minh,
2011).
• Trụ ốc và lỗ rốn
Trụ ốc là do các vòng xoắn chập lại với nhau tạo nên. Trụ ốc có thể rỗng và mở ra
ngoài gần miệng tạo thành lỗ rốn, có khi trụ ốc lại đặc không tạo lỗ rốn. Lỗ rốn có thể
rộng hay hẹp, có thể nông hay sâu. Trong phân loại và nhận dạng, có thể phân biệt các
dạng lỗ rốn: dạng đóng, dạng viết lõm. Ngoài tỷ lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều
rộng vỏ cũng là đặc điểm rất có giá trị chẩn loại. Lỗ rốn được hình thành do trụ ốc rỗng
và mở ra ngoài gần miệng vỏ, có khi trụ ốc không rỗng vì thế vỏ không có lỗ rốn. Trong
định loại và nhận dạng, có thể phân biệt 3 dạng lỗ rốn: dạng đóng, dạng vết lõm và dạng
mở (rộng hoặc hẹp). Ngoài ra, tỷ lệ giữa kích thước lỗ rốn so với chiều rộng vỏ là đặc
điểm rất có giá trị chẩn loại.

Hình dạng các kiểu lỗ rốn
Đỗ Văn Nhượng và Ngô Thị Minh (2011)
I

13


cảnh tự nhiên và nhân tác có sự khác nhau rõ rệt. Sự phát tán của ốc cạn thường mang
tính chủ động, chúng di chuyển và mở rộng khu vực sống và tìm môi trường thích hợp
để sinh sống. Trong tự nhiên, các loài ốc cạn thường hoạt động mạnh vào ban đêm.
I

14


- Hàm lượng, ngưỡng độc của Kẽm, Cadimi trong đất.
- Mối quan hệ giữa hàm lượng Kẽm, Cadimi trong đất với ĐDSH thân mềm chân
bụng.
CHƯƠNG II. Quy trình quan trắc, phân tích mối quan hệ đa dạng sinh học ốc cạn với
hàm lượng kẽm, cadimi trong đất
Để giải quyết các nội dung nghiên cứu của luận văn, cần sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
- Xác định địa điểm và vị trí quan trắc
+ Tiến hành khảo sát hiện trường trước đó; các vị trí quan trắc thường ở vị trí
trung tâm và xung quanh vùng biên;
+ Vị trí quan trắc môi trường đất được lựa chọn theo nguyên tắc đại diện (địa
hình, nhóm đất, loại hình sử dụng đất…) và phải đảm bảo tính dài hạn của vị trí quan
trắc;
+ Vị trí quan trắc môi trường đất được chọn ở nơi đất chịu tác động chính như:
vùng đất có nguy cơ ô nhiễm tổng hợp; vùng đất gần khu vực khai thác khoáng sản..
Dự kiến lấy 25 mẫu đất và 25 vị trí lấy mẫu ốc cạn trên địa phận xã Bản Thi,
huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.
- Xác định các thông số quan trắc môi trường đất:
* Thông số vật lý
+ Thành phần cơ giới;
+ Kết cấu đất (đoàn lạp bền trong nước);
+ Các đặc trưng về độ ẩm (sức hút ẩm tối đa, độ ẩm cây héo);

e) Chuẩn bị các phương tiện phục vụ hoạt động lấy mẫu và vận chuyển mẫu;
g) Chuẩn bị các thiết bị bảo hộ, bảo đảm an toàn lao động;
h) Chuẩn bị kinh phí và nhân lực quan trắc;
i) Chuẩn bị các tài liệu, biểu mẫu có liên quan khác.
- Lấy mẫu:
a) Mẫu ốc: Mẫu định lượng được thu trong các ô tiêu chuẩn 1m2 để xác định mật
độ cá thể ốc cạn.
b) Mẫu đất: Thu mẫu đất ngay tại các ô thu mẫu ốc cạn, theo TCVN 5297: 1995.
Sử dụng khoan lấy mẫu đất, sâu 10 cm, cho vào túi nilon có ghi nhãn mang về phân tích,
ví dụ mẫu đất được thu tại điểm 1 ký hiệu là BT1 (Bản Thi 1).
- Phương pháp bảo quản và vận chuyển mẫu đất
Mẫu đất được bảo quản trong túi nilon sạch, sau đó buộc chặt bằng dây cao su,
xếp trong thùng chứa mẫu, vận chuyển về phòng thí nghiệm bằng các phương tiện phù
hợp.
- Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm
+ Phương pháp xử lý mẫu: Đối với mẫu vỏ ốc được rửa sạch, phơi hoặc sấy và
bảo quản khô trong các túi nylon hoặc hộp nhựa đựng mẫu.

I

16


Đối với mẫu ốc cạn còn sống bao gồm cả sên trần và ốc trên cạn được ngâm vào
nước trong một đêm (khoảng 12-24 giờ) để cho ốc chết từ từ, duỗi hết các phầu đầu,
chân và các tua cảm giác, sau đó tiến hành định hình và bảo quản trong dung dịch cồn
900.
+ Phương pháp phân tích và định loại: Dựa vào đặc điểm hình thái ngoài của vỏ,
theo mô tả của các tác giả như Bavay và Dautzenberg (1901), Crosse và Fischer (1864),
Fischer và Dautzenberg (1891), Poppe và Tagaro (2006), Schileyko (2011)...


nhựa,


túi

nilon

hóa
cỏ

chất
mép

bấm)

-Khung mẫu 50x50cm, dây nhựa, sàng rây mẫu các loại có kích thước thay đổi
từ 1mm đến 10mm (1; 5 và 10mm)
+Xẻng xúc đất, kẹp gắp, thước kẹp đo kích thước
+Nhãn, bút lông dầu, bút chì, bản đồ của khu vực lấy mẫu
+Máy định vị (GPS)
+Kính lúp cầm tay, kính lúp để bàn

I

17


b. Thu mẫu: chọn 5 mẫu thuộc 5 địa hình khác nhau thuộc xã Thượng Quan
Lấy mẫu đất theo TCVN 5297: 1995.

- Cho cốc đựng đất vào tủ sấy ở nhiệt độ 105°C đến khối lượng không đổi.
- Lấy cốc đựng mẫu để vào bình hút ẩm (ít nhất 45 phút). Xác định khối lượng
(m2).
Tính kết quả
K= m1-m0 / m2-m0
m0: khối lượng cốc.
m1: khối lượng cốc và khối lượng đất khô không khí.
m2: khối lượng cốc và khối lượng đất khô kiệt.
❖ Phân tích mẫu đất, xác định hàm lượng kim loại theo EPA- 3050b
Dụng cụ
- Cân phân tích.
- Bếp đun.
- Giấy lọc.
Các dụng cụ thủy tinh. Hóachất
-Dung dịch HN03.
-Dung dịch H2O2 30%.
Quy trình tiến hành
- Cân chính xác 1g mẫu đất khô vào cốc chịu nhiệt.
-Thêm 10ml HN03 1:1 trộn đều và đun mẫu ở nhiệt độ 950C trong 10 - 15 phút
(chú ý không làm mẫu bắn ra ngoài).
- Để nguội mẫu, thêm tiếp 5ml HN03 đặc, đun đến gần cạn. Lặp lại quá trình này
cho đến khi không còn khí màu nâu thoát ra, đun tiếp cho đến khi dung dịch gần cạn
(
Hàm

khô kiệt lượng kẽm
(K)

mg/kg đất
khô

Giới hạn

Giới hạn

Hàm

hàm lượng

lượng

kẽm QCVN

cadimi

hàm lượng

03:2015/BTN mg/kg đất
MT

Đ1
Đ2
Đ3


20


b. Thu mẫu ốc định lượng: lấy mẫu ốc trùng với địa điểm lấy mẫu đất, 5 địa điểm
thuộc 5 địa hình khác nhau.
Mẫu thu định lượng giúp xác định mật độ cá thể ốc cạn trong 1m2, phân bố. Mẫu
định lượng được thu lượm trong một đơn vị diện tích mặt đất có mẫu, diện tích thường
được sử dụng là 1m2.
Thiết lập ô mẫu lớn 10x10m.

Hình…. Thiết lập ô mẫu chính và các ô mẫu nhỏ
Thiết lập 5 ô mẫu nhỏ (sub-quadrat) trong ô mẫu: đặt 5 ô mẫu 1m x 1m tại 4 góc
và 1 tại trung tâm (theo hình). Mỗi khu vực thiết lập 3 ô mẫu lớn.
Thu các mẫu ốc quan sát được trong ô mẫu nhỏ (sub-quadrat): trên cây, tầng thảm
mục. Thu mẫu mùn đất trong ô mẫu nhỏ (1x5x50cm) đựng vào túi nhựa plastic để tìm ốc
nhỏ. Mẫu đất sẽ được rây qua mắc lưới 1x1mm để thu lấy mẫu mà mắt thường không thể
thấy được.
c. Xử lý mẫu ốc
Mẫu sống ngâm trong nước 12-24 giờ để mẫu vật duỗi ở tư thế tự nhiên trước khi
được định hình, bảo quản trong cồn 70°. Mẫu chỉ còn vỏ được giữ khô trong túi nilon,
trong hộp nhưa. Tất cả các mẫu được ghi đủ các thông tin ngày tháng, địa điểm thu mẫu,
người thu mẫu.
d. Phân tích mẫu, xác định tên toài
Hầu hết các loài ốc cạn có thể định loại dựa vào các đặc điểm hình thái của vỏ
như: Kích thước, hình dạng, màu sắc, số vòng xoắn, rãnh xoắn, đỉnh vỏ, miệng vỏ...
Được thể hiện qua các số đo hay tỷ lệ của chúng. Ngoài ra, một vài đặc điểm có giá trị
tham khảo để định loại như sự phân bố, các khía, hoa văn trên vỏ óc.
Các mẫu ốc được định loại dựa trên nhiều tài liệu khác nhau, từ khóa định loại


(ni/Ʃn) x 100
+ Mật độ: Là số lượng cá thể trong một đơn vị diện tích (Số cá thể của loài/m2):
• Mật độ của 1 loài: v (số cá thể của loài thứ i/m2) = Ʃni/ƩS
• Mật độ của các loài: V (số cá thể/m2) = Ʃn/ƩS
Trong đỏ:
ni: Là số lượng cá thể loài thứ i trong ô nghiên cứu.
Ʃni: Là tổng số cá thể loài i trong các ô nghiên cứu.
Ʃn: Là tổng số cá thể trong các ô nghiên cứu.
ƩS: Là tổng diện tích các ô nghiên cứu.
+ Tần số xuất hiện (độ thường gặp): Là số lần xuất hiện của loài trong tổng số
lần quan sát, hay tổng số ô mẫu nghiên cứu, được tính bằng công thức của Sharma
(2003)
C’=p/P*100%
Trong đó: C’: Là tần số xuất hiện (độ thường gặp).
p: Là số lượng các địa điểm thu mẫu có loài xuất hiện.
P: Là tổng số các địa điểm thu mẫu khi nghiên cứu.
Đánh giá tần số xuất hiện theo giá trị của C’: Loài thường gặp C’ > 50%, loài ít
gặp
25% < C’< 50%, loài ngẫu nhiên C’ < 25%.
+ Độ đa dạng của loài (D'): Là chỉ mức đa dạng của loài sinh vật trong khu vực
khảo sát. Còn được gọi là chỉ số mức độ chiếm ưu thế Cd (Concentration of
Dominance). Được tính theo chỉ số đa dạng Simpson (Simpson's Index of Diversity).
D' = 1- Ʃpi2
Trong đó: (D') chỉ số đa dạng Simpson. D' trong khoảng từ 0 - 1. D’ có giá trị
càng lớn thì càng đa dạng.
pi: Tỉ lệ loài i trên tổng số các cá thể (pi =(ni/N).
+ Chỉ số phong phú loài Margalef (d)
d = (S-l)/Log(N) hoặc d = S/√N
Chỉ số này là thước đo số lượng các loài hiện nay. Chỉ số này được sử dụng để
xác định tính đa dạng hay độ phong phú về loài.

Ngược lại phân tích tương quan, cung cấp số đo về mức độ liên hệ giữa các biến hay diễn dạt
sự liên hệ trong dữ liệu được nghiên cứu.
Các bước phân tích tương quan và lập phương trình hồi qui như sau:
-Bước 1: Tổng hợp bảng kết quả phân tích các biến (biến độc lập và các biến
phụ thuộc)
- Bước 2: Lập biểu đồ, đồ thị thể hiện mối quan hệ của từng biến phụ thuộc (các chỉ số đa
dạng sinh học) với biến độc lập (hàm lượng kẽm, cadimi trong đất)
- Bước 3: Xác định dạng phương trình hồi qui cơ bản phù hợp thể hiện mối quan hệ
của từng biến phụ thuộc (các chỉ số đa dạng sinh học) với biến độc lập (hàm lượng kẽm,
cadimi trong đất).
- Bước 4: Xác định các tham số của phương trình hồi qui (bằng các phần mềm).
a. Tổng hợp kết quả phân tích hàm lượng kẽm, cadimi và đa dạng sinh học ốc cạn
Từ kết quả phân tích mẫu đất và đa dạng sinh học, số liệu sẽ dược thể hiện theo bảng
sau:

Bảng… Tổng hợp chỉ số ĐDSH và hàm lượng kẽm, cadimi
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status